TTC 1Một thời, Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương Xá) tại núi Gijihakùta (Linh Thứu).
Lúc bấy giờ, Tôn giả Dhammika trú tại chỗ sanh trưởng của mình và có tất cả bảy trú xứ tại chỗ sanh trưởng ấy. Tại đấy, Tôn giả Dhammika đối với các khách Tỷ-kheo, mắng nhiếc, quở trách, não hại, châm biếm, khiến họ tức giận với những lời nói. Và các khách Tỷ-kheo ấy bị Tôn giả Dhammika mắng nhiếc, quở trách, não hại, châm biếm, khiến họ tức giận, liền bỏ đi, không có an trú và từ bỏ trú xứ. Rồi các cư sĩ tại chỗ sanh trưởng, suy nghĩ như sau: “Chúng ta đã cung cấp cho chúng Tỷ-kheo Tăng các vật dụng cần thiết như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh, nhưng các khách Tỷ-kheo lại bỏ đi, không có an trú và từ bỏ trú xứ. Do nhân gì, do duyên gì, các khách Tỷ-kheo lại bỏ đi, không có an trú, từ bỏ trú xứ?” Rồi các cư sĩ tại chỗ sanh trưởng suy nghĩ: “Có Tôn giả Dhammika này mắng nhiếc các khách Tỷ-kheo, quở trách, não hại, châm biếm, làm họ tức giận với những lời nói. Các khách Tỷ-kheo ấy bị Tôn giả Dhammika mắng nhiếc, quở trách, não hại, châm biếm, làm cho tức giận với những lời nói, nên bỏ đi, không có an trú, từ bỏ trú xứ. Vậy chúng ta hãy mời Tôn giả Dhammika đi chỗ khác.” Rồi các cư sĩ tại chỗ sanh trưởng đi đến Tôn giả Dhammika; sau khi đến, thưa với Tôn giả Dhammika: “Thưa Tôn giả, Tôn giả Dhammika hãy từ bỏ trú xứ này. Tôn giả trú ở đây đã vừa đủ rồi.”
TTC 2Rồi Tôn giả Dhammika từ bỏ trú xứ ấy, đi đến một trú xứ khác. Tại đấy, Tôn giả Dhammika mắng nhiếc các khách Tỷ-kheo, quở trách, não hại, châm biếm, làm cho tức giận với các lời nói. Và các khách Tỷ-kheo ấy bị Tôn giả Dhammika mắng nhiếc, quở trách, não hại, châm biếm, làm cho tức giận với các lời nói, liền bỏ đi, không an trú, và từ bỏ trú xứ. Rồi các cư sĩ tại chỗ sanh trưởng suy nghĩ như sau: “Chúng ta đã cung cấp cho chúng Tỷ-kheo các vật dụng cần thiết, như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh, nhưng các khách Tỷ-kheo lại bỏ đi, không an trú, từ bỏ trú xứ. Do nhân gì, do duyên gì, các khách Tỷ-kheo lại bỏ đi, không có an trú, từ bỏ trú xứ?” Rồi các cư sĩ tại chỗ sanh trưởng suy nghĩ: “Có Tôn giả Dhammika này mắng nhiếc các khách Tỷ-kheo, quở trách, não hại, châm biếm, làm họ tức giận với những lời nói. Các khách Tỷ-kheo ấy bị Tôn giả Dhammika mắng nhiếc, quở trách, não hại, châm biếm, làm họ tức giận, nên bỏ đi, không có an trú, từ bỏ trú xứ. Vậy chúng ta hãy mời Tôn giả Dhammika đi đến chỗ khác”. Rồi các cư sĩ tại chỗ sanh trưởng đi đến Tôn giả Dhammika; sau khi đến, thưa với Tôn giả Dhammika: “Thưa Tôn giả, Tôn giả Dhammika hãy từ bỏ trú xứ này. Tôn giả trú ở đây đã vừa đủ rồi”.
TTC 3Rồi Tôn giả Dhammika từ bỏ trú xứ ấy, đi đến một xứ khác . Tại đấy, Tôn giả Dhammika mắng nhiếc các khách Tỷ-kheo, quở trách, não hại, châm biếm, làm tức giận với lời nói. Và các khách Tỷ-kheo ấy bị Tôn giả Dhammika mắng nhiếc, quở trách, não hại, châm biếm, làm cho tức giận với lời nói, liền bỏ đi, không có an trú và từ bỏ trú xứ. Rồi các cư sĩ tại chỗ sanh trưởng suy nghĩ như sau: “Chúng ta đã cung cấp cho chúng Tỷ-kheo các vật dụng cần thiết như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh, nhưng các khách Tỷ-kheo lại bỏ đi, không an trú, từ bỏ trú xứ. Do nhân gì, do duyên gì, các khách Tỷ-kheo lại bỏ đi, không có an trú, từ bỏ trú xứ? “. Rồi các cư sĩ tại chỗ sanh trưởng suy nghĩ: “Có Tôn giả Dhammika này mắng nhiếc, quở trách, não hại, châm biếm, làm họ tức giận với những lời nói. Các khách Tỷ-kheo ấy bị Tôn giả Dhammika mắng nhiếc, quở trách, não hại, châm biếm, làm tức giận với những lời nói, nên bỏ đi, không có an trú, từ bỏ trú xứ. Vậy chúng ta hãy mời Tôn giả Dhammika rời bỏ hoàn toàn bảy trú xứ tại chỗ đất sanh trưởng”. Rồi các cư sĩ tại chỗ đất sanh trưởng đi đến Tôn giả Dhammika; sau khi đến, nói với Tôn giả Dhammika: “Thưa Tôn giả, Tôn giả Dhammika hãy rời bỏ hoàn toàn bảy trú xứ tại chỗ đất sanh trưởng”.
