TTC 1—Này các Tỷ-kheo, có những pháp cần phải đoạn tận với thân, không phải với lời. Này các Tỷ-kheo, có những pháp cần phải đoạn tận với lời, không phải với thân. Này các Tỷ-kheo, có những pháp cần phải đoạn tận không phải với thân, không phải với lời mà sau khi thấy cần phải đoạn tận với trí tuệ.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là những pháp cần phải đoạn tận với thân, không phải với lời?
TTC 2Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo có phạm điều bất thiện về thân, về một vấn đề gì. Sau khi suy xét về vấn đề ấy, các đồng Phạm hạnh có trí đã nói với vị ấy: “Tôn giả có phạm điều bất thiện về thân, về một vấn đề này. Thật tốt lành thay, nếu Tôn giả từ bỏ thân làm ác và tu tập thân làm thiện”. Vị ấy được các đồng Phạm hạnh có trí sau khi suy xét nói như vậy, đoạn tận thân làm ác, tu tập thân làm thiện.
Này các Tỷ-kheo, những pháp này được gọi là những pháp cần phải đoạn tận với thân, không phải với lời.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là những pháp cần phải đoạn tận với lời, không phải với thân?
TTC 3Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo phạm điều bất thiện với lời, về một vấn đề gì. Sau khi suy xét về vấn đề ấy, các đồng Phạm hạnh có trí đã nói vị ấy: “Tôn giả có phạm điều bất thiện về lời, về một vấn đề này. Thật tốt lành thay, nếu Tôn giả từ bỏ lời nói ác, tu tập lời nói thiện”. Vị ấy được các đồng Phạm hạnh có trí sau khi suy xét nói như vậy, đoạn tận lời nói ác. Tu tập lời nói thiện.
Này các Tỷ-kheo, những pháp này được gọi là những pháp cần phải đoạn tận với lời, không phải về thân.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các pháp cần phải đoạn tận, không phải với thân, cũng không phải với lời mà sau khi thấy, sau khi thấy với trí tuệ, cần phải đoạn tận?
TTC 4Tham, này các Tỷ-kheo, cần phải đoạn tập không phải với thân, cũng không phải với lời mà sau khi thấy, sau khi thấy với trí tuệ, cần phải đoạn tận. Sân … Si … Phẫn nộ … Hiềm hận… Gièm pha … Não hại … Xan tham … Ác tật đố … Ác dục, này các Tỷ-kheo cần phải đoạn tận, không phải với thân, không phải với lời mà sau khi thấy, sau khi thấy với trí tuệ, cần phải đoạn tận
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là ác tật đố?
TTC 5Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người gia chủ, hay con người gia chủ, dồi dào phong phú về tài sản, về lúa gạo, về bạc hay vàng. Ở đây, một người nô tỳ hay người phục vụ khởi lên ý nghĩ như sau: “Ôi, sự dồi dào phong phú về tài sản, về lúa gạo, về bạc hay vàng thật sự không thuộc về người gia chủ hay con người gia chủ này.” Hay một Sa-môn, Bá-la-môn có được các vật dụng như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh. Ở đây, một Sa-môn, hay Bà-la-môn khác khởi lên ý nghĩ như sau: “Ôi, mong rằng vị Tôn giả này không nhận được các vật dụng như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh”.
Này các Tỷ-kheo, đây gọi là ác tật đố.
Ác tật đố, này các Tỷ-kheo, cần phải đoạn tận không phải với thân, cũng không phải với lời mà sau khi thấy, sau khi thấy với trí tuệ, cần phải đoạn tận.
TTC 6Này các Tỷ-kheo, ác dục cần phải đoạn tận, không phải với thân, cũng không phải với lời mà sau khi, sau khi thấy với trí tuệ, cần phải đoạn tận.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là ác dục?
TTC 7Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người không có lòng tin, lại muốn rằng: “Mong rằng họ biết ta có lòng tin”; có ác giới hạn lại muốn rằng: “Mong rằng họ biết ta là người nghe nhiều”; là người ưa thích hội chúng, lại muốn rằng: “Mong rằng họ biết ta là người sống viễn ly”; là người biếng nhác lại muốn rằng: “Mong rằng họ biết ta là người tinh tấn”; là người thất niệm lại muốn rằng: “Mong rằng họ biết ta là người niệm được an trú”; là người không có định, lại muốn rằng: “Mong rằng họ biết ta là người có định”; là người ác tuệ, lại muốn rằng: “Mong rằng họ biết ta là người có trí tuệ”; là người chưa đoạn tận các lậu hoặc lại muốn: “Mong rằng họ biết ta là người đã đoạn tận các lậu hoặc”.
