TTC 1Một thời, Thế Tôn bộ hành giữa dân chúng Kosala, với đại chúng Tỷ-kheo, đi đến tại một thị trấn của dân chúng Kosala tên là Nalakapàna. Tại đấy, Thế Tôn trú ở rừng Palàsa, tại Nalakapàna. Lúc bấy giờ, Thế Tôn nhân ngày trai giới Uposatha, Thế Tôn đang ngồi, có chúng Tỷ-kheo đoanh vây. Rồi Thế Tôn sau phần lớn của đêm, thuyết giảng, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ các vị Tỷ-kheo với pháp thoại; sau khi nhìn xung quanh chúng Tỷ-kheo đang yên lặng, thật yên lặng, nói với Tôn giả Sàriputta:
—Này Sàriputta, chúng Tỷ-kheo không có hôn trầm thụy miên. Này Sàriputta, hãy thuyết pháp cho chúng Tỷ-kheo. Lưng Ta đau mỏi, Ta sẽ nằm duỗi lưng.
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Tôn giả Sàriputta vâng đáp Thế Tôn. Rồi Thế Tôn trải gấp tư áo Tăng-già-lê, nằm phía thân hữu bên phải như dáng nằm con sư tử, hai chân đặt trên nhau, chánh niệm tỉnh giác, tác ý đến tưởng ngồi dậy.
TTC 2Ở đây, Tôn giả Sàriputta gọi các Tỷ-kheo:
—Này chư Hiền Tỷ-kheo.
—Thưa vâng, Hiền giả.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Sàriputta, Tôn giả Sàriputta nói như sau:
TTC 3—Này chư Hiền, với ai không có lòng tin trong các pháp thiện, không có xấu hổ… không có sợ hãi… không có tinh tấn… không có tuệ trong pháp thiện, với người ấy, bất luận đêm hay ngày, chờ đợi là tổn giảm trong các thiện pháp, không phải tăng trưởng.
Ví như, này chư Hiền, khi trăng đến độ trăng tối; bất luận đêm hay ngày, trăng tổn giảm về sắc, tổn giảm về hình tròn, tổn giảm về ánh sáng, tổn giảm về bề rộng quỹ đạo. Cũng vậy, này chư Hiền, với ai không lòng tin trong các thiện pháp, không có xấu hổ… không có sợ hãi… không có tinh tấn… không có trí tuệ trong các thiện pháp, với người ấy, bất luận là đêm hay ngày, chờ đợi là tổn giảm trong các thiện pháp, không phải tăng trưởng. Hạng người không có lòng tin, này chư Hiền, tức là tổn giảm. Hạng người không có sợ hãi, này chư Hiền, tức là tổn giảm. Hạng người phẫn nộ, này chư Hiền, tức là tổn giảm. Hạng người ác dục, này chư Hiền, tức là tổn giảm. Hạng người ác bằng hữu, này chư Hiền, tức là tổn giảm. Hạng người tà kiến, này chư Hiền, tức là tổn giảm.
TTC 4Này chư Hiền, với ai có lòng tin trong các thiện pháp, có lòng xấu hổ… có lòng sợ hãi… có tinh tấn… có trí tuệ trong các thiện pháp, với người ấy, bất luận đêm hay ngày, chờ đợi là tăng trưởng trong các thiện pháp, không phải tổn giảm. Ví như, này chư Hiền, khi trăng đến độ trăng sáng, bất luận đêm hay ngày, trăng tăng trưởng về ánh sáng, tăng trưởng về hình tròn, tăng trưởng về ánh sáng, tăng trưởng về bề rộng quỹ đạo. Cũng vậy, này chư Hiền, với ai có lòng tin trong các thiện pháp, có xấu hổ… có sợ hãi… có tinh tấn… có trí tuệ trong các thiện pháp, với vị ấy bất luận đêm hay ngày, chờ đợi là tăng trưởng trong các thiện pháp, không phải tổn giảm. Hạng người có lòng tin trong các thiện pháp, này chư Hiền, tức là không tổn giảm. Hạng người có lòng xấu hổ, này chư Hiền, tức là không tổn giảm. Hạng người có lòng sợ hãi, này chư Hiền, tức là không tổn giảm. Hạng người tinh cần tinh tấn, này chư Hiền, tức là không tổn giảm. Hạng người có trí tuệ, này chư Hiền, tức là không tổn giảm. Hạng người không có phẫn nộ, này chư Hiền, tức là không tổn giảm. Hạng người không hiềm hận, này chư hiền, tức là không tổn giảm. Hạng người thiện bằng hữu, này chư Hiền, tức là không tổn giảm. Hạng người chánh tri kiến, này chư Hiền, tức là không tổn giảm.