TTC 4Rồi Tôn giả Dhammika suy nghĩ: “Ta đã bị các cư sĩ tại chỗ đất sanh trưởng mời rời bỏ hoàn toàn bảy trú xứ tại chỗ đất sanh trưởng. Nay ta sẽ đi tại chỗ nào? Ta hãy đi đến Thế Tôn”. Rồi Tôn giả Dhammika cầm y bát, ra đi, hướng đến Ràjagaha (Vương Xá), dần dần đi đến núi Gijihakùta (Linh Thứu) tại Ràjagaha; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Tôn giả Dhammika đang ngồi xuống một bên:
—Này Bà-la-môn Dhammika, Ông đi từ đâu đến?
—Bạch Thế Tôn, con bị các cư sĩ tại chỗ đất sanh trưởng mời rời bỏ hoàn toàn bảy trú xứ tại chỗ đất sanh trưởng!
—Thôi vừa rồi, này Bà-la-môn Dhammika! Sự việc này, đối với Ông có hề hấn gì! Dầu họ có mời Ông từ bỏ tại chỗ nào, chỗ nào, sau khi đã từ bỏ chỗ ấy, chỗ ấy, Ông đã đi đến gần Ta!
TTC 5Trong quá khứ, này Bà-la-môn Dhammika, các nhà buôn đường biển đem theo một con chim để tìm bờ, khi họ đi tàu ra biển. Khi chiếc tàu ra xa, không thấy bờ, họ thả con chim đi tìm bờ. Con chim bay về hướng Ðông, bay về hướng Tây, bay về hướng Bắc, bay về hướng Nam, bay về hướng Trên, bay về hướng Gió. Nếu nó thấy bờ xung quanh, nó liền bay luôn. Nếu nó không thấy bờ xung quanh, nó bay trở lui về tàu. Cũng vậy, này Bà-la-môn Dhammika, dầu họ có mời Ông từ bỏ tại chỗ nào, chỗ nào, sau khi đã từ bỏ chỗ ấy, chỗ ấy, Ông đã đi đến gần Ta.
TTC 6Thuở xưa, này Bà-la-môn Dhammika, vua Koravya có một cây bàng chúa tên là Suppatittha, cây này có năm cành, có bóng mát dịu, rất là khả ý. Này Bà-la-môn Dhammika, cây bàng chúa Suppatittha tỏa rộng ra đến mười hai do tuần, các rễ mọc lan rộng đến năm do tuần. Này Bà-la-môn Dhammika, cây bàng chúa Suppatittha có những trái cây to lớn, lớn như những cái nồi con; những trái cây ngọt lịm như vậy, trong sáng và ngọt như mật ong. Này Bà-la-môn Dhammika, vua với các cung nữ hưởng thụ một cành cây của cây bàng chúa Suppatittha; quân đội hưởng thụ một cành; các Sa-môn, Bà-la-môn hưởng thụ một cành; các loài thú, loài chim hưởng thụ một cành. Này Bà-la-môn Dhammika, không có ai phòng hộ các trái của cây bàng chúa Suppatittha, và không có ai hại nhau vì trái cây. Rồi này Bà-la-môn Dhammika, một người sau khi đã ăn hết cho đến thỏa thích những trái của cây bàng chúa Suppatittha, liền bẻ gãy một cành rồi bỏ đi. Rồi này Bà-la-môn Dhammika, vị Thiên trú ở cây bàng chúa Suppatittha suy nghĩ như sau: “Thật là vi diệu, thưa Tôn giả! Thật là hy hữu, thưa Tôn giả, con người lại ác cho đến như vậy! Sau khi ăn cho đến thỏa thích các trái của cây bàng chúa Suppatittha, lại bẻ một cành rồi bỏ đi! Vậy cây bàng chúa Suppatittha hãy đừng sanh trái nữa trong tương lai! “Rồi này Bà-la-môn Dhammika, cây bàng chúa Suppatittha không sanh trái nữa trong tương lai. Rồi này Bà-la-môn Dhammika, vua Koravya đi đến Thiên chủ Sakka; sau khi đến, thưa với Thiên chủ Sakka: “Tôn giả có biết không? Cây bàng chúa Suppatittha không sanh trái nữa! “Rồi này Bà-la-môn Dhammika, Thiên chủ Sakka thực hiện thần thông, khiến cho mưa to gió lớn khởi lên, làm cây bàng chúa Suppatittha ngã xuống và bật gốc rễ. Này Bà-la-môn Dhammika, vị Thiên trú ở cây bàng chúa Suppatittha khổ đau, sầu muộn, nước mắt đầy mặt, khóc lóc, đứng một bên. Này Bà-la-môn Dhammika, rồi Thiên chủ Suppatittha đi đến vị Thiên trú ở cây bàng chúa Suppatittha, sau khi đến, nói với vị Thiên trú ở cây bàng chúa Suppatittha như sau:
“—Vì sao, này vị Thiên kia, Ông lại khổ đau, sầu muộn, nước mắt đầy mặt, khóc lóc, đứng một bên?