Này các Tỷ-kheo, đây gọi là ác dục.
Ác dục này, này các Tỷ-kheo, cần phải đoạn tận, không phải với thân, cũng không phải với lời mà sau khi thấy, sau khi thấy với trí tuệ, cần phải đoạn tận.
TTC 8Này các Tỷ-kheo, nếu tham chinh phục Tỷ-kheo và phát triển, nếu sân… nếu si… nếu phẫn nộ… nếu hiềm hận… nếu gièm pha… nếu não hại… nếu xan tham… nếu ác tật đố… nếu ác dục chinh phục Tỷ-kheo và phát triển, vị ấy cần phải được hiểu như sau: “Tôn giả này không rõ biết như thế nào để tham không có mặt. Như vậy tham chinh phục vị ấy và phát triển. Tôn giả này không rõ biết như thế nào để sân không có mặt… Tôn giả này không rõ biết như thế nào để si không có mặt… phẫn nộ không có mặt… hiềm hận không có mặt… gièm pha không có mặt… não hại không có mặt… xan tham không có mặt… ác tật đố không có mặt… Tôn giả không rõ biết như thế nào, để ác dục không có mặt. Như vậy, ác dục chinh phục Tôn giả này và phát triển.”
TTC 9Nhưng, này các Tỷ-kheo, nếu tham không chinh phục và không phát triển, nếu sân… nếu si… nếu phẫn nộ… nếu hiềm hận… nếu gièm pha… nếu não hại… nếu xan tham… nếu ác tật đố… nếu ác dục không chinh phục vị Tỷ-kheo và không phát triển, vị ấy cần phải được biết như sau: “Tôn giả này rõ biết như thế nào để tham không có mặt. Như vậy, tham không chinh phục Tôn giả này và không phát triển. Tôn giả này rõ biết như thế nào để sân không có mặt… si… phẫn nộ… hiềm hận… gièm pha… não hại… xan tham… ác tật đố… ác dục không có mặt. Như vậy, ác dục không có chinh phục vị Tôn giả này và không phát triển.”
“Atthi, bhikkhave, dhammā kāyena pahātabbā, no vācāya.
Atthi, bhikkhave, dhammā vācāya pahātabbā, no kāyena.
Atthi, bhikkhave, dhammā neva kāyena pahātabbā no vācāya, paññāya disvā pahātabbā.
Katame ca, bhikkhave, dhammā kāyena pahātabbā, no vācāya?
Idha, bhikkhave, bhikkhu akusalaṁ āpanno hoti kiñci desaṁ kāyena.
Tamenaṁ anuvicca viññū sabrahmacārī evamāhaṁsu:
‘āyasmā kho akusalaṁ āpanno kiñci desaṁ kāyena.
Sādhu vatāyasmā kāyaduccaritaṁ pahāya kāyasucaritaṁ bhāvetū’ti.
So anuvicca viññūhi sabrahmacārīhi vuccamāno kāyaduccaritaṁ pahāya kāyasucaritaṁ bhāveti.
Ime vuccanti, bhikkhave, dhammā kāyena pahātabbā, no vācāya.
Katame ca, bhikkhave, dhammā vācāya pahātabbā, no kāyena?
Idha, bhikkhave, bhikkhu akusalaṁ āpanno hoti kiñci desaṁ vācāya.
Tamenaṁ anuvicca viññū sabrahmacārī evamāhaṁsu:
‘āyasmā kho akusalaṁ āpanno kiñci desaṁ vācāya.
Sādhu vatāyasmā vacīduccaritaṁ pahāya vacīsucaritaṁ bhāvetū’ti.
So anuvicca viññūhi sabrahmacārīhi vuccamāno vacīduccaritaṁ pahāya vacīsucaritaṁ bhāveti.
Ime vuccanti, bhikkhave, dhammā vācāya pahātabbā, no kāyena.
Katame ca, bhikkhave, dhammā neva kāyena pahātabbā no vācāya, paññāya disvā pahātabbā?