TTC 5Rồi Thế Tôn, sau khi ngồi dậy, bảo Tôn giả Sàriputta:
—Lành thay, lành thay, này Sàriputta! Với ai không có lòng tin trong các thiện pháp, không có xấu hổ… không có sợ hãi… không có tinh tấn… không có trí tuệ trong các thiện pháp, đối với vị ấy, bất luận đêm hay ngày, chờ đợi là tổn giảm trong các thiện pháp, không phải tăng trưởng. Ví như, này Sàriputta, khi trăng đến độ trăng tối, bất luận đêm hay ngày, trăng tổn giảm về sắc, tổn giảm về hình tròn… tổn giảm về ánh sáng… tổn giảm về bề rộng quỹ đạo. Cũng vậy, này Sàriputta, với ai không có lòng tin trong các thiện pháp, không có xấu hổ… không có sợ hãi… không có tinh tấn… không có trí tuệ trong các thiện pháp, với người ấy, bất luận đêm hay ngày, chờ đợi là tổn giảm trong các thiện pháp, không phải tăng trưởng. Hạng người không có lòng tin trong các thiện pháp, này Sàriputta, tức là tổn giảm. Hạng người không có xấu hổ, này Sàriputta, tức là tổn giảm. Hạng người không có sợ hãi… Hạng người biếng nhác… Hạng người ác trí tuệ… Hạng người phẫn nộ… Hạng người hiềm hận… Hạng người ác dục… Hạng người ác bằng hữu… Hạng người tà kiến, này Sàriputta, tức là tổn giảm. Với ai, này Sàriputta, có lòng tin trong các thiện pháp, có lòng xấu hổ… có lòng sợ hãi.. có tinh tấn, có trí tuệ trong các thiện pháp, đối với vị ấy, bất luận đêm hay ngày, chờ đợi là tăng trưởng, không phải tổn giảm. Hạng người có lòng tin, này Sàriputta, tức là không có tổn giảm. Hạng người có xấu hổ… Hạng người có sợ hãi… Hạng người có tinh tấn… Hạng người có trí tuệ… Hạng người không có phẫn nộ… Hạng người không có hiềm hận… Hạng người ít dục… Hạng người thiện bằng hữu… Hạng người chánh tri kiến, này Sàriputta, tức là không tổn giảm.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā kosalesu cārikaṁ caramāno mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ yena naḷakapānaṁ nāma kosalānaṁ nigamo tadavasari.
Tatra sudaṁ bhagavā naḷakapāne viharati palāsavane.
Tena kho pana samayena bhagavā tadahuposathe bhikkhusaṅghaparivuto nisinno hoti.
Atha kho bhagavā bahudeva rattiṁ bhikkhūnaṁ dhammiyā kathāya sandassetvā samādapetvā samuttejetvā sampahaṁsetvā tuṇhībhūtaṁ tuṇhībhūtaṁ bhikkhusaṅghaṁ anuviloketvā āyasmantaṁ sāriputtaṁ āmantesi:
“Vigatathinamiddho kho, sāriputta, bhikkhusaṅgho.
Paṭibhātu taṁ, sāriputta, bhikkhūnaṁ dhammī kathā.
Piṭṭhi me āgilāyati;
tamahaṁ āyamissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā sāriputto bhagavato paccassosi.
Atha kho bhagavā catugguṇaṁ saṅghāṭiṁ paññāpetvā dakkhiṇena passena sīhaseyyaṁ kappesi pāde pādaṁ accādhāya sato sampajāno uṭṭhānasaññaṁ manasi karitvā.
Tatra kho āyasmā sāriputto bhikkhū āmantesi:
“āvuso bhikkhave”ti.
“Āvuso”ti kho te bhikkhū āyasmato sāriputtassa paccassosuṁ.