“—Thưa Tôn giả, có cơn mưa to gió lớn khởi lên, và làm cho chỗ trú xứ của con bị ngã xuống và bật gốc rễ lên.
“—Này vị Thiên kia, có phải Ông đang gìn giữ cây pháp, nhưng cơn mưa to lớn ấy khởi lên, làm trú xứ của Ông bị ngã xuống và bật gốc rễ lên?
“—Làm thế nào, thưa Tôn giả, một cây… được gìn giữ như một cây pháp?
“—Ở đây, này vị Thiên kia, những người cần rễ đến lấy rễ cây đi, những người cần vỏ đến lấy vỏ cây đi. Những người cần lá đến lấy lá đi. Những người cần bông đến lấy bông đi. Những người cần trái đến lấy trái đi. Như vậy, không có gì để khiến cho một vị Thiên phải không hoan hỷ, không vui vẻ. Như vậy, là một cây được gìn giữ như một cây pháp.
“—Thưa Tôn giả, con không gìn giữ một cây pháp, khi cơn mưa to lớn ấy khởi lên, làm chỗ trú xứ của con ngã xuống và bật gốc rễ lên!
“—Này vị Thiên kia, nếu Ông gìn giữ cây pháp, thời trú xứ của Ông sẽ trở lại như xưa.
Thưa Tôn giã, con sẽ gìn giữ cây pháp, mong rằng trú xứ cuả con trở lại như xưa.
Rồi Thiên chủ Sakka thực hiện thần thông khiến cho mưa to gió lớn đến dựng đứng lại cây bàng chúa và chữa lành những rễ cây.
Cũng vậy, này Bà-la-môn Dhammika, Ông có gìn giữ Sa-môn pháp, khi các người cư sĩ tại chỗ sanh trưởng mời Ông đi khỏi bảy trú xứ tại chỗ sanh trưởng không?
—Như thế nào, thưa Tôn giả, là một Sa-môn gìn giữ Sa-môn pháp?
—Như thế này, này Bà-la-môn Dhammika, ở đây, một Sa-môn không có mắng nhiếc lại người đã mắng nhiếc mình, không có tức giận người đã tức giận mình, không có quở trách người đã quở trách mình. Như vậy, này Bà-la-môn Dhammika, là vị Sa-môn gìn giữ Sa-môn pháp.
—Thưa Tôn giả, con không gìn giữ Sa-môn pháp khi những người cư sĩ ở tại chỗ sanh trưởng mời con đi khỏi hoàn toàn bảy trú xứ trong chỗ được sanh trưởng.
TTC 7—Thuở xưa, này Bà-la-môn Dhammika, có một ngoại đạo sư tên là Sunettto (Diệu Nhãn) đã viễn ly các dục. Này Bà-la-môn Dhammika, ngoại đạo sư Sunetto có hàng trăm đệ tử. Ngoại đạo sư Sunetto thuyết pháp về cộng trú tại Phạm thiên giới cho các người đệ tử. Những ai nghe ngoại đạo sư Sunetto thuyết giảng về cộng trú tại Phạm thiên giới, này Bà-la-môn Dhammika, tâm không được hoan hỷ, các người ấy sau khi thân hoại mạng chung bị sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Còn những ai, này Bà-la-môn Dhammika, nghe ngoại đạo sư Sunetto thuyết giảng về cọng trú tại Phạm thiên giới, tâm được hoan hỷ, các người ấy sau khi thân hoại mạng chung được sanh vào thiện thú, Thiên giới, cõi đời này. Thuở xưa, này Bà-la-môn Dhammika, có ngoại đạo sư tên là Mugapakkha… có ngoại đạo sư tên là Aranemi… có ngoại đạo sư tên là Kuddàlaka… có ngoại đạo sư tên là Hatthipàla… có ngoại đạo sư tên là Jotipàla đã viễn ly các dục… được sanh vào thiện thú, Thiên giới, cõi đời này. Ông nghĩ thế nào, này Bà-la-môn Dhammika, đối với sáu ngoại đạo sư này đã viễn ly các dục, hay đối với chúng đệ tử hàng trăm hội chúng của những vị ấy, ai với tâm uế nhiễm, mắng nhiếc, quở trách, như vậy có sanh khởi ra nhiều vô phước không?
—Thưa có, bạch Thế Tôn.
TTC 8—Thật vậy, này Bà-la-môn Dhammika, đối với sáu ngoại đạo sư này đã viễn ly các dục, hay đối với chúng đệ tử hàng trăm hội chúng của những vị ấy, ai với tâm uế nhiễm, mắng nhiếc, quở trách, có sanh khởi ra nhiều vô phước. Còn ai, đối với vị đầy đủ chánh kiến, với tâm uế nhiễm, mắng nhiếc, quở trách, như vậy sanh khởi ra nhiều vô phước hơn nữa. Vì cớ sao? Ta tuyên bố rằng, này Bà-la-môn Dhammika, sự tổn hại đối với các ngoại đạo sư như vậy không bằng sự tổn hại nếu đối xử với các vị đồng Phạm hạnh. Do vậy, này các Bà-la-môn Dhammika, cần phải học tập như sau:
TTC 9Chúng tôi sẽ không có tâm uế nhiễm đối với vị đồng Phạm hạnh”. Này Bà-la-môn Dhammika, các Ông cần phải học tập như vậy.