Lobho, bhikkhave, neva kāyena pahātabbo no vācāya, paññāya disvā pahātabbo.
Doso, bhikkhave …pe…
moho …
kodho …
upanāho …
makkho …
paḷāso …
macchariyaṁ, bhikkhave, neva kāyena pahātabbaṁ no vācāya, paññāya disvā pahātabbaṁ.
Pāpikā, bhikkhave, issā neva kāyena pahātabbā no vācāya, paññāya disvā pahātabbā.
Katamā ca, bhikkhave, pāpikā issā?
Idha, bhikkhave, ijjhati gahapatissa vā gahapatiputtassa vā dhanena vā dhaññena vā rajatena vā jātarūpena vā.
Tatrāññatarassa dāsassa vā upavāsassa vā evaṁ hoti:
‘aho vatimassa gahapatissa vā gahapatiputtassa vā na ijjheyya dhanena vā dhaññena vā rajatena vā jātarūpena vā’ti.
Samaṇo vā pana brāhmaṇo vā lābhī hoti cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānapaccayabhesajjaparikkhārānaṁ.
Tatrāññatarassa samaṇassa vā brāhmaṇassa vā evaṁ hoti:
‘aho vata ayamāyasmā na lābhī assa cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānapaccayabhesajjaparikkhārānan’ti.
Ayaṁ vuccati, bhikkhave, pāpikā issā.
Pāpikā, bhikkhave, icchā neva kāyena pahātabbā no vācāya, paññāya disvā pahātabbā.
Katamā ca, bhikkhave, pāpikā icchā?
Idha, bhikkhave, ekacco assaddho samāno ‘saddhoti maṁ jāneyyun’ti icchati;
dussīlo samāno ‘sīlavāti maṁ jāneyyun’ti icchati;
appassuto samāno ‘bahussutoti maṁ jāneyyun’ti icchati;
saṅgaṇikārāmo samāno ‘pavivittoti maṁ jāneyyun’ti icchati;
kusīto samāno ‘āraddhavīriyoti maṁ jāneyyun’ti icchati;
muṭṭhassati samāno ‘upaṭṭhitassatīti maṁ jāneyyun’ti icchati;
asamāhito samāno ‘samāhitoti maṁ jāneyyun’ti icchati;
duppañño samāno ‘paññavāti maṁ jāneyyun’ti icchati;
akhīṇāsavo samāno ‘khīṇāsavoti maṁ jāneyyun’ti icchati.
Ayaṁ vuccati, bhikkhave, pāpikā icchā.
Ime vuccanti, bhikkhave, dhammā neva kāyena pahātabbā no vācāya, paññāya disvā pahātabbā.
Tañce, bhikkhave, bhikkhuṁ lobho abhibhuyya iriyati,
doso …
moho …
kodho …
upanāho …
makkho …
paḷāso …
macchariyaṁ …
pāpikā issā …
pāpikā icchā abhibhuyya iriyati.
So evamassa veditabbo:
‘nāyamāyasmā tathā pajānāti yathā pajānato lobho na hoti, tathāhimaṁ āyasmantaṁ lobho abhibhuyya iriyati;
nāyamāyasmā tathā pajānāti yathā pajānato doso na hoti …
moho …
kodho …
upanāho …
makkho …
paḷāso …
macchariyaṁ …
pāpikā issā …
pāpikā icchā na hoti, tathāhimaṁ āyasmantaṁ pāpikā icchā abhibhuyya iriyatī’ti.
Tañce, bhikkhave, bhikkhuṁ lobho nābhibhuyya iriyati,
doso …
moho …
kodho …
upanāho …
makkho …
paḷāso …
macchariyaṁ …
pāpikā issā …
pāpikā icchā nābhibhuyya iriyati,
so evamassa veditabbo:
‘tathā ayamāyasmā pajānāti yathā pajānato lobho na hoti, tathāhimaṁ āyasmantaṁ lobho nābhibhuyya iriyati;
tathā ayamāyasmā pajānāti yathā pajānato doso na hoti …
moho …
kodho …
upanāho …
makkho …
paḷāso …
macchariyaṁ …
pāpikā issā …
pāpikā icchā na hoti, tathāhimaṁ āyasmantaṁ pāpikā icchā nābhibhuyya iriyatī’”ti.