Āyasmā sāriputto etadavoca:
“Yassa kassaci, āvuso, saddhā natthi kusalesu dhammesu, hirī natthi …
ottappaṁ natthi …
vīriyaṁ natthi …
paññā natthi kusalesu dhammesu, tassa yā ratti vā divaso vā āgacchati, hāniyeva pāṭikaṅkhā kusalesu dhammesu no vuddhi.
Seyyathāpi, āvuso, kāḷapakkhe candassa yā ratti vā divaso vā āgacchati, hāyateva vaṇṇena hāyati maṇḍalena hāyati ābhāya hāyati ārohapariṇāhena;
evamevaṁ kho, āvuso, yassa kassaci saddhā natthi kusalesu dhammesu, hirī natthi …
ottappaṁ natthi …
vīriyaṁ natthi …
paññā natthi kusalesu dhammesu, tassa yā ratti vā divaso vā āgacchati, hāniyeva pāṭikaṅkhā kusalesu dhammesu no vuddhi.
‘Assaddho purisapuggalo’ti, āvuso, parihānametaṁ;
‘ahiriko purisapuggalo’ti, āvuso, parihānametaṁ;
‘anottappī purisapuggalo’ti, āvuso, parihānametaṁ;
‘kusīto purisapuggalo’ti, āvuso, parihānametaṁ;
‘duppañño purisapuggalo’ti, āvuso, parihānametaṁ;
‘kodhano purisapuggalo’ti, āvuso, parihānametaṁ;
‘upanāhī purisapuggalo’ti, āvuso, parihānametaṁ;
‘pāpiccho purisapuggalo’ti, āvuso, parihānametaṁ;
‘pāpamitto purisapuggalo’ti, āvuso, parihānametaṁ;
‘micchādiṭṭhiko purisapuggalo’ti, āvuso, parihānametaṁ.
Yassa kassaci, āvuso, saddhā atthi kusalesu dhammesu, hirī atthi …
ottappaṁ atthi …
paññā atthi kusalesu dhammesu, tassa yā ratti vā divaso vā āgacchati, vuddhiyeva pāṭikaṅkhā kusalesu dhammesu no parihāni.
Seyyathāpi, āvuso, juṇhapakkhe candassa yā ratti vā divaso vā āgacchati, vaḍḍhateva vaṇṇena vaḍḍhati maṇḍalena vaḍḍhati ābhāya vaḍḍhati ārohapariṇāhena;
evamevaṁ kho, āvuso, yassa kassaci saddhā atthi kusalesu dhammesu, hirī atthi …
ottappaṁ atthi …
vīriyaṁ atthi …
paññā atthi kusalesu dhammesu, tassa yā ratti vā divaso vā āgacchati, vuddhiyeva pāṭikaṅkhā kusalesu dhammesu no parihāni.
‘Saddho purisapuggalo’ti, āvuso, aparihānametaṁ;
‘hirīmā purisapuggalo’ti, āvuso, aparihānametaṁ;
‘ottappī purisapuggalo’ti, āvuso, aparihānametaṁ;
‘āraddhavīriyo purisapuggalo’ti, āvuso, aparihānametaṁ;
‘paññavā purisapuggalo’ti, āvuso, aparihānametaṁ;
‘akkodhano purisapuggalo’ti, āvuso, aparihānametaṁ;
‘anupanāhī purisapuggalo’ti, āvuso, aparihānametaṁ;
‘appiccho purisapuggalo’ti, āvuso, aparihānametaṁ;
‘kalyāṇamitto purisapuggalo’ti, āvuso, aparihānametaṁ;
‘sammādiṭṭhiko purisapuggalo’ti, āvuso, aparihānametan”ti.
Atha kho bhagavā paccuṭṭhāya āyasmantaṁ sāriputtaṁ āmantesi:
“sādhu sādhu, sāriputta.
Yassa kassaci, sāriputta, saddhā natthi kusalesu dhammesu, hirī natthi …
ottappaṁ natthi …
vīriyaṁ natthi …
paññā natthi kusalesu dhammesu, tassa yā ratti vā divaso vā āgacchati, hāniyeva pāṭikaṅkhā kusalesu dhammesu no vuddhi.