Các vị Bà-la-môn,
Như Sư Sunetto,
Sư Mugapakkha,
Và Aranemi,
Sư Kuddalaka,
Và Hatthipàla,
Sư Jotipàla,
Và Sư Govinda,
Là quốc sư thứ bảy.
Sáu Sư bạn vị này,
Là những vị danh tiếng,
Quá khứ không hại ai,
Thoát hôi hám, từ bi,
Giải thoát dục kiết sử,
Thoát ly tham ái dục,
Ðạt được Phạm thiên giới.
Và các hàng đệ tử,
Con số lên hàng trăm,
Thoát hôi hám, từ bi,
Giải thoát dục kiết sử,
Thoát ly tham ái dục,
Ðạt được Phạm thiên giới.
Ẩn sĩ ngoại đạo ấy,
Ly tham, tâm Thiền định,
Nếu với tâm uế nhiễm,
Có ai mắng nhiếc họ,
Người như vậy tạo ra,
Rất nhiều sự vô phước.
Ðối một đệ tử Phật,
Tỷ-kheo có chánh kiến,
Nếu với tâm uế nhiễm,
Có ai mắng vị ấy,
Người như vậy tạo ra,
Nhiều vô phước hơn nữa
Chớ phật lòng bậc thiện,
Hãy từ bỏ kiến xứ,
Tối thượng trong Thánh chúng,
Vị ấy được gọi vậy.
Ai chưa ly các dục,
Năm căn còn mềm dịu,
Tín, niệm và tinh tấn,
Với chỉ và với quán,
Nếu phật ý vị ấy,
Trước hết tự hại mình,
Sau khi tự hại mình,
Lại hại đến người khác,
Ai tự bảo vệ mình,
Bề ngoài cũng bảo vệ,
Do vậy, bảo vệ mình,
Bậc trí không tổn hại.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā rājagahe viharati gijjhakūṭe pabbate.
Tena kho pana samayena āyasmā dhammiko jātibhūmiyaṁ āvāsiko hoti sabbaso jātibhūmiyaṁ sattasu āvāsesu.
Tatra sudaṁ āyasmā dhammiko āgantuke bhikkhū akkosati paribhāsati vihiṁsati vitudati roseti vācāya.
Te ca āgantukā bhikkhū āyasmatā dhammikena akkosiyamānā paribhāsiyamānā vihesiyamānā vitudiyamānā rosiyamānā vācāya pakkamanti, na saṇṭhanti, riñcanti āvāsaṁ.
Atha kho jātibhūmakānaṁ upāsakānaṁ etadahosi:
“mayaṁ kho bhikkhusaṅghaṁ paccupaṭṭhitā cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārena.
Atha ca pana āgantukā bhikkhū pakkamanti, na saṇṭhanti, riñcanti āvāsaṁ.
Ko nu kho hetu ko paccayo yena āgantukā bhikkhū pakkamanti, na saṇṭhanti, riñcanti āvāsan”ti?
Atha kho jātibhūmakānaṁ upāsakānaṁ etadahosi:
“ayaṁ kho āyasmā dhammiko āgantuke bhikkhū akkosati paribhāsati vihiṁsati vitudati roseti vācāya.
Te ca āgantukā bhikkhū āyasmatā dhammikena akkosiyamānā paribhāsiyamānā vihesiyamānā vitudiyamānā rosiyamānā vācāya pakkamanti, na saṇṭhanti, riñcanti āvāsaṁ.
Yannūna mayaṁ āyasmantaṁ dhammikaṁ pabbājeyyāmā”ti.
Atha kho jātibhūmakā upāsakā yena āyasmā dhammiko tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ dhammikaṁ etadavocuṁ:
“pakkamatu, bhante, āyasmā dhammiko imamhā āvāsā;
alaṁ te idha vāsenā”ti.
Atha kho āyasmā dhammiko tamhā āvāsā aññaṁ āvāsaṁ agamāsi.
Tatrapi sudaṁ āyasmā dhammiko āgantuke bhikkhū akkosati paribhāsati vihiṁsati vitudati roseti vācāya.
Te ca āgantukā bhikkhū āyasmatā dhammikena akkosiyamānā paribhāsiyamānā vihesiyamānā vitudiyamānā rosiyamānā vācāya pakkamanti, na saṇṭhanti, riñcanti āvāsaṁ.
Atha kho jātibhūmakānaṁ upāsakānaṁ etadahosi:
“mayaṁ kho bhikkhusaṅghaṁ paccupaṭṭhitā cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārena.
Atha ca pana āgantukā bhikkhū pakkamanti, na saṇṭhanti, riñcanti āvāsaṁ.
Ko nu kho hetu ko paccayo yena āgantukā bhikkhū pakkamanti, na saṇṭhanti, riñcanti āvāsan”ti?
Atha kho jātibhūmakānaṁ upāsakānaṁ etadahosi:
“ayaṁ kho āyasmā dhammiko āgantuke bhikkhū akkosati paribhāsati vihiṁsati vitudati roseti vācāya.
Te ca āgantukā bhikkhū āyasmatā dhammikena akkosiyamānā paribhāsiyamānā vihesiyamānā vitudiyamānā rosiyamānā vācāya pakkamanti, na saṇṭhanti, riñcanti āvāsaṁ.
Yannūna mayaṁ āyasmantaṁ dhammikaṁ pabbājeyyāmā”ti.