Tatiyaṁ.
SC 1“Bhikkhus, there are things to be abandoned by body, not by speech. There are things to be abandoned by speech, not by body. There are things to be abandoned neither by body nor by speech but by having repeatedly seen with wisdom.
SC 2“And what, bhikkhus, are the things to be abandoned by body, not by speech? Here, a bhikkhu has committed a particular unwholesome deed with the body. His wise fellow monks investigate him and say thus: ‘You have committed a particular unwholesome deed with the body. It would really be good if you would abandon bodily misconduct and develop bodily good conduct.’ When his wise fellow monks investigate him and speak to him, he abandons bodily misconduct and develops bodily good conduct. These are called things to be abandoned by body, not by speech.
SC 3“And what are the things to be abandoned by speech, not by body? Here, a bhikkhu has committed a particular unwholesome deed by speech. His wise fellow monks investigate him and say thus: ‘You have committed a particular unwholesome deed by speech. It would really be good if you would abandon verbal misconduct and develop verbal good conduct.’ When his wise fellow monks investigate him and speak to him, he abandons verbal misconduct and develops verbal good conduct. These are called things to be abandoned by speech, not by body.
SC 4“And what are the things to be abandoned neither by body nor by speech but by having repeatedly seen with wisdom? Greed is to be abandoned neither by body nor by speech but by having repeatedly seen with wisdom. Hatred … Delusion … Anger … Hostility … Denigration … Insolence an.v.40 … Miserliness is to be abandoned neither by body nor by speech but by having repeatedly seen with wisdom.
SC 5“Evil envy, bhikkhus, is to be abandoned neither by body nor by speech but by having repeatedly seen with wisdom. And what is evil envy? Here, a householder or householder’s son is prospering in wealth or grain, in silver or gold. A slave or dependent might think of him: ‘Oh, may this householder or householder’s son not prosper in wealth or grain, in silver or gold!’ Or else an ascetic or brahmin gains robes, almsfood, lodging, and medicines and provisions for the sick. Another ascetic or brahmin might think of him: ‘Oh, may this venerable one not gain robes, almsfood, lodging, and medicines and provisions for the sick!’ This is called evil envy. Evil envy is to be abandoned neither by body nor by speech but by having repeatedly seen with wisdom.
SC 6“Evil desire, bhikkhus, is to be abandoned neither by body nor by speech but by having repeatedly seen with wisdom. And what is evil desire? Here, one without faith desires: ‘Let them know me as one endowed with faith.’ An immoral person desires: ‘Let them know me as virtuous.’ One with little learning desires: ‘Let them know me as learned.’ One who delights in company desires: ‘Let them know me as solitary.’ One who is lazy desires: ‘Let them know me as energetic.’ One who is muddle-minded desires: ‘Let them know me as mindful.’ One who is unconcentrated desires: ‘Let them know me as concentrated.’ One who is unwise desires: ‘Let them know me as wise.’ One whose taints are not destroyed desires: ‘Let them know me as one whose taints are destroyed.’ an.v.41 This is called evil desire. Evil desire is to be abandoned neither by body nor by speech but by having repeatedly seen with wisdom.
SC 7“If, bhikkhus, greed overcomes that bhikkhu and continues on; if hatred … delusion … anger … hostility … denigration … insolence … miserliness … evil envy … evil desire overcomes that bhikkhu and continues on, he should be understood thus: ‘This venerable one does not understand in such a way that he would have no greed; thus greed overcomes him and continues on. This venerable one does not understand in such a way that he would have no hatred … no delusion … no anger … no hostility … no denigration … no insolence … no miserliness … no evil envy … no evil desire; thus evil desire overcomes him and continues on.’
SC 8“If, bhikkhus, greed does not overcome that bhikkhu and continue on; if hatred … delusion … anger … hostility … denigration … insolence … miserliness … evil envy … evil desire does not overcome that bhikkhu and continue on, he should be understood thus: ‘This venerable one understands in such a way that he would have no greed; thus greed does not overcome him and continue on. This venerable one understands in such a way that he would have no hatred … no delusion … no anger … no hostility … no denigration … no insolence … no miserliness … no evil envy … no evil desire; thus evil desire does not overcome him and continue on.’”
