TTC 1—Có năm chướng ngại cho mưa này, các người đoán tướng không biết được, ở đây, mắt của những người đoán tướng không thể kham nhẫn. Thế nào là năm?
TTC 2Trên hư không, này các Tỷ-kheo, hỏa giới phẫn nộ, do vậy các mây đã khởi lên bị tán loạn. Này các Tỷ-kheo, đây là chướng ngại thứ nhất cho mưa, các người đoán tướng không biết được, ở đây mắt của những người đoán tướng không thể kham nhẫn.
TTC 3Lại nữa, này các Tỷ-kheo, trên hư không, phong giới phẫn nộ, do vậy các mây đã khởi lên bị tán loạn. Này các Tỷ-kheo, đây là chướng ngại thứ hai cho mưa, các người đoán tướng không biết được, mắt của những người đoán tướng không thể kham nhẫn.
TTC 4Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Ràhu, vua các loài A-tu-la dùng tay thây lấy nước rồi đổ xuống biển lớn. Này các Tỷ-kheo, đây là chướng ngại thứ ba cho mưa, các người đoán tướng không biết được, mắt của những người đoán tướng không thể kham nhẫn.
TTC 5Lại nữa, này các Tỷ-kheo, chư Thiên của các loại mây đem mưa trở thành biếng nhác. Ðây là chướng ngại thứ tư cho mưa, các người đoán tướng không biết được, mắt của những người đoán tướng không thể kham nhẫn.
TTC 6Lại nữa, này các Tỷ-kheo, khi loài Người trở thành phi pháp, này các Tỷ-kheo, đây là chướng ngại thứ năm cho mưa, các người đoán tướng không biết được, mắt của những người đoán tướng không thể kham nhẫn.
Này các Tỷ-kheo, có năm chướng ngại cho mưa này, các người đoán tướng không biết được, ở đây mắt của những người đoán tướng không thể kham nhẫn.
“Pañcime, bhikkhave, vassassa antarāyā, yaṁ nemittā na jānanti, yattha nemittānaṁ cakkhu na kamati.
Katame pañca?
Upari, bhikkhave, ākāse tejodhātu pakuppati.
Tena uppannā meghā paṭivigacchanti.
Ayaṁ, bhikkhave, paṭhamo vassassa antarāyo, yaṁ nemittā na jānanti, yattha nemittānaṁ cakkhu na kamati.
Puna caparaṁ, bhikkhave, upari ākāse vāyodhātu pakuppati.
Tena uppannā meghā paṭivigacchanti.
Ayaṁ, bhikkhave, dutiyo vassassa antarāyo, yaṁ nemittā na jānanti, yattha nemittānaṁ cakkhu na kamati.
Puna caparaṁ, bhikkhave, rāhu asurindo pāṇinā udakaṁ sampaṭicchitvā mahāsamudde chaḍḍeti.
Ayaṁ, bhikkhave, tatiyo vassassa antarāyo, yaṁ nemittā na jānanti, yattha nemittānaṁ cakkhu na kamati.
Puna caparaṁ, bhikkhave, vassavalāhakā devā pamattā honti.
Ayaṁ, bhikkhave, catuttho vassassa antarāyo, yaṁ nemittā na jānanti, yattha nemittānaṁ cakkhu na kamati.
Puna caparaṁ, bhikkhave, manussā adhammikā honti.
Ayaṁ, bhikkhave, pañcamo vassassa antarāyo, yaṁ nemittā na jānanti, yattha nemittānaṁ cakkhu na kamati.
Ime kho, bhikkhave, pañca vassassa antarāyā, yaṁ nemittā na jānanti, yattha nemittānaṁ cakkhu na kamatī”ti.
Sattamaṁ.
“Mendicants, there are these five obstacles to rain, which the forecasters don’t know, and which their vision does not traverse.
What five?
In the upper atmosphere the fire element flares up,
which disperses the clouds.
This is the first obstacle to rain, which the forecasters don’t know, and which their vision does not traverse.
Furthermore, in the upper atmosphere the air element flares up,
which disperses the clouds.