Atha kho jātibhūmakā upāsakā yenāyasmā dhammiko tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ dhammikaṁ etadavocuṁ:
“pakkamatu, bhante, āyasmā dhammiko imamhāpi āvāsā;
alaṁ te idha vāsenā”ti.
Atha kho āyasmā dhammiko tamhāpi āvāsā aññaṁ āvāsaṁ agamāsi.
Tatrapi sudaṁ āyasmā dhammiko āgantuke bhikkhū akkosati paribhāsati vihiṁsati vitudati roseti vācāya.
Te ca āgantukā bhikkhū āyasmatā dhammikena akkosiyamānā paribhāsiyamānā vihesiyamānā vitudiyamānā rosiyamānā vācāya pakkamanti, na saṇṭhanti, riñcanti āvāsaṁ.
Atha kho jātibhūmakānaṁ upāsakānaṁ etadahosi:
“mayaṁ kho bhikkhusaṅghaṁ paccupaṭṭhitā cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārena.
Atha ca pana āgantukā bhikkhū pakkamanti, na saṇṭhanti, riñcanti āvāsaṁ.
Ko nu kho hetu ko paccayo yena āgantukā bhikkhū pakkamanti, na saṇṭhanti, riñcanti āvāsan”ti?
Atha kho jātibhūmakānaṁ upāsakānaṁ etadahosi: “ayaṁ kho āyasmā dhammiko āgantuke bhikkhū akkosati …pe….
Yannūna mayaṁ āyasmantaṁ dhammikaṁ pabbājeyyāma sabbaso jātibhūmiyaṁ sattahi āvāsehī”ti.
Atha kho jātibhūmakā upāsakā yenāyasmā dhammiko tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ dhammikaṁ etadavocuṁ:
“pakkamatu, bhante, āyasmā dhammiko sabbaso jātibhūmiyaṁ sattahi āvāsehī”ti.
Atha kho āyasmato dhammikassa etadahosi:
“pabbājito khomhi jātibhūmakehi upāsakehi sabbaso jātibhūmiyaṁ sattahi āvāsehi.
Kahaṁ nu kho dāni gacchāmī”ti?
Atha kho āyasmato dhammikassa etadahosi:
“yannūnāhaṁ yena bhagavā tenupasaṅkameyyan”ti.
Atha kho āyasmā dhammiko pattacīvaramādāya yena rājagahaṁ tena pakkāmi.
Anupubbena yena rājagahaṁ gijjhakūṭo pabbato yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho āyasmantaṁ dhammikaṁ bhagavā etadavoca:
“handa kuto nu tvaṁ, brāhmaṇa dhammika, āgacchasī”ti?
“Pabbājito ahaṁ, bhante, jātibhūmakehi upāsakehi sabbaso jātibhūmiyaṁ sattahi āvāsehī”ti.
“Alaṁ, brāhmaṇa dhammika, kiṁ te iminā, yaṁ taṁ tato tato pabbājenti, so tvaṁ tato tato pabbājito mameva santike āgacchasi.
Bhūtapubbaṁ, brāhmaṇa dhammika, sāmuddikā vāṇijā tīradassiṁ sakuṇaṁ gahetvā nāvāya samuddaṁ ajjhogāhanti.
Te atīradakkhiṇiyā nāvāya tīradassiṁ sakuṇaṁ muñcanti.
So gacchateva puratthimaṁ disaṁ, gacchati pacchimaṁ disaṁ, gacchati uttaraṁ disaṁ, gacchati dakkhiṇaṁ disaṁ, gacchati uddhaṁ, gacchati anudisaṁ.
Sace so samantā tīraṁ passati, tathāgatakova hoti.
Sace pana so samantā tīraṁ na passati tameva nāvaṁ paccāgacchati.
Evamevaṁ kho, brāhmaṇa dhammika, yaṁ taṁ tato tato pabbājenti so tvaṁ tato tato pabbājito mameva santike āgacchasi.
Bhūtapubbaṁ, brāhmaṇa dhammika, rañño korabyassa suppatiṭṭho nāma nigrodharājā ahosi pañcasākho sītacchāyo manoramo.
Suppatiṭṭhassa kho pana, brāhmaṇa dhammika, nigrodharājassa dvādasayojanāni abhiniveso ahosi, pañca yojanāni mūlasantānakānaṁ.
Suppatiṭṭhassa kho pana, brāhmaṇa dhammika, nigrodharājassa tāva mahantāni phalāni ahesuṁ;
seyyathāpi nāma āḷhakathālikā.
Evamassa sādūni phalāni ahesuṁ;
seyyathāpi nāma khuddaṁ madhuṁ anelakaṁ.
Suppatiṭṭhassa kho pana, brāhmaṇa dhammika, nigrodharājassa ekaṁ khandhaṁ rājā paribhuñjati saddhiṁ itthāgārena, ekaṁ khandhaṁ balakāyo paribhuñjati, ekaṁ khandhaṁ negamajānapadā paribhuñjanti, ekaṁ khandhaṁ samaṇabrāhmaṇā paribhuñjanti, ekaṁ khandhaṁ migā paribhuñjanti.
Suppatiṭṭhassa kho pana, brāhmaṇa dhammika, nigrodharājassa na koci phalāni rakkhati, na ca sudaṁ aññamaññassa phalāni hiṁsanti.