TTC 1—Này các Tỷ-kheo, có những pháp cần phải đoạn tận với thân, không phải với lời. Này các Tỷ-kheo, có những pháp cần phải đoạn tận với lời, không phải với thân. Này các Tỷ-kheo, có những pháp cần phải đoạn tận không phải với thân, không phải với lời mà sau khi thấy cần phải đoạn tận với trí tuệ.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là những pháp cần phải đoạn tận với thân, không phải với lời?
TTC 2Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo có phạm điều bất thiện về thân, về một vấn đề gì. Sau khi suy xét về vấn đề ấy, các đồng Phạm hạnh có trí đã nói với vị ấy: “Tôn giả có phạm điều bất thiện về thân, về một vấn đề này. Thật tốt lành thay, nếu Tôn giả từ bỏ thân làm ác và tu tập thân làm thiện”. Vị ấy được các đồng Phạm hạnh có trí sau khi suy xét nói như vậy, đoạn tận thân làm ác, tu tập thân làm thiện.
Này các Tỷ-kheo, những pháp này được gọi là những pháp cần phải đoạn tận với thân, không phải với lời.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là những pháp cần phải đoạn tận với lời, không phải với thân?
TTC 3Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo phạm điều bất thiện với lời, về một vấn đề gì. Sau khi suy xét về vấn đề ấy, các đồng Phạm hạnh có trí đã nói vị ấy: “Tôn giả có phạm điều bất thiện về lời, về một vấn đề này. Thật tốt lành thay, nếu Tôn giả từ bỏ lời nói ác, tu tập lời nói thiện”. Vị ấy được các đồng Phạm hạnh có trí sau khi suy xét nói như vậy, đoạn tận lời nói ác. Tu tập lời nói thiện.
Này các Tỷ-kheo, những pháp này được gọi là những pháp cần phải đoạn tận với lời, không phải về thân.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các pháp cần phải đoạn tận, không phải với thân, cũng không phải với lời mà sau khi thấy, sau khi thấy với trí tuệ, cần phải đoạn tận?
TTC 4Tham, này các Tỷ-kheo, cần phải đoạn tập không phải với thân, cũng không phải với lời mà sau khi thấy, sau khi thấy với trí tuệ, cần phải đoạn tận. Sân … Si … Phẫn nộ … Hiềm hận… Gièm pha … Não hại … Xan tham … Ác tật đố … Ác dục, này các Tỷ-kheo cần phải đoạn tận, không phải với thân, không phải với lời mà sau khi thấy, sau khi thấy với trí tuệ, cần phải đoạn tận
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là ác tật đố?
TTC 5Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người gia chủ, hay con người gia chủ, dồi dào phong phú về tài sản, về lúa gạo, về bạc hay vàng. Ở đây, một người nô tỳ hay người phục vụ khởi lên ý nghĩ như sau: “Ôi, sự dồi dào phong phú về tài sản, về lúa gạo, về bạc hay vàng thật sự không thuộc về người gia chủ hay con người gia chủ này.” Hay một Sa-môn, Bá-la-môn có được các vật dụng như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh. Ở đây, một Sa-môn, hay Bà-la-môn khác khởi lên ý nghĩ như sau: “Ôi, mong rằng vị Tôn giả này không nhận được các vật dụng như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh”.
Này các Tỷ-kheo, đây gọi là ác tật đố.
Ác tật đố, này các Tỷ-kheo, cần phải đoạn tận không phải với thân, cũng không phải với lời mà sau khi thấy, sau khi thấy với trí tuệ, cần phải đoạn tận.
TTC 6Này các Tỷ-kheo, ác dục cần phải đoạn tận, không phải với thân, cũng không phải với lời mà sau khi, sau khi thấy với trí tuệ, cần phải đoạn tận.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là ác dục?
TTC 7Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người không có lòng tin, lại muốn rằng: “Mong rằng họ biết ta có lòng tin”; có ác giới hạn lại muốn rằng: “Mong rằng họ biết ta là người nghe nhiều”; là người ưa thích hội chúng, lại muốn rằng: “Mong rằng họ biết ta là người sống viễn ly”; là người biếng nhác lại muốn rằng: “Mong rằng họ biết ta là người tinh tấn”; là người thất niệm lại muốn rằng: “Mong rằng họ biết ta là người niệm được an trú”; là người không có định, lại muốn rằng: “Mong rằng họ biết ta là người có định”; là người ác tuệ, lại muốn rằng: “Mong rằng họ biết ta là người có trí tuệ”; là người chưa đoạn tận các lậu hoặc lại muốn: “Mong rằng họ biết ta là người đã đoạn tận các lậu hoặc”.