Seyyathāpi, sāriputta, kāḷapakkhe candassa yā ratti vā divaso vā āgacchati, hāyateva vaṇṇena hāyati maṇḍalena hāyati ābhāya hāyati ārohapariṇāhena;
evamevaṁ kho, sāriputta, yassa kassaci saddhā natthi kusalesu dhammesu …pe…
paññā natthi kusalesu dhammesu, tassa yā ratti vā divaso vā …pe… no vuddhi.
‘Assaddho purisapuggalo’ti, sāriputta, parihānametaṁ;
ahiriko …
anottappī …
kusīto …
duppañño …
kodhano …
upanāhī …
pāpiccho …
pāpamitto …
‘micchādiṭṭhiko purisapuggalo’ti, sāriputta, parihānametaṁ.
Yassa kassaci, sāriputta, saddhā atthi kusalesu dhammesu, hirī atthi …
ottappaṁ atthi …
vīriyaṁ atthi …
paññā atthi kusalesu dhammesu, tassa yā ratti vā divaso vā āgacchati, vuddhiyeva pāṭikaṅkhā kusalesu dhammesu no parihāni.
Seyyathāpi, sāriputta, juṇhapakkhe candassa yā ratti vā divaso vā āgacchati, vaḍḍhateva vaṇṇena vaḍḍhati maṇḍalena vaḍḍhati ābhāya vaḍḍhati ārohapariṇāhena;
evamevaṁ kho, sāriputta, yassa kassaci saddhā atthi kusalesu dhammesu, hirī atthi …
ottappaṁ atthi …
vīriyaṁ atthi …
paññā atthi kusalesu dhammesu, tassa yā ratti vā divaso vā āgacchati, vuddhiyeva pāṭikaṅkhā kusalesu dhammesu no parihāni.
‘Saddho purisapuggalo’ti, sāriputta, aparihānametaṁ;
hirīmā …
ottappī …
āraddhavīriyo …
paññavā …
akkodhano …
anupanāhī …
appiccho …
kalyāṇamitto …
‘sammādiṭṭhiko purisapuggalo’ti, sāriputta, aparihānametan”ti.
Sattamaṁ.
At one time the Buddha was wandering in the land of the Kosalans together with a large Saṅgha of mendicants when he arrived at a town of the Kosalans named Naḷakapāna.
There the Buddha stayed near Naḷakapāna in the grove of flame-of-the-forest trees.
Now, at that time it was the sabbath, and the Buddha was sitting surrounded by a Saṅgha of monks.
The Buddha spent much of the night educating, encouraging, firing up, and inspiring the mendicants with a Dhamma talk. Then he looked around the Saṅgha of mendicants, who were so very silent. He addressed Venerable Sāriputta:
“Sāriputta, the Saṅgha of mendicants is rid of dullness and drowsiness.
Give them some Dhamma talk as you feel inspired.
My back is sore,
I’ll stretch it.”
“Yes, sir,” Sāriputta replied.
And then the Buddha spread out his outer robe folded in four and laid down in the lion’s posture—on the right side, placing one foot on top of the other—mindful and aware, and focused on the time of getting up.
There Sāriputta addressed the mendicants:
“Reverends, mendicants!”
“Reverend,” they replied.
Sāriputta said this:
“Reverends, whoever has no faith, conscience, prudence, energy, and wisdom when it comes to skillful qualities
can expect decline, not growth, in skillful qualities, whether by day or by night.
It’s like the moon in the waning fortnight. Whether by day or by night, its beauty, roundness, luminosity, and diameter and circumference only decline.
In the same way, whoever has no faith, conscience, prudence, energy, and wisdom when it comes to skillful qualities
can expect decline, not growth, in skillful qualities, whether by day or by night.
A faithless individual is in decline.
An individual with no conscience is in decline.
An imprudent individual is in decline.
A lazy individual is in decline.
A witless individual is in decline.
An irritable individual is in decline.
An acrimonious individual is in decline.
An individual with corrupt wishes is in decline.
An individual with bad friends is in decline.
An individual with wrong view is in decline.
Whoever has faith, conscience, prudence, energy, and wisdom when it comes to skillful qualities
can expect growth, not decline, in skillful qualities, whether by day or by night.
