TTC 1Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Pubbàràma trong lâu đài của mẹ Migàrà. Lúc bấy giờ, Thế Tôn nhân ngày lễ trai giới, đang ngồi có chúng Tỷ-kheo vây quanh. Sau khi nhìn quanh chúng Tỷ-kheo đang im lặng, im lặng, rồi Thế Tôn bảo các Tỷ-kheo:
—Không nói lời phù phiếm, này các Tỷ-kheo, là hội chúng này; không nói lời vô ích, này các Tỷ-kheo, là hội chúng này, thanh tịnh, an lập trên căn bản. Chúng Tỷ-kheo này như vậy, này các Tỷ-kheo, hội chúng này như vậy, này các Tỷ-kheo; hội chúng như vậy khó tìm được ở đời! Chúng Tỷ-kheo này như vậy, này các Tỷ-kheo, hội chúng như vậy, đáng được tôn trọng, đáng được cung kính, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là ruộng phước vô thượng ở đời. Chúng Tỷ-kheo này như vậy, này các Tỷ-kheo, hội chúng này như vậy, này các Tỷ-kheo, hội chúng này như vậy dầu cho ít, được lợi nhiều, còn cho nhiều, lại được lợi nhiều hơn nữa. Chúng Tỷ-kheo này như vậy, này các Tỷ-kheo, hội chúng này như vậy, này các Tỷ-kheo! Hội chúng này như vậy, nếu phải đi một do tuần để được yết kiến cũng nên đi, dầu có phải mang theo trên vai túi đựng đồ ăn. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là chúng Tỷ-kheo này.
TTC 2Có những Tỷ-kheo, này các Tỷ-kheo, trong chúng Tỷ-kheo này, sống đạt được địa vị chư Thiên. Có những Tỷ-kheo, này các Tỷ-kheo, trong chúng Tỷ-kheo này, sống đạt được địa vị Phạm Thiên. Có những Tỷ-kheo, này các Tỷ-kheo, trong chúng Tỷ-kheo này, sống đạt được địa vị Bất động. Có những Tỷ-kheo, này các Tỷ-kheo, trong chúng Tỷ-kheo này, sống đạt được Thánh vị.
TTC 3Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo sống đạt được địa vị chư Thiên?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ly dục … chứng và trú Sơ Thiền … Thiền thứ hai … Thiền thứ ba … chứng và trú Thiền thứ tư và an trú. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo sống đạt được địa vị chư Thiên.
TTC 4Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo sống đạt được địa vị Phạm Thiên?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo với tâm cùng khởi với từ—biến mãn một phương và an trú … với tâm cùng khởi với bi … với tâm cùng khởi với hỷ … với tâm cùng khởi với xả, biến mãn một phương và an trú. Cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy, cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên thế giới, vị ấy biến mãn với tâm cùng khởi với xả, quảng đại, đại hành, vô biên, không hận, không sân. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo sống đạt được địa vị Phạm Thiên.
TTC 5Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo sống đạt được địa vị Bất động?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo sau khi vượt qua các sắc tưởng một cách hoàn toàn, sau khi chấm dứt các tưởng chướng ngại, sau khi không tác ý các tưởng sai biệt, nghĩ rằng: “Hư không là vô biên” chứng đạt và an trú “Không vô biên xứ”. Sau khi vượt qua Không vô biên xứ một cách hoàn toàn, nghĩ rằng: “Thức là vô biên”, chứng đạt và an trú “Thức vô biên xứ”. Sau khi vượt qua Thức vô biên xứ một cách hoàn toàn, nghĩ rằng: “Không có vật gì” chứng đạt và an trú Vô sở hữu xứ. Sau khi vượt qua Vô sở hữu xứ một cách hoàn toàn, chứng đạt và an trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo khéo chứng đạt Bất động.
TTC 6—Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo chứng đạt địa vị bậc Thánh?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như thật quán tri: “Ðây là khổ” … “Ðây là khổ tập” … “Ðây là Khổ diệt” … như thật quán tri: “Ðây là con Ðường đưa đến khổ diệt”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo đạt được địa vị bậc Thánh.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati pubbārāme migāramātupāsāde.