Này các Tỷ-kheo, đây gọi là ác dục.
Ác dục này, này các Tỷ-kheo, cần phải đoạn tận, không phải với thân, cũng không phải với lời mà sau khi thấy, sau khi thấy với trí tuệ, cần phải đoạn tận.
TTC 8Này các Tỷ-kheo, nếu tham chinh phục Tỷ-kheo và phát triển, nếu sân… nếu si… nếu phẫn nộ… nếu hiềm hận… nếu gièm pha… nếu não hại… nếu xan tham… nếu ác tật đố… nếu ác dục chinh phục Tỷ-kheo và phát triển, vị ấy cần phải được hiểu như sau: “Tôn giả này không rõ biết như thế nào để tham không có mặt. Như vậy tham chinh phục vị ấy và phát triển. Tôn giả này không rõ biết như thế nào để sân không có mặt… Tôn giả này không rõ biết như thế nào để si không có mặt… phẫn nộ không có mặt… hiềm hận không có mặt… gièm pha không có mặt… não hại không có mặt… xan tham không có mặt… ác tật đố không có mặt… Tôn giả không rõ biết như thế nào, để ác dục không có mặt. Như vậy, ác dục chinh phục Tôn giả này và phát triển.”
TTC 9Nhưng, này các Tỷ-kheo, nếu tham không chinh phục và không phát triển, nếu sân… nếu si… nếu phẫn nộ… nếu hiềm hận… nếu gièm pha… nếu não hại… nếu xan tham… nếu ác tật đố… nếu ác dục không chinh phục vị Tỷ-kheo và không phát triển, vị ấy cần phải được biết như sau: “Tôn giả này rõ biết như thế nào để tham không có mặt. Như vậy, tham không chinh phục Tôn giả này và không phát triển. Tôn giả này rõ biết như thế nào để sân không có mặt… si… phẫn nộ… hiềm hận… gièm pha… não hại… xan tham… ác tật đố… ác dục không có mặt. Như vậy, ác dục không có chinh phục vị Tôn giả này và không phát triển.”
“Atthi, bhikkhave, dhammā kāyena pahātabbā, no vācāya.
Atthi, bhikkhave, dhammā vācāya pahātabbā, no kāyena.
Atthi, bhikkhave, dhammā neva kāyena pahātabbā no vācāya, paññāya disvā pahātabbā.
Katame ca, bhikkhave, dhammā kāyena pahātabbā, no vācāya?
Idha, bhikkhave, bhikkhu akusalaṁ āpanno hoti kiñci desaṁ kāyena.
Tamenaṁ anuvicca viññū sabrahmacārī evamāhaṁsu:
‘āyasmā kho akusalaṁ āpanno kiñci desaṁ kāyena.
Sādhu vatāyasmā kāyaduccaritaṁ pahāya kāyasucaritaṁ bhāvetū’ti.
So anuvicca viññūhi sabrahmacārīhi vuccamāno kāyaduccaritaṁ pahāya kāyasucaritaṁ bhāveti.
Ime vuccanti, bhikkhave, dhammā kāyena pahātabbā, no vācāya.
Katame ca, bhikkhave, dhammā vācāya pahātabbā, no kāyena?
Idha, bhikkhave, bhikkhu akusalaṁ āpanno hoti kiñci desaṁ vācāya.
Tamenaṁ anuvicca viññū sabrahmacārī evamāhaṁsu:
‘āyasmā kho akusalaṁ āpanno kiñci desaṁ vācāya.
Sādhu vatāyasmā vacīduccaritaṁ pahāya vacīsucaritaṁ bhāvetū’ti.
So anuvicca viññūhi sabrahmacārīhi vuccamāno vacīduccaritaṁ pahāya vacīsucaritaṁ bhāveti.
Ime vuccanti, bhikkhave, dhammā vācāya pahātabbā, no kāyena.
Katame ca, bhikkhave, dhammā neva kāyena pahātabbā no vācāya, paññāya disvā pahātabbā?