It’s like the moon in the waxing fortnight. Whether by day or by night, its beauty, roundness, luminosity, and diameter and circumference only grow.
In the same way, whoever has faith, conscience, prudence, energy, and wisdom when it comes to skillful qualities
can expect growth, not decline, in skillful qualities, whether by day or by night.
A faithful individual doesn’t decline.
An individual with a conscience doesn’t decline.
A prudent individual doesn’t decline.
An energetic individual doesn’t decline.
A wise individual doesn’t decline.
A loving individual doesn’t decline.
A kind individual doesn’t decline.
An individual with few desires doesn’t decline.
An individual with good friends doesn’t decline.
An individual with right view doesn’t decline.”
Then the Buddha got up and said to Venerable Sāriputta:
“Good, good, Sāriputta!
Whoever has no faith, conscience, prudence, energy, and wisdom when it comes to skillful qualities
can expect decline, not growth, in skillful qualities, whether by day or by night.
It’s like the moon in the waning fortnight. Whether by day or by night, its beauty, roundness, luminosity, and diameter and circumference only decline.
In the same way, whoever has no faith, conscience, prudence, energy, and wisdom when it comes to skillful qualities
can expect decline, not growth, in skillful qualities, whether by day or by night.
A faithless individual is in decline.
An individual with no conscience …
imprudent …
lazy …
witless …
irritable …
acrimonious …
with corrupt wishes …
bad friends …
An individual with wrong view is in decline.
Whoever has faith, conscience, prudence, energy, and wisdom when it comes to skillful qualities
can expect growth, not decline, in skillful qualities, whether by day or by night.
It’s like the moon in the waxing fortnight. Whether by day or by night, its beauty, roundness, luminosity, and diameter and circumference only grow.
In the same way, whoever has faith, conscience, prudence, energy, and wisdom when it comes to skillful qualities
can expect growth, not decline, in skillful qualities, whether by day or by night.
A faithful individual doesn’t decline.
A conscientious individual …
prudent …
energetic …
wise …
loving …
kind …
with few desires …
good friends …
An individual with right view doesn’t decline.”
TTC 1Một thời, Thế Tôn bộ hành giữa dân chúng Kosala, với đại chúng Tỷ-kheo, đi đến tại một thị trấn của dân chúng Kosala tên là Nalakapàna. Tại đấy, Thế Tôn trú ở rừng Palàsa, tại Nalakapàna. Lúc bấy giờ, Thế Tôn nhân ngày trai giới Uposatha, Thế Tôn đang ngồi, có chúng Tỷ-kheo đoanh vây. Rồi Thế Tôn sau phần lớn của đêm, thuyết giảng, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ các vị Tỷ-kheo với pháp thoại; sau khi nhìn xung quanh chúng Tỷ-kheo đang yên lặng, thật yên lặng, nói với Tôn giả Sàriputta:
—Này Sàriputta, chúng Tỷ-kheo không có hôn trầm thụy miên. Này Sàriputta, hãy thuyết pháp cho chúng Tỷ-kheo. Lưng Ta đau mỏi, Ta sẽ nằm duỗi lưng.
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Tôn giả Sàriputta vâng đáp Thế Tôn. Rồi Thế Tôn trải gấp tư áo Tăng-già-lê, nằm phía thân hữu bên phải như dáng nằm con sư tử, hai chân đặt trên nhau, chánh niệm tỉnh giác, tác ý đến tưởng ngồi dậy.
TTC 2Ở đây, Tôn giả Sàriputta gọi các Tỷ-kheo:
—Này chư Hiền Tỷ-kheo.
—Thưa vâng, Hiền giả.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Sàriputta, Tôn giả Sàriputta nói như sau:
TTC 3—Này chư Hiền, với ai không có lòng tin trong các pháp thiện, không có xấu hổ… không có sợ hãi… không có tinh tấn… không có tuệ trong pháp thiện, với người ấy, bất luận đêm hay ngày, chờ đợi là tổn giảm trong các thiện pháp, không phải tăng trưởng.