Tena kho pana samayena bhagavā tadahuposathe bhikkhusaṅghaparivuto nisinno hoti.
Atha kho bhagavā tuṇhībhūtaṁ tuṇhībhūtaṁ bhikkhusaṅghaṁ anuviloketvā bhikkhū āmantesi:
“Apalāpāyaṁ, bhikkhave, parisā nippalāpāyaṁ, bhikkhave, parisā suddhā sāre patiṭṭhitā.
Tathārūpo ayaṁ, bhikkhave, bhikkhusaṅgho, tathārūpāyaṁ, bhikkhave, parisā.
Yathārūpā parisā dullabhā dassanāyapi lokasmiṁ, tathārūpo ayaṁ, bhikkhave, bhikkhusaṅgho, tathārūpāyaṁ, bhikkhave, parisā.
Yathārūpā parisā āhuneyyā pāhuneyyā dakkhiṇeyyā añjalikaraṇīyā anuttaraṁ puññakkhettaṁ lokassa, tathārūpo ayaṁ, bhikkhave, bhikkhusaṅgho, tathārūpāyaṁ, bhikkhave, parisā.
Yathārūpāya parisāya appaṁ dinnaṁ bahu hoti bahu dinnaṁ bahutaraṁ, tathārūpo ayaṁ, bhikkhave, bhikkhusaṅgho, tathārūpāyaṁ, bhikkhave, parisā.
Yathārūpaṁ parisaṁ alaṁ yojanagaṇanānipi dassanāya gantuṁ api puṭosenāpi, tathārūpo ayaṁ, bhikkhave, bhikkhusaṅgho, tathārūpāyaṁ, bhikkhave, parisā.
Santi, bhikkhave, bhikkhū imasmiṁ bhikkhusaṅghe devappattā viharanti;
santi, bhikkhave, bhikkhū imasmiṁ bhikkhusaṅghe brahmappattā viharanti;
santi, bhikkhave, bhikkhū imasmiṁ bhikkhusaṅghe āneñjappattā viharanti;
santi, bhikkhave, bhikkhū imasmiṁ bhikkhusaṅghe ariyappattā viharanti.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu devappatto hoti?
Idha, bhikkhave, bhikkhu vivicceva kāmehi …pe… paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati;
vitakkavicārānaṁ vūpasamā …pe… dutiyaṁ jhānaṁ …pe… tatiyaṁ jhānaṁ …pe… catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu devappatto hoti.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu brahmappatto hoti?
Idha, bhikkhave, bhikkhu mettāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā viharati, tathā dutiyaṁ tathā tatiyaṁ tathā catutthaṁ. Iti uddhamadho tiriyaṁ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṁ lokaṁ mettāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyāpajjena pharitvā viharati.
Karuṇā …
muditā …
upekkhāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā viharati, tathā dutiyaṁ tathā tatiyaṁ tathā catutthaṁ. Iti uddhamadho tiriyaṁ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṁ lokaṁ upekkhāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyāpajjena pharitvā viharati.
Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu brahmappatto hoti.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu āneñjappatto hoti?
Idha, bhikkhave, bhikkhu sabbaso rūpasaññānaṁ samatikkamā paṭighasaññānaṁ atthaṅgamā nānattasaññānaṁ amanasikārā ‘ananto ākāso’ti ākāsānañcāyatanaṁ upasampajja viharati.
Sabbaso ākāsānañcāyatanaṁ samatikkamma ‘anantaṁ viññāṇan’ti viññāṇañcāyatanaṁ upasampajja viharati.
Sabbaso viññāṇañcāyatanaṁ samatikkamma ‘natthi kiñcī’ti ākiñcaññāyatanaṁ upasampajja viharati.
Sabbaso ākiñcaññāyatanaṁ samatikkamma nevasaññānāsaññāyatanaṁ upasampajja viharati.
Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu āneñjappatto hoti.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu ariyappatto hoti?
Idha, bhikkhave, bhikkhu ‘idaṁ dukkhan’ti yathābhūtaṁ pajānāti …pe… ‘ayaṁ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti yathābhūtaṁ pajānāti.
Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu ariyappatto hotī”ti.
Dasamaṁ.
Brāhmaṇavaggo catuttho.
Tassuddānaṁ
Yodhā pāṭibhogasutaṁ,
Abhayaṁ brāhmaṇasaccena pañcamaṁ;
Ummaggavassakāro,
Upako sacchikiriyā ca uposathoti.
At one time the Buddha was staying near Sāvatthī in the stilt longhouse of Migāra’s mother in the Eastern Monastery.
Now, at that time it was the sabbath, and the Buddha was sitting surrounded by the Saṅgha of monks.
Then the Buddha looked around the Saṅgha of mendicants, who were so very silent. He addressed them:
“This assembly has no chaff, mendicants, it is free of chaff, pure, and consolidated in the core.
Such is this Saṅgha of mendicants, such is this assembly!
An assembly such as this is rarely seen in the world.
An assembly such as this is worthy of offerings dedicated to the gods, worthy of hospitality, worthy of a religious donation, worthy of greeting with joined palms, and is the supreme field of merit for the world.
For an assembly such as this, giving little becomes much, while giving much becomes even more.
An assembly such as this is worth traveling many leagues to see, even if you have to carry your own provisions in a knapsack.
There are mendicants staying in this Saṅgha who have attained to the gods.
There are mendicants staying in this Saṅgha who have attained to divinity.
There are mendicants staying in this Saṅgha who have attained to the imperturbable.
There are mendicants staying in this Saṅgha who have attained to nobility.
And how has a mendicant attained to the gods?
It’s when a mendicant, quite secluded from sensual pleasures, secluded from unskillful qualities, enters and remains in the first absorption …
As the placing of the mind and keeping it connected are stilled, they enter and remain in the second absorption … third absorption … fourth absorption …
That’s how a mendicant has attained to the gods.
And how has a mendicant attained to divinity?
Firstly, a mendicant meditates spreading a heart full of love to one direction, and to the second, and to the third, and to the fourth. In the same way above, below, across, everywhere, all around, they spread a heart full of love to the whole world—abundant, expansive, limitless, free of enmity and ill will.
Furthermore, a mendicant meditates spreading a heart full of compassion …
rejoicing …
equanimity to one direction, and to the second, and to the third, and to the fourth. In the same way above, below, across, everywhere, all around, they spread a heart full of equanimity to the whole world—abundant, expansive, limitless, free of enmity and ill will.
That’s how a mendicant has attained to divinity.
And how has a mendicant attained to the imperturbable?
It’s when a mendicant—going totally beyond perceptions of form, with the disappearance of perceptions of impingement, not focusing on perceptions of diversity—aware that ‘space is infinite’, enters and remains in the dimension of infinite space.
Going totally beyond the dimension of infinite space, aware that ‘consciousness is infinite’, he enters and remains in the dimension of infinite consciousness.
Going totally beyond the dimension of infinite consciousness, aware that ‘there is nothing at all’, he enters and remains in the dimension of nothingness.
Going totally beyond the dimension of nothingness, he enters and remains in the dimension of neither perception nor non-perception.
That’s how a mendicant has attained to the imperturbable.
And how has a mendicant attained to nobility?
It’s when they truly understand: ‘This is suffering’ … ‘This is the origin of suffering’ … ‘This is the cessation of suffering’ … ‘This is the practice that leads to the cessation of suffering’.
That’s how a mendicant has attained to nobility.”