This is the second obstacle to rain …
Furthermore, Rāhu, lord of titans, receives water in his hand and discards it in the ocean.
This is the third obstacle to rain …
Furthermore, the gods of the rain clouds become negligent.
This is the fourth obstacle to rain …
Furthermore, humans become unprincipled.
This is the fifth obstacle to rain, which the forecasters don’t know, and which their vision does not traverse.
These are the five obstacles to rain, which the forecasters don’t know, and which their vision does not traverse.”
TTC 1—Có năm chướng ngại cho mưa này, các người đoán tướng không biết được, ở đây, mắt của những người đoán tướng không thể kham nhẫn. Thế nào là năm?
TTC 2Trên hư không, này các Tỷ-kheo, hỏa giới phẫn nộ, do vậy các mây đã khởi lên bị tán loạn. Này các Tỷ-kheo, đây là chướng ngại thứ nhất cho mưa, các người đoán tướng không biết được, ở đây mắt của những người đoán tướng không thể kham nhẫn.
TTC 3Lại nữa, này các Tỷ-kheo, trên hư không, phong giới phẫn nộ, do vậy các mây đã khởi lên bị tán loạn. Này các Tỷ-kheo, đây là chướng ngại thứ hai cho mưa, các người đoán tướng không biết được, mắt của những người đoán tướng không thể kham nhẫn.
TTC 4Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Ràhu, vua các loài A-tu-la dùng tay thây lấy nước rồi đổ xuống biển lớn. Này các Tỷ-kheo, đây là chướng ngại thứ ba cho mưa, các người đoán tướng không biết được, mắt của những người đoán tướng không thể kham nhẫn.
TTC 5Lại nữa, này các Tỷ-kheo, chư Thiên của các loại mây đem mưa trở thành biếng nhác. Ðây là chướng ngại thứ tư cho mưa, các người đoán tướng không biết được, mắt của những người đoán tướng không thể kham nhẫn.
TTC 6Lại nữa, này các Tỷ-kheo, khi loài Người trở thành phi pháp, này các Tỷ-kheo, đây là chướng ngại thứ năm cho mưa, các người đoán tướng không biết được, mắt của những người đoán tướng không thể kham nhẫn.
Này các Tỷ-kheo, có năm chướng ngại cho mưa này, các người đoán tướng không biết được, ở đây mắt của những người đoán tướng không thể kham nhẫn.
“Pañcime, bhikkhave, vassassa antarāyā, yaṁ nemittā na jānanti, yattha nemittānaṁ cakkhu na kamati.
Katame pañca?
Upari, bhikkhave, ākāse tejodhātu pakuppati.
Tena uppannā meghā paṭivigacchanti.
Ayaṁ, bhikkhave, paṭhamo vassassa antarāyo, yaṁ nemittā na jānanti, yattha nemittānaṁ cakkhu na kamati.
Puna caparaṁ, bhikkhave, upari ākāse vāyodhātu pakuppati.
Tena uppannā meghā paṭivigacchanti.
Ayaṁ, bhikkhave, dutiyo vassassa antarāyo, yaṁ nemittā na jānanti, yattha nemittānaṁ cakkhu na kamati.
Puna caparaṁ, bhikkhave, rāhu asurindo pāṇinā udakaṁ sampaṭicchitvā mahāsamudde chaḍḍeti.
Ayaṁ, bhikkhave, tatiyo vassassa antarāyo, yaṁ nemittā na jānanti, yattha nemittānaṁ cakkhu na kamati.
Puna caparaṁ, bhikkhave, vassavalāhakā devā pamattā honti.
Ayaṁ, bhikkhave, catuttho vassassa antarāyo, yaṁ nemittā na jānanti, yattha nemittānaṁ cakkhu na kamati.
Puna caparaṁ, bhikkhave, manussā adhammikā honti.
Ayaṁ, bhikkhave, pañcamo vassassa antarāyo, yaṁ nemittā na jānanti, yattha nemittānaṁ cakkhu na kamati.
Ime kho, bhikkhave, pañca vassassa antarāyā, yaṁ nemittā na jānanti, yattha nemittānaṁ cakkhu na kamatī”ti.
Sattamaṁ.