Ví như, này chư Hiền, khi trăng đến độ trăng tối; bất luận đêm hay ngày, trăng tổn giảm về sắc, tổn giảm về hình tròn, tổn giảm về ánh sáng, tổn giảm về bề rộng quỹ đạo. Cũng vậy, này chư Hiền, với ai không lòng tin trong các thiện pháp, không có xấu hổ… không có sợ hãi… không có tinh tấn… không có trí tuệ trong các thiện pháp, với người ấy, bất luận là đêm hay ngày, chờ đợi là tổn giảm trong các thiện pháp, không phải tăng trưởng. Hạng người không có lòng tin, này chư Hiền, tức là tổn giảm. Hạng người không có sợ hãi, này chư Hiền, tức là tổn giảm. Hạng người phẫn nộ, này chư Hiền, tức là tổn giảm. Hạng người ác dục, này chư Hiền, tức là tổn giảm. Hạng người ác bằng hữu, này chư Hiền, tức là tổn giảm. Hạng người tà kiến, này chư Hiền, tức là tổn giảm.
TTC 4Này chư Hiền, với ai có lòng tin trong các thiện pháp, có lòng xấu hổ… có lòng sợ hãi… có tinh tấn… có trí tuệ trong các thiện pháp, với người ấy, bất luận đêm hay ngày, chờ đợi là tăng trưởng trong các thiện pháp, không phải tổn giảm. Ví như, này chư Hiền, khi trăng đến độ trăng sáng, bất luận đêm hay ngày, trăng tăng trưởng về ánh sáng, tăng trưởng về hình tròn, tăng trưởng về ánh sáng, tăng trưởng về bề rộng quỹ đạo. Cũng vậy, này chư Hiền, với ai có lòng tin trong các thiện pháp, có xấu hổ… có sợ hãi… có tinh tấn… có trí tuệ trong các thiện pháp, với vị ấy bất luận đêm hay ngày, chờ đợi là tăng trưởng trong các thiện pháp, không phải tổn giảm. Hạng người có lòng tin trong các thiện pháp, này chư Hiền, tức là không tổn giảm. Hạng người có lòng xấu hổ, này chư Hiền, tức là không tổn giảm. Hạng người có lòng sợ hãi, này chư Hiền, tức là không tổn giảm. Hạng người tinh cần tinh tấn, này chư Hiền, tức là không tổn giảm. Hạng người có trí tuệ, này chư Hiền, tức là không tổn giảm. Hạng người không có phẫn nộ, này chư Hiền, tức là không tổn giảm. Hạng người không hiềm hận, này chư hiền, tức là không tổn giảm. Hạng người thiện bằng hữu, này chư Hiền, tức là không tổn giảm. Hạng người chánh tri kiến, này chư Hiền, tức là không tổn giảm.
TTC 5Rồi Thế Tôn, sau khi ngồi dậy, bảo Tôn giả Sàriputta:
—Lành thay, lành thay, này Sàriputta! Với ai không có lòng tin trong các thiện pháp, không có xấu hổ… không có sợ hãi… không có tinh tấn… không có trí tuệ trong các thiện pháp, đối với vị ấy, bất luận đêm hay ngày, chờ đợi là tổn giảm trong các thiện pháp, không phải tăng trưởng. Ví như, này Sàriputta, khi trăng đến độ trăng tối, bất luận đêm hay ngày, trăng tổn giảm về sắc, tổn giảm về hình tròn… tổn giảm về ánh sáng… tổn giảm về bề rộng quỹ đạo. Cũng vậy, này Sàriputta, với ai không có lòng tin trong các thiện pháp, không có xấu hổ… không có sợ hãi… không có tinh tấn… không có trí tuệ trong các thiện pháp, với người ấy, bất luận đêm hay ngày, chờ đợi là tổn giảm trong các thiện pháp, không phải tăng trưởng. Hạng người không có lòng tin trong các thiện pháp, này Sàriputta, tức là tổn giảm. Hạng người không có xấu hổ, này Sàriputta, tức là tổn giảm. Hạng người không có sợ hãi… Hạng người biếng nhác… Hạng người ác trí tuệ… Hạng người phẫn nộ… Hạng người hiềm hận… Hạng người ác dục… Hạng người ác bằng hữu… Hạng người tà kiến, này Sàriputta, tức là tổn giảm. Với ai, này Sàriputta, có lòng tin trong các thiện pháp, có lòng xấu hổ… có lòng sợ hãi.. có tinh tấn, có trí tuệ trong các thiện pháp, đối với vị ấy, bất luận đêm hay ngày, chờ đợi là tăng trưởng, không phải tổn giảm. Hạng người có lòng tin, này Sàriputta, tức là không có tổn giảm. Hạng người có xấu hổ… Hạng người có sợ hãi… Hạng người có tinh tấn… Hạng người có trí tuệ… Hạng người không có phẫn nộ… Hạng người không có hiềm hận… Hạng người ít dục… Hạng người thiện bằng hữu… Hạng người chánh tri kiến, này Sàriputta, tức là không tổn giảm.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā kosalesu cārikaṁ caramāno mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ yena naḷakapānaṁ nāma kosalānaṁ nigamo tadavasari.