TTC 1Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Pubbàràma trong lâu đài của mẹ Migàrà. Lúc bấy giờ, Thế Tôn nhân ngày lễ trai giới, đang ngồi có chúng Tỷ-kheo vây quanh. Sau khi nhìn quanh chúng Tỷ-kheo đang im lặng, im lặng, rồi Thế Tôn bảo các Tỷ-kheo:
—Không nói lời phù phiếm, này các Tỷ-kheo, là hội chúng này; không nói lời vô ích, này các Tỷ-kheo, là hội chúng này, thanh tịnh, an lập trên căn bản. Chúng Tỷ-kheo này như vậy, này các Tỷ-kheo, hội chúng này như vậy, này các Tỷ-kheo; hội chúng như vậy khó tìm được ở đời! Chúng Tỷ-kheo này như vậy, này các Tỷ-kheo, hội chúng như vậy, đáng được tôn trọng, đáng được cung kính, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là ruộng phước vô thượng ở đời. Chúng Tỷ-kheo này như vậy, này các Tỷ-kheo, hội chúng này như vậy, này các Tỷ-kheo, hội chúng này như vậy dầu cho ít, được lợi nhiều, còn cho nhiều, lại được lợi nhiều hơn nữa. Chúng Tỷ-kheo này như vậy, này các Tỷ-kheo, hội chúng này như vậy, này các Tỷ-kheo! Hội chúng này như vậy, nếu phải đi một do tuần để được yết kiến cũng nên đi, dầu có phải mang theo trên vai túi đựng đồ ăn. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là chúng Tỷ-kheo này.
TTC 2Có những Tỷ-kheo, này các Tỷ-kheo, trong chúng Tỷ-kheo này, sống đạt được địa vị chư Thiên. Có những Tỷ-kheo, này các Tỷ-kheo, trong chúng Tỷ-kheo này, sống đạt được địa vị Phạm Thiên. Có những Tỷ-kheo, này các Tỷ-kheo, trong chúng Tỷ-kheo này, sống đạt được địa vị Bất động. Có những Tỷ-kheo, này các Tỷ-kheo, trong chúng Tỷ-kheo này, sống đạt được Thánh vị.
TTC 3Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo sống đạt được địa vị chư Thiên?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ly dục … chứng và trú Sơ Thiền … Thiền thứ hai … Thiền thứ ba … chứng và trú Thiền thứ tư và an trú. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo sống đạt được địa vị chư Thiên.
TTC 4Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo sống đạt được địa vị Phạm Thiên?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo với tâm cùng khởi với từ—biến mãn một phương và an trú … với tâm cùng khởi với bi … với tâm cùng khởi với hỷ … với tâm cùng khởi với xả, biến mãn một phương và an trú. Cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy, cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên thế giới, vị ấy biến mãn với tâm cùng khởi với xả, quảng đại, đại hành, vô biên, không hận, không sân. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo sống đạt được địa vị Phạm Thiên.
TTC 5Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo sống đạt được địa vị Bất động?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo sau khi vượt qua các sắc tưởng một cách hoàn toàn, sau khi chấm dứt các tưởng chướng ngại, sau khi không tác ý các tưởng sai biệt, nghĩ rằng: “Hư không là vô biên” chứng đạt và an trú “Không vô biên xứ”. Sau khi vượt qua Không vô biên xứ một cách hoàn toàn, nghĩ rằng: “Thức là vô biên”, chứng đạt và an trú “Thức vô biên xứ”. Sau khi vượt qua Thức vô biên xứ một cách hoàn toàn, nghĩ rằng: “Không có vật gì” chứng đạt và an trú Vô sở hữu xứ. Sau khi vượt qua Vô sở hữu xứ một cách hoàn toàn, chứng đạt và an trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo khéo chứng đạt Bất động.
TTC 6—Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo chứng đạt địa vị bậc Thánh?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như thật quán tri: “Ðây là khổ” … “Ðây là khổ tập” … “Ðây là Khổ diệt” … như thật quán tri: “Ðây là con Ðường đưa đến khổ diệt”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo đạt được địa vị bậc Thánh.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati pubbārāme migāramātupāsāde.
Tena kho pana samayena bhagavā tadahuposathe bhikkhusaṅghaparivuto nisinno hoti.
Atha kho bhagavā tuṇhībhūtaṁ tuṇhībhūtaṁ bhikkhusaṅghaṁ anuviloketvā bhikkhū āmantesi:
“Apalāpāyaṁ, bhikkhave, parisā nippalāpāyaṁ, bhikkhave, parisā suddhā sāre patiṭṭhitā.