Atha kho, brāhmaṇa dhammika, aññataro puriso suppatiṭṭhassa nigrodharājassa yāvadatthaṁ phalāni bhakkhitvā sākhaṁ bhañjitvā pakkāmi.
Atha kho, brāhmaṇa dhammika, suppatiṭṭhe nigrodharāje adhivatthāya devatāya etadahosi:
‘acchariyaṁ vata bho, abbhutaṁ vata bho.
Yāva pāpo manusso, yatra hi nāma suppatiṭṭhassa nigrodharājassa yāvadatthaṁ phalāni bhakkhitvā sākhaṁ bhañjitvā pakkamissati, yannūna suppatiṭṭho nigrodharājā āyatiṁ phalaṁ na dadeyyā’ti.
Atha kho, brāhmaṇa dhammika, suppatiṭṭho nigrodharājā āyatiṁ phalaṁ na adāsi.
Atha kho, brāhmaṇa dhammika, rājā korabyo yena sakko devānamindo tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā sakkaṁ devānamindaṁ etadavoca:
‘yagghe, mārisa, jāneyyāsi suppatiṭṭho nigrodharājā phalaṁ na detī’ti.
Atha kho, brāhmaṇa dhammika, sakko devānamindo tathārūpaṁ iddhābhisaṅkhāraṁ abhisaṅkhāsi, yathā bhusā vātavuṭṭhi āgantvā suppatiṭṭhaṁ nigrodharājaṁ pavattesi ummūlamakāsi.
Atha kho, brāhmaṇa dhammika, suppatiṭṭhe nigrodharāje adhivatthā devatā dukkhī dummanā assumukhī rudamānā ekamantaṁ aṭṭhāsi.
Atha kho, brāhmaṇa dhammika, sakko devānamindo yena suppatiṭṭhe nigrodharāje adhivatthā devatā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā suppatiṭṭhe nigrodharāje adhivatthaṁ devataṁ etadavoca:
‘kiṁ nu tvaṁ, devate, dukkhī dummanā assumukhī rudamānā ekamantaṁ ṭhitā’ti?
‘Tathā hi pana me, mārisa, bhusā vātavuṭṭhi āgantvā bhavanaṁ pavattesi ummūlamakāsī’ti.
‘Api nu tvaṁ, devate, rukkhadhamme ṭhitāya bhusā vātavuṭṭhi āgantvā bhavanaṁ pavattesi ummūlamakāsī’ti?
‘Kathaṁ pana, mārisa, rukkho rukkhadhamme ṭhito hotī’ti?
‘Idha, devate, rukkhassa mūlaṁ mūlatthikā haranti, tacaṁ tacatthikā haranti, pattaṁ pattatthikā haranti, pupphaṁ pupphatthikā haranti, phalaṁ phalatthikā haranti.
Na ca tena devatāya anattamanatā vā anabhinandi vā karaṇīyā.
Evaṁ kho, devate, rukkho rukkhadhamme ṭhito hotī’ti.
‘Aṭṭhitāyeva kho me, mārisa, rukkhadhamme bhusā vātavuṭṭhi āgantvā bhavanaṁ pavattesi ummūlamakāsī’ti.
‘Sace kho tvaṁ, devate, rukkhadhamme tiṭṭheyyāsi, siyā te bhavanaṁ yathāpure’ti.
‘Ṭhassāmahaṁ, mārisa, rukkhadhamme, hotu me bhavanaṁ yathāpure’ti.
Atha kho, brāhmaṇa dhammika, sakko devānamindo tathārūpaṁ iddhābhisaṅkhāraṁ abhisaṅkhāsi, yathā bhusā vātavuṭṭhi āgantvā suppatiṭṭhaṁ nigrodharājaṁ ussāpesi, sacchavīni mūlāni ahesuṁ.
Evamevaṁ kho, brāhmaṇa dhammika, api nu taṁ samaṇadhamme ṭhitaṁ jātibhūmakā upāsakā pabbājesuṁ sabbaso jātibhūmiyaṁ sattahi āvāsehī”ti?
“Kathaṁ pana, bhante, samaṇo samaṇadhamme ṭhito hotī”ti?
“Idha, brāhmaṇa dhammika, samaṇo akkosantaṁ na paccakkosati, rosantaṁ na paṭirosati, bhaṇḍantaṁ na paṭibhaṇḍati.
Evaṁ kho, brāhmaṇa dhammika, samaṇo samaṇadhamme ṭhito hotī”ti.
“Aṭṭhitaṁyeva maṁ, bhante, samaṇadhamme jātibhūmakā upāsakā pabbājesuṁ sabbaso jātibhūmiyaṁ sattahi āvāsehī”ti.
“Bhūtapubbaṁ, brāhmaṇa dhammika, sunetto nāma satthā ahosi titthakaro kāmesu vītarāgo.
Sunettassa kho pana, brāhmaṇa dhammika, satthuno anekāni sāvakasatāni ahesuṁ.
Sunetto satthā sāvakānaṁ brahmalokasahabyatāya dhammaṁ desesi.
Ye kho pana, brāhmaṇa dhammika, sunettassa satthuno brahmalokasahabyatāya dhammaṁ desentassa cittāni na pasādesuṁ te kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjiṁsu.
Ye kho pana, brāhmaṇa dhammika, sunettassa satthuno brahmalokasahabyatāya dhammaṁ desentassa cittāni pasādesuṁ te kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjiṁsu.
Bhūtapubbaṁ, brāhmaṇa dhammika, mūgapakkho nāma satthā ahosi …pe…
Aranemi nāma satthā ahosi …
… Kuddālako nāma satthā ahosi …
… Hatthipālo nāma satthā ahosi …
… Jotipālo nāma satthā ahosi titthakaro kāmesu vītarāgo.
Jotipālassa kho pana, brāhmaṇa dhammika, satthuno anekāni sāvakasatāni ahesuṁ.
Jotipālo satthā sāvakānaṁ brahmalokasahabyatāya dhammaṁ desesi.
Ye kho pana, brāhmaṇa dhammika, jotipālassa satthuno brahmalokasahabyatāya dhammaṁ desentassa cittāni na pasādesuṁ te kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjiṁsu.
Ye kho pana, brāhmaṇa dhammika, jotipālassa satthuno brahmalokasahabyatāya dhammaṁ desentassa cittāni pasādesuṁ te kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjiṁsu.
Taṁ kiṁ maññasi, brāhmaṇa dhammika,
yo ime cha satthāre titthakare kāmesu vītarāge, anekasataparivāre sasāvakasaṅghe paduṭṭhacitto akkoseyya paribhāseyya, bahuṁ so apuññaṁ pasaveyyā”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Yo kho, brāhmaṇa dhammika, ime cha satthāre titthakare kāmesu vītarāge anekasataparivāre sasāvakasaṅghe paduṭṭhacitto akkoseyya paribhāseyya, bahuṁ so apuññaṁ pasaveyya.
Yo ekaṁ diṭṭhisampannaṁ puggalaṁ paduṭṭhacitto akkosati paribhāsati, ayaṁ tato bahutaraṁ apuññaṁ pasavati.
Taṁ kissa hetu?
Nāhaṁ, brāhmaṇa dhammika, ito bahiddhā evarūpiṁ khantiṁ vadāmi, yathāmaṁ sabrahmacārīsu.
Tasmātiha, brāhmaṇa dhammika, evaṁ sikkhitabbaṁ:
‘na no samasabrahmacārīsu cittāni paduṭṭhāni bhavissantī’ti.
Evañhi te, brāhmaṇa dhammika, sikkhitabbanti.
Sunetto mūgapakkho ca,
aranemi ca brāhmaṇo;
Kuddālako ahu satthā,
hatthipālo ca māṇavo.
Jotipālo ca govindo,
ahu sattapurohito;
Ahiṁsakā atītaṁse,
cha satthāro yasassino.
Nirāmagandhā karuṇedhimuttā,
Kāmasaṁyojanātigā;
Kāmarāgaṁ virājetvā,
Brahmalokūpagā ahuṁ.
Ahesuṁ sāvakā tesaṁ,
Anekāni satānipi;
Nirāmagandhā karuṇedhimuttā,
Kāmasaṁyojanātigā;
Kāmarāgaṁ virājetvā,
Brahmalokūpagā ahuṁ.
Yete isī bāhirake,
vītarāge samāhite;
Paduṭṭhamanasaṅkappo,
yo naro paribhāsati;
Bahuñca so pasavati,
apuññaṁ tādiso naro.
Yo cekaṁ diṭṭhisampannaṁ,
Bhikkhuṁ buddhassa sāvakaṁ;
Paduṭṭhamanasaṅkappo,
Yo naro paribhāsati;
Ayaṁ tato bahutaraṁ,
Apuññaṁ pasave naro.
Na sādhurūpaṁ āsīde,
diṭṭhiṭṭhānappahāyinaṁ;
Sattamo puggalo eso,
ariyasaṅghassa vuccati.
Avītarāgo kāmesu,
yassa pañcindriyā mudū;
Saddhā sati ca vīriyaṁ,
samatho ca vipassanā.
Tādisaṁ bhikkhumāsajja,
pubbeva upahaññati;
Attānaṁ upahantvāna,
pacchā aññaṁ vihiṁsati.
Yo ca rakkhati attānaṁ,
rakkhito tassa bāhiro;
Tasmā rakkheyya attānaṁ,
akkhato paṇḍito sadā”ti.
Dvādasamaṁ.
Dhammikavaggo pañcamo.
Tassuddānaṁ
Nāgamigasālā iṇaṁ,
Cundaṁ dve sandiṭṭhikā duve;
Khemaindriya ānanda,
Khattiyā appamādena dhammikoti.
Paṭhamo paṇṇāsako samatto.
…
In ancient times when seafaring merchants put to sea in ships, they took with them a bird to sight land. When the ship was out of sight of land, they released the bird; and it flew eastward and westward, northward and southward, upward and all around. And if the bird saw no land, it returned to the ship; but if the bird sighted land nearby, it was truly gone.
…
Once upon a time there was a royal fig tree called Steadfast, belonging to king Koravya, whose five outstretched branches provided a cool and pleasing shade. Its girth extended a hundred miles, and its roots spread out for forty miles. And the fruits of that tree were indeed great: As large as harvest baskets—such were its succulent fruits—and as clear as the honey of bees.
One portion was enjoyed by the king, along with his household of women; one portion was enjoyed by the army; one portion was enjoyed by the people of the town and village; one portion was enjoyed by brahmans and ascetics; and one portion was enjoyed by the beasts and birds. Nobody guarded the fruits of that royal tree, and neither did anyone harm one another for the sake of its fruits.
But then a certain man came along who fed upon as much of Steadfast’s fruits as he wanted, broke off a branch, and wandered on his way. And the deva who dwelled in Steadfast thought to herself: “It is astonishing, it is truly amazing, that such an evil man would dare to feed upon as much of Steadfast’s fruits as he wants, break off a branch, and then wander on his way! Now, what if Steadfast were in the future to bear no more fruit?” And so the royal fig tree Steadfast bore no more fruit.
So then king Koravya went up to where Sakka, chief among the gods, was dwelling, and having approached said this: “Surely you must know, sire, that Steadfast, the royal fig tree, no longer bears fruit?” And then Sakka created a magical creation of such a form that a mighty wind and rain came down and toppled the royal fig tree Steadfast, uprooting it entirely. And then the deva who dwelled in Steadfast grieved, lamented, and stood weeping on one side with a face full of tears.
And then Sakka, chief among the gods, went up to where the deva was standing, and having approached said this: “Why is it, deva, that you grieve and lament and stand on one side with a face full of tears?” “It is because, sire, a mighty wind and rain has come and toppled my abode, uprooting it entirely.”
“And were you, deva, upholding the dhamma of trees when this happened?” “But how is it, sire, that a tree upholds the dhamma of trees?”
“Like this, deva: Root-cutters take the root of the tree; bark-strippers take the bark; leaf-pickers take the leaves; flower-pickers take the flowers; fruit-pickers take the fruits—and none of this is reason enough for a deva to think only of herself or become morose. Thus it is, deva, that a tree upholds the dhamma of trees.”
“Then indeed, sire, I was not upholding the dhamma of trees when the mighty wind and rain came and toppled my abode, uprooting it entirely.” “If it were the case, deva, that you were to uphold the dhamma of trees, it may be that your abode might be as it was before.” “I will indeed, sire, uphold the dhamma of trees! May my abode be as it was before!”
And then Sakka, chief among the gods, created a magical creation of such a form that a mighty wind and rain came down and raised up the royal fig tree Steadfast, and its roots were entirely healed.
TTC 1Một thời, Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương Xá) tại núi Gijihakùta (Linh Thứu).
Lúc bấy giờ, Tôn giả Dhammika trú tại chỗ sanh trưởng của mình và có tất cả bảy trú xứ tại chỗ sanh trưởng ấy. Tại đấy, Tôn giả Dhammika đối với các khách Tỷ-kheo, mắng nhiếc, quở trách, não hại, châm biếm, khiến họ tức giận với những lời nói. Và các khách Tỷ-kheo ấy bị Tôn giả Dhammika mắng nhiếc, quở trách, não hại, châm biếm, khiến họ tức giận, liền bỏ đi, không có an trú và từ bỏ trú xứ. Rồi các cư sĩ tại chỗ sanh trưởng, suy nghĩ như sau: “Chúng ta đã cung cấp cho chúng Tỷ-kheo Tăng các vật dụng cần thiết như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh, nhưng các khách Tỷ-kheo lại bỏ đi, không có an trú và từ bỏ trú xứ. Do nhân gì, do duyên gì, các khách Tỷ-kheo lại bỏ đi, không có an trú, từ bỏ trú xứ?” Rồi các cư sĩ tại chỗ sanh trưởng suy nghĩ: “Có Tôn giả Dhammika này mắng nhiếc các khách Tỷ-kheo, quở trách, não hại, châm biếm, làm họ tức giận với những lời nói. Các khách Tỷ-kheo ấy bị Tôn giả Dhammika mắng nhiếc, quở trách, não hại, châm biếm, làm cho tức giận với những lời nói, nên bỏ đi, không có an trú, từ bỏ trú xứ. Vậy chúng ta hãy mời Tôn giả Dhammika đi chỗ khác.” Rồi các cư sĩ tại chỗ sanh trưởng đi đến Tôn giả Dhammika; sau khi đến, thưa với Tôn giả Dhammika: “Thưa Tôn giả, Tôn giả Dhammika hãy từ bỏ trú xứ này. Tôn giả trú ở đây đã vừa đủ rồi.”
TTC 2Rồi Tôn giả Dhammika từ bỏ trú xứ ấy, đi đến một trú xứ khác. Tại đấy, Tôn giả Dhammika mắng nhiếc các khách Tỷ-kheo, quở trách, não hại, châm biếm, làm cho tức giận với các lời nói. Và các khách Tỷ-kheo ấy bị Tôn giả Dhammika mắng nhiếc, quở trách, não hại, châm biếm, làm cho tức giận với các lời nói, liền bỏ đi, không an trú, và từ bỏ trú xứ. Rồi các cư sĩ tại chỗ sanh trưởng suy nghĩ như sau: “Chúng ta đã cung cấp cho chúng Tỷ-kheo các vật dụng cần thiết, như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh, nhưng các khách Tỷ-kheo lại bỏ đi, không an trú, từ bỏ trú xứ. Do nhân gì, do duyên gì, các khách Tỷ-kheo lại bỏ đi, không có an trú, từ bỏ trú xứ?” Rồi các cư sĩ tại chỗ sanh trưởng suy nghĩ: “Có Tôn giả Dhammika này mắng nhiếc các khách Tỷ-kheo, quở trách, não hại, châm biếm, làm họ tức giận với những lời nói. Các khách Tỷ-kheo ấy bị Tôn giả Dhammika mắng nhiếