—Này các Tỷ-kheo, có bốn hạng thuyết trình này. Thế nào là bốn?
Có hạng thuyết trình, này các Tỷ-kheo, đi đến ngõ bí về nghĩa, không về văn; Có hạng thuyết trình, này các Tỷ-kheo, đi đến ngõ bí về văn, nhưng không về nghĩa; Có hạng thuyết trình, này các Tỷ-kheo, đi đến ngõ bí về nghĩa cũng như về văn; Có hạng thuyết trình, này các Tỷ-kheo, không đi đến ngõ bí về nghĩa cũng như về văn.
Này các Tỷ-kheo, có bốn hạng thuyết trình này.
Không có trường hợp nào, này các Tỷ-kheo, không có cơ hội này, là một người thành tựu bốn vô ngại giải, lại đi đến ngõ bí về nghĩa cũng như về văn.
“Cattārome, bhikkhave, vādī.
Katame cattāro?
Atthi, bhikkhave, vādī atthato pariyādānaṁ gacchati, no byañjanato;
atthi, bhikkhave, vādī byañjanato pariyādānaṁ gacchati, no atthato;
atthi, bhikkhave, vādī atthato ca byañjanato ca pariyādānaṁ gacchati;
atthi, bhikkhave, vādī nevatthato no byañjanato pariyādānaṁ gacchati.
Ime kho, bhikkhave, cattāro vādī.
Aṭṭhānametaṁ, bhikkhave, anavakāso yaṁ catūhi paṭisambhidāhi samannāgato atthato vā byañjanato vā pariyādānaṁ gaccheyyā”ti.
Dasamaṁ.
Puggalavaggo catuttho.
Tassuddānaṁ
Saṁyojanaṁ paṭibhāno,
ugghaṭitaññu uṭṭhānaṁ;
Sāvajjo dve ca sīlāni,
nikaṭṭha dhamma vādī cāti.
“Mendicants, there are these four speakers.
What four?
There’s a speaker who runs out of meaningful things to say, but not of ways of phrasing things.
There’s a speaker who runs out of ways of phrasing things, but not of meaningful things to say.
There’s a speaker who runs out of both meaningful things to say, and ways of phrasing things.
There’s a speaker who never runs out of meaningful things to say, or ways of phrasing things.
These are the four speakers.
It is impossible, it cannot happen that someone accomplished in the four kinds of textual analysis will ever run out of meaningful things to say, or ways of phrasing things.”
—Này các Tỷ-kheo, có bốn hạng thuyết trình này. Thế nào là bốn?
Có hạng thuyết trình, này các Tỷ-kheo, đi đến ngõ bí về nghĩa, không về văn; Có hạng thuyết trình, này các Tỷ-kheo, đi đến ngõ bí về văn, nhưng không về nghĩa; Có hạng thuyết trình, này các Tỷ-kheo, đi đến ngõ bí về nghĩa cũng như về văn; Có hạng thuyết trình, này các Tỷ-kheo, không đi đến ngõ bí về nghĩa cũng như về văn.
Này các Tỷ-kheo, có bốn hạng thuyết trình này.
Không có trường hợp nào, này các Tỷ-kheo, không có cơ hội này, là một người thành tựu bốn vô ngại giải, lại đi đến ngõ bí về nghĩa cũng như về văn.
“Cattārome, bhikkhave, vādī.
Katame cattāro?
Atthi, bhikkhave, vādī atthato pariyādānaṁ gacchati, no byañjanato;
atthi, bhikkhave, vādī byañjanato pariyādānaṁ gacchati, no atthato;
atthi, bhikkhave, vādī atthato ca byañjanato ca pariyādānaṁ gacchati;
atthi, bhikkhave, vādī nevatthato no byañjanato pariyādānaṁ gacchati.
Ime kho, bhikkhave, cattāro vādī.
Aṭṭhānametaṁ, bhikkhave, anavakāso yaṁ catūhi paṭisambhidāhi samannāgato atthato vā byañjanato vā pariyādānaṁ gaccheyyā”ti.
Dasamaṁ.
Puggalavaggo catuttho.
Tassuddānaṁ
Saṁyojanaṁ paṭibhāno,
ugghaṭitaññu uṭṭhānaṁ;
Sāvajjo dve ca sīlāni,
nikaṭṭha dhamma vādī cāti.