Tathārūpo ayaṁ, bhikkhave, bhikkhusaṅgho, tathārūpāyaṁ, bhikkhave, parisā.
Yathārūpā parisā dullabhā dassanāyapi lokasmiṁ, tathārūpo ayaṁ, bhikkhave, bhikkhusaṅgho, tathārūpāyaṁ, bhikkhave, parisā.
Yathārūpā parisā āhuneyyā pāhuneyyā dakkhiṇeyyā añjalikaraṇīyā anuttaraṁ puññakkhettaṁ lokassa, tathārūpo ayaṁ, bhikkhave, bhikkhusaṅgho, tathārūpāyaṁ, bhikkhave, parisā.
Yathārūpāya parisāya appaṁ dinnaṁ bahu hoti bahu dinnaṁ bahutaraṁ, tathārūpo ayaṁ, bhikkhave, bhikkhusaṅgho, tathārūpāyaṁ, bhikkhave, parisā.
Yathārūpaṁ parisaṁ alaṁ yojanagaṇanānipi dassanāya gantuṁ api puṭosenāpi, tathārūpo ayaṁ, bhikkhave, bhikkhusaṅgho, tathārūpāyaṁ, bhikkhave, parisā.
Santi, bhikkhave, bhikkhū imasmiṁ bhikkhusaṅghe devappattā viharanti;
santi, bhikkhave, bhikkhū imasmiṁ bhikkhusaṅghe brahmappattā viharanti;
santi, bhikkhave, bhikkhū imasmiṁ bhikkhusaṅghe āneñjappattā viharanti;
santi, bhikkhave, bhikkhū imasmiṁ bhikkhusaṅghe ariyappattā viharanti.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu devappatto hoti?
Idha, bhikkhave, bhikkhu vivicceva kāmehi …pe… paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati;
vitakkavicārānaṁ vūpasamā …pe… dutiyaṁ jhānaṁ …pe… tatiyaṁ jhānaṁ …pe… catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu devappatto hoti.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu brahmappatto hoti?
Idha, bhikkhave, bhikkhu mettāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā viharati, tathā dutiyaṁ tathā tatiyaṁ tathā catutthaṁ. Iti uddhamadho tiriyaṁ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṁ lokaṁ mettāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyāpajjena pharitvā viharati.
Karuṇā …
muditā …
upekkhāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā viharati, tathā dutiyaṁ tathā tatiyaṁ tathā catutthaṁ. Iti uddhamadho tiriyaṁ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṁ lokaṁ upekkhāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyāpajjena pharitvā viharati.
Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu brahmappatto hoti.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu āneñjappatto hoti?
Idha, bhikkhave, bhikkhu sabbaso rūpasaññānaṁ samatikkamā paṭighasaññānaṁ atthaṅgamā nānattasaññānaṁ amanasikārā ‘ananto ākāso’ti ākāsānañcāyatanaṁ upasampajja viharati.
Sabbaso ākāsānañcāyatanaṁ samatikkamma ‘anantaṁ viññāṇan’ti viññāṇañcāyatanaṁ upasampajja viharati.
Sabbaso viññāṇañcāyatanaṁ samatikkamma ‘natthi kiñcī’ti ākiñcaññāyatanaṁ upasampajja viharati.
Sabbaso ākiñcaññāyatanaṁ samatikkamma nevasaññānāsaññāyatanaṁ upasampajja viharati.
Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu āneñjappatto hoti.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu ariyappatto hoti?
Idha, bhikkhave, bhikkhu ‘idaṁ dukkhan’ti yathābhūtaṁ pajānāti …pe… ‘ayaṁ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti yathābhūtaṁ pajānāti.
Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu ariyappatto hotī”ti.
Dasamaṁ.
Brāhmaṇavaggo catuttho.
Tassuddānaṁ
Yodhā pāṭibhogasutaṁ,
Abhayaṁ brāhmaṇasaccena pañcamaṁ;
Ummaggavassakāro,
Upako sacchikiriyā ca uposathoti.