Tatra sudaṁ bhagavā naḷakapāne viharati palāsavane.
Tena kho pana samayena bhagavā tadahuposathe bhikkhusaṅghaparivuto nisinno hoti.
Atha kho bhagavā bahudeva rattiṁ bhikkhūnaṁ dhammiyā kathāya sandassetvā samādapetvā samuttejetvā sampahaṁsetvā tuṇhībhūtaṁ tuṇhībhūtaṁ bhikkhusaṅghaṁ anuviloketvā āyasmantaṁ sāriputtaṁ āmantesi:
“Vigatathinamiddho kho, sāriputta, bhikkhusaṅgho.
Paṭibhātu taṁ, sāriputta, bhikkhūnaṁ dhammī kathā.
Piṭṭhi me āgilāyati;
tamahaṁ āyamissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā sāriputto bhagavato paccassosi.
Atha kho bhagavā catugguṇaṁ saṅghāṭiṁ paññāpetvā dakkhiṇena passena sīhaseyyaṁ kappesi pāde pādaṁ accādhāya sato sampajāno uṭṭhānasaññaṁ manasi karitvā.
Tatra kho āyasmā sāriputto bhikkhū āmantesi:
“āvuso bhikkhave”ti.
“Āvuso”ti kho te bhikkhū āyasmato sāriputtassa paccassosuṁ.
Āyasmā sāriputto etadavoca:
“Yassa kassaci, āvuso, saddhā natthi kusalesu dhammesu, hirī natthi …
ottappaṁ natthi …
vīriyaṁ natthi …
paññā natthi kusalesu dhammesu, tassa yā ratti vā divaso vā āgacchati, hāniyeva pāṭikaṅkhā kusalesu dhammesu no vuddhi.
Seyyathāpi, āvuso, kāḷapakkhe candassa yā ratti vā divaso vā āgacchati, hāyateva vaṇṇena hāyati maṇḍalena hāyati ābhāya hāyati ārohapariṇāhena;
evamevaṁ kho, āvuso, yassa kassaci saddhā natthi kusalesu dhammesu, hirī natthi …
ottappaṁ natthi …
vīriyaṁ natthi …
paññā natthi kusalesu dhammesu, tassa yā ratti vā divaso vā āgacchati, hāniyeva pāṭikaṅkhā kusalesu dhammesu no vuddhi.
‘Assaddho purisapuggalo’ti, āvuso, parihānametaṁ;
‘ahiriko purisapuggalo’ti, āvuso, parihānametaṁ;
‘anottappī purisapuggalo’ti, āvuso, parihānametaṁ;
‘kusīto purisapuggalo’ti, āvuso, parihānametaṁ;
‘duppañño purisapuggalo’ti, āvuso, parihānametaṁ;
‘kodhano purisapuggalo’ti, āvuso, parihānametaṁ;
‘upanāhī purisapuggalo’ti, āvuso, parihānametaṁ;
‘pāpiccho purisapuggalo’ti, āvuso, parihānametaṁ;
‘pāpamitto purisapuggalo’ti, āvuso, parihānametaṁ;
‘micchādiṭṭhiko purisapuggalo’ti, āvuso, parihānametaṁ.
Yassa kassaci, āvuso, saddhā atthi kusalesu dhammesu, hirī atthi …
ottappaṁ atthi …
paññā atthi kusalesu dhammesu, tassa yā ratti vā divaso vā āgacchati, vuddhiyeva pāṭikaṅkhā kusalesu dhammesu no parihāni.
