TTC 1—Này các Tỷ-kheo, có bốn loại rắn. Thế nào là bốn?
Loại rắn có nọc độc, nhưng không ác độc; loại ác độc nhưng không nọc độc; loại có nọc độc và ác độc; loại không có nọc độc, không có ác độc. Này các Tỷ-kheo, có bốn loại rắn độc này.
TTC 2Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, có bốn hạng người được ví dụ với các loại rắn này có mặt, hiện hữu ở đời. Thế nào là bốn?
Hạng người có nọc độc nhưng không ác độc; hạng người ác độc nhưng không nọc độc; hạng người có nọc độc, có ác độc; hạng người không có nọc độc, không có ác độc.
TTC 3Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người có nọc độc, nhưng không ác độc?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người rất mau phẫn nộ, nhưng phẫn nộ không tồn tại lâu dài. Như vậy là hạng người có nọc độc, nhưng không ác độc. Ví như, này các Tỷ-kheo, loại rắn có nọc độc, nhưng không ác độc ấy, Ta nói rằng, này các Tỷ-kheo, hạng người này giống như ví dụ ấy.
TTC 4Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người có ác độc, nhưng không có nọc độc?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người không mau phẫn nộ, nhưng phẫn nộ tồn tại lâu dài. Như vậy là hạng người có ác độc, nhưng không có nọc… giống như ví dụ ấy.
TTC 5Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người có nọc độc và có ác độc?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người rất mau phẫn nộ và phẫn nộ tồn tại lâu dài. Như vậy là hạng người có nọc độc và có ác độc… giống như ví dụ ấy.
TTC 6Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người không có nọc độc và không có ác độc?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người không mau phẫn nộ và phẫn nộ không tồn tại lâu dài. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng người không có nọc độc, và không có ác độc. Ví như, này các Tỷ-kheo, loại rắn không có nọc độc, không có ác độc ấy, Ta nói rằng, hạng người này giống như ví dụ ấy.
Có bốn hạng người này, này các Tỷ-kheo, có mặt, hiện hữu ở đời.
“Cattārome, bhikkhave, āsīvisā.
Katame cattāro?
Āgataviso na ghoraviso,
ghoraviso na āgataviso,
āgataviso ca ghoraviso ca,
nevāgataviso na ghoraviso—
Ime kho, bhikkhave, cattāro āsīvisā.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, cattāro āsīvisūpamā puggalā santo saṁvijjamānā lokasmiṁ.
Katame cattāro?
Āgataviso na ghoraviso,
ghoraviso na āgataviso,
āgataviso ca ghoraviso ca,
nevāgataviso na ghoraviso.
Kathañca, bhikkhave, puggalo āgataviso hoti, na ghoraviso?
Idha, bhikkhave, ekacco puggalo abhiṇhaṁ kujjhati.
So ca khvassa kodho na dīgharattaṁ anuseti.
Evaṁ kho, bhikkhave, puggalo āgataviso hoti, na ghoraviso.
Seyyathāpi so, bhikkhave, āsīviso āgataviso, na ghoraviso;
tathūpamāhaṁ, bhikkhave, imaṁ puggalaṁ vadāmi.
Kathañca, bhikkhave, puggalo ghoraviso hoti, na āgataviso?
Idha, bhikkhave, ekacco puggalo na heva kho abhiṇhaṁ kujjhati.
So ca khvassa kodho dīgharattaṁ anuseti.
Evaṁ kho, bhikkhave, puggalo ghoraviso hoti, na āgataviso.
Seyyathāpi so, bhikkhave, āsīviso ghoraviso, na āgataviso;
tathūpamāhaṁ, bhikkhave, imaṁ puggalaṁ vadāmi.
Kathañca, bhikkhave, puggalo āgataviso ca hoti ghoraviso ca?
Idha, bhikkhave, ekacco puggalo abhiṇhaṁ kujjhati.
So ca khvassa kodho dīgharattaṁ anuseti.
Evaṁ kho, bhikkhave, puggalo āgataviso ca hoti ghoraviso ca.
Seyyathāpi so, bhikkhave, āsīviso āgataviso ca ghoraviso ca;
tathūpamāhaṁ, bhikkhave, imaṁ puggalaṁ vadāmi.
Kathañca, bhikkhave, puggalo nevāgataviso hoti na ghoraviso?
Idha, bhikkhave, ekacco puggalo na heva kho abhiṇhaṁ kujjhati.
So ca khvassa kodho na dīgharattaṁ anuseti.
Evaṁ kho, bhikkhave, puggalo nevāgataviso hoti, na ghoraviso.
Seyyathāpi so, bhikkhave, āsīviso nevāgataviso na ghoraviso;
tathūpamāhaṁ, bhikkhave, imaṁ puggalaṁ vadāmi.
Ime kho, bhikkhave, cattāro āsīvisūpamā puggalā santo saṁvijjamānā lokasmin”ti.
Dasamaṁ.
Valāhakavaggo paṭhamo.
Tassuddānaṁ
Dve valāhā kumbha udaka,
rahadā dve honti ambāni;
Mūsikā balībaddā rukkhā,
āsīvisena te dasāti.
“Mendicants, there are these four kinds of viper.
What four?
One whose venom is fast-acting but not lethal,
one whose venom is lethal but not fast-acting,
one whose venom is both fast-acting and lethal, and
one whose venom is neither fast-acting nor lethal.
These are the four kinds of viper.
In the same way, these four individuals similar to vipers are found in the world.
What four?
One whose venom is fast-acting but not lethal,
one whose venom is lethal but not fast-acting,
one whose venom is both fast-acting and lethal, and
one whose venom is neither fast-acting nor lethal.
And how is an individual’s venom fast-acting but not lethal?