Lobho, bhikkhave, neva kāyena pahātabbo no vācāya, paññāya disvā pahātabbo.
Doso, bhikkhave …pe…
moho …
kodho …
upanāho …
makkho …
paḷāso …
macchariyaṁ, bhikkhave, neva kāyena pahātabbaṁ no vācāya, paññāya disvā pahātabbaṁ.
Pāpikā, bhikkhave, issā neva kāyena pahātabbā no vācāya, paññāya disvā pahātabbā.
Katamā ca, bhikkhave, pāpikā issā?
Idha, bhikkhave, ijjhati gahapatissa vā gahapatiputtassa vā dhanena vā dhaññena vā rajatena vā jātarūpena vā.
Tatrāññatarassa dāsassa vā upavāsassa vā evaṁ hoti:
‘aho vatimassa gahapatissa vā gahapatiputtassa vā na ijjheyya dhanena vā dhaññena vā rajatena vā jātarūpena vā’ti.
Samaṇo vā pana brāhmaṇo vā lābhī hoti cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānapaccayabhesajjaparikkhārānaṁ.
Tatrāññatarassa samaṇassa vā brāhmaṇassa vā evaṁ hoti:
‘aho vata ayamāyasmā na lābhī assa cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānapaccayabhesajjaparikkhārānan’ti.
Ayaṁ vuccati, bhikkhave, pāpikā issā.
Pāpikā, bhikkhave, icchā neva kāyena pahātabbā no vācāya, paññāya disvā pahātabbā.
Katamā ca, bhikkhave, pāpikā icchā?
Idha, bhikkhave, ekacco assaddho samāno ‘saddhoti maṁ jāneyyun’ti icchati;
dussīlo samāno ‘sīlavāti maṁ jāneyyun’ti icchati;
appassuto samāno ‘bahussutoti maṁ jāneyyun’ti icchati;
saṅgaṇikārāmo samāno ‘pavivittoti maṁ jāneyyun’ti icchati;
kusīto samāno ‘āraddhavīriyoti maṁ jāneyyun’ti icchati;
muṭṭhassati samāno ‘upaṭṭhitassatīti maṁ jāneyyun’ti icchati;
asamāhito samāno ‘samāhitoti maṁ jāneyyun’ti icchati;
duppañño samāno ‘paññavāti maṁ jāneyyun’ti icchati;
akhīṇāsavo samāno ‘khīṇāsavoti maṁ jāneyyun’ti icchati.
Ayaṁ vuccati, bhikkhave, pāpikā icchā.
Ime vuccanti, bhikkhave, dhammā neva kāyena pahātabbā no vācāya, paññāya disvā pahātabbā.
Tañce, bhikkhave, bhikkhuṁ lobho abhibhuyya iriyati,
doso …
moho …
kodho …
upanāho …
makkho …
paḷāso …
macchariyaṁ …
pāpikā issā …
pāpikā icchā abhibhuyya iriyati.
So evamassa veditabbo:
‘nāyamāyasmā tathā pajānāti yathā pajānato lobho na hoti, tathāhimaṁ āyasmantaṁ lobho abhibhuyya iriyati;
nāyamāyasmā tathā pajānāti yathā pajānato doso na hoti …
moho …
kodho …
upanāho …
makkho …
paḷāso …
macchariyaṁ …
pāpikā issā …
pāpikā icchā na hoti, tathāhimaṁ āyasmantaṁ pāpikā icchā abhibhuyya iriyatī’ti.
Tañce, bhikkhave, bhikkhuṁ lobho nābhibhuyya iriyati,
doso …
moho …
kodho …
upanāho …
makkho …
paḷāso …
macchariyaṁ …
pāpikā issā …
pāpikā icchā nābhibhuyya iriyati,
so evamassa veditabbo:
‘tathā ayamāyasmā pajānāti yathā pajānato lobho na hoti, tathāhimaṁ āyasmantaṁ lobho nābhibhuyya iriyati;
tathā ayamāyasmā pajānāti yathā pajānato doso na hoti …
moho …
kodho …
upanāho …
makkho …
paḷāso …
macchariyaṁ …
pāpikā issā …
pāpikā icchā na hoti, tathāhimaṁ āyasmantaṁ pāpikā icchā nābhibhuyya iriyatī’”ti.
Tatiyaṁ.