Seyyathāpi, āvuso, juṇhapakkhe candassa yā ratti vā divaso vā āgacchati, vaḍḍhateva vaṇṇena vaḍḍhati maṇḍalena vaḍḍhati ābhāya vaḍḍhati ārohapariṇāhena;
evamevaṁ kho, āvuso, yassa kassaci saddhā atthi kusalesu dhammesu, hirī atthi …
ottappaṁ atthi …
vīriyaṁ atthi …
paññā atthi kusalesu dhammesu, tassa yā ratti vā divaso vā āgacchati, vuddhiyeva pāṭikaṅkhā kusalesu dhammesu no parihāni.
‘Saddho purisapuggalo’ti, āvuso, aparihānametaṁ;
‘hirīmā purisapuggalo’ti, āvuso, aparihānametaṁ;
‘ottappī purisapuggalo’ti, āvuso, aparihānametaṁ;
‘āraddhavīriyo purisapuggalo’ti, āvuso, aparihānametaṁ;
‘paññavā purisapuggalo’ti, āvuso, aparihānametaṁ;
‘akkodhano purisapuggalo’ti, āvuso, aparihānametaṁ;
‘anupanāhī purisapuggalo’ti, āvuso, aparihānametaṁ;
‘appiccho purisapuggalo’ti, āvuso, aparihānametaṁ;
‘kalyāṇamitto purisapuggalo’ti, āvuso, aparihānametaṁ;
‘sammādiṭṭhiko purisapuggalo’ti, āvuso, aparihānametan”ti.
Atha kho bhagavā paccuṭṭhāya āyasmantaṁ sāriputtaṁ āmantesi:
“sādhu sādhu, sāriputta.
Yassa kassaci, sāriputta, saddhā natthi kusalesu dhammesu, hirī natthi …
ottappaṁ natthi …
vīriyaṁ natthi …
paññā natthi kusalesu dhammesu, tassa yā ratti vā divaso vā āgacchati, hāniyeva pāṭikaṅkhā kusalesu dhammesu no vuddhi.
Seyyathāpi, sāriputta, kāḷapakkhe candassa yā ratti vā divaso vā āgacchati, hāyateva vaṇṇena hāyati maṇḍalena hāyati ābhāya hāyati ārohapariṇāhena;
evamevaṁ kho, sāriputta, yassa kassaci saddhā natthi kusalesu dhammesu …pe…
paññā natthi kusalesu dhammesu, tassa yā ratti vā divaso vā …pe… no vuddhi.
‘Assaddho purisapuggalo’ti, sāriputta, parihānametaṁ;
ahiriko …
anottappī …
kusīto …
duppañño …
kodhano …
upanāhī …
pāpiccho …
pāpamitto …
‘micchādiṭṭhiko purisapuggalo’ti, sāriputta, parihānametaṁ.
Yassa kassaci, sāriputta, saddhā atthi kusalesu dhammesu, hirī atthi …
ottappaṁ atthi …
vīriyaṁ atthi …
paññā atthi kusalesu dhammesu, tassa yā ratti vā divaso vā āgacchati, vuddhiyeva pāṭikaṅkhā kusalesu dhammesu no parihāni.
Seyyathāpi, sāriputta, juṇhapakkhe candassa yā ratti vā divaso vā āgacchati, vaḍḍhateva vaṇṇena vaḍḍhati maṇḍalena vaḍḍhati ābhāya vaḍḍhati ārohapariṇāhena;
evamevaṁ kho, sāriputta, yassa kassaci saddhā atthi kusalesu dhammesu, hirī atthi …
ottappaṁ atthi …
vīriyaṁ atthi …
paññā atthi kusalesu dhammesu, tassa yā ratti vā divaso vā āgacchati, vuddhiyeva pāṭikaṅkhā kusalesu dhammesu no parihāni.
‘Saddho purisapuggalo’ti, sāriputta, aparihānametaṁ;
hirīmā …
ottappī …
āraddhavīriyo …
paññavā …
akkodhano …
anupanāhī …
appiccho …
kalyāṇamitto …
‘sammādiṭṭhiko purisapuggalo’ti, sāriputta, aparihānametan”ti.
Sattamaṁ.