It’s when an individual is often angry,
but their anger doesn’t linger long.
That’s how an individual’s venom is fast-acting but not lethal.
That individual is like a viper whose venom is fast-acting but not lethal.
And how is an individual’s venom lethal but not fast-acting?
It’s when an individual is not often angry,
but their anger lingers for a long time.
And how is an individual’s venom both fast-acting and lethal?
It’s when an individual is often angry,
and their anger lingers for a long time.
And how is an individual’s venom neither fast-acting nor lethal?
It’s when an individual is not often angry,
and their anger doesn’t linger long.
These four individuals similar to vipers are found in the world.”
TTC 1—Này các Tỷ-kheo, có bốn loại rắn. Thế nào là bốn?
Loại rắn có nọc độc, nhưng không ác độc; loại ác độc nhưng không nọc độc; loại có nọc độc và ác độc; loại không có nọc độc, không có ác độc. Này các Tỷ-kheo, có bốn loại rắn độc này.
TTC 2Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, có bốn hạng người được ví dụ với các loại rắn này có mặt, hiện hữu ở đời. Thế nào là bốn?
Hạng người có nọc độc nhưng không ác độc; hạng người ác độc nhưng không nọc độc; hạng người có nọc độc, có ác độc; hạng người không có nọc độc, không có ác độc.
TTC 3Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người có nọc độc, nhưng không ác độc?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người rất mau phẫn nộ, nhưng phẫn nộ không tồn tại lâu dài. Như vậy là hạng người có nọc độc, nhưng không ác độc. Ví như, này các Tỷ-kheo, loại rắn có nọc độc, nhưng không ác độc ấy, Ta nói rằng, này các Tỷ-kheo, hạng người này giống như ví dụ ấy.
TTC 4Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người có ác độc, nhưng không có nọc độc?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người không mau phẫn nộ, nhưng phẫn nộ tồn tại lâu dài. Như vậy là hạng người có ác độc, nhưng không có nọc… giống như ví dụ ấy.
TTC 5Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người có nọc độc và có ác độc?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người rất mau phẫn nộ và phẫn nộ tồn tại lâu dài. Như vậy là hạng người có nọc độc và có ác độc… giống như ví dụ ấy.
TTC 6Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người không có nọc độc và không có ác độc?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người không mau phẫn nộ và phẫn nộ không tồn tại lâu dài. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng người không có nọc độc, và không có ác độc. Ví như, này các Tỷ-kheo, loại rắn không có nọc độc, không có ác độc ấy, Ta nói rằng, hạng người này giống như ví dụ ấy.
Có bốn hạng người này, này các Tỷ-kheo, có mặt, hiện hữu ở đời.
“Cattārome, bhikkhave, āsīvisā.
Katame cattāro?
Āgataviso na ghoraviso,
ghoraviso na āgataviso,
āgataviso ca ghoraviso ca,
nevāgataviso na ghoraviso—
Ime kho, bhikkhave, cattāro āsīvisā.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, cattāro āsīvisūpamā puggalā santo saṁvijjamānā lokasmiṁ.
Katame cattāro?
Āgataviso na ghoraviso,
ghoraviso na āgataviso,
āgataviso ca ghoraviso ca,
nevāgataviso na ghoraviso.
Kathañca, bhikkhave, puggalo āgataviso hoti, na ghoraviso?
Idha, bhikkhave, ekacco puggalo abhiṇhaṁ kujjhati.
So ca khvassa kodho na dīgharattaṁ anuseti.
Evaṁ kho, bhikkhave, puggalo āgataviso hoti, na ghoraviso.
Seyyathāpi so, bhikkhave, āsīviso āgataviso, na ghoraviso;
tathūpamāhaṁ, bhikkhave, imaṁ puggalaṁ vadāmi.
Kathañca, bhikkhave, puggalo ghoraviso hoti, na āgataviso?
Idha, bhikkhave, ekacco puggalo na heva kho abhiṇhaṁ kujjhati.
So ca khvassa kodho dīgharattaṁ anuseti.
Evaṁ kho, bhikkhave, puggalo ghoraviso hoti, na āgataviso.
Seyyathāpi so, bhikkhave, āsīviso ghoraviso, na āgataviso;
tathūpamāhaṁ, bhikkhave, imaṁ puggalaṁ vadāmi.
Kathañca, bhikkhave, puggalo āgataviso ca hoti ghoraviso ca?
Idha, bhikkhave, ekacco puggalo abhiṇhaṁ kujjhati.
So ca khvassa kodho dīgharattaṁ anuseti.
Evaṁ kho, bhikkhave, puggalo āgataviso ca hoti ghoraviso ca.
Seyyathāpi so, bhikkhave, āsīviso āgataviso ca ghoraviso ca;
tathūpamāhaṁ, bhikkhave, imaṁ puggalaṁ vadāmi.
Kathañca, bhikkhave, puggalo nevāgataviso hoti na ghoraviso?
Idha, bhikkhave, ekacco puggalo na heva kho abhiṇhaṁ kujjhati.
So ca khvassa kodho na dīgharattaṁ anuseti.
Evaṁ kho, bhikkhave, puggalo nevāgataviso hoti, na ghoraviso.
Seyyathāpi so, bhikkhave, āsīviso nevāgataviso na ghoraviso;
tathūpamāhaṁ, bhikkhave, imaṁ puggalaṁ vadāmi.
Ime kho, bhikkhave, cattāro āsīvisūpamā puggalā santo saṁvijjamānā lokasmin”ti.
Dasamaṁ.
Valāhakavaggo paṭhamo.
Tassuddānaṁ
Dve valāhā kumbha udaka,
rahadā dve honti ambāni;
Mūsikā balībaddā rukkhā,
āsīvisena te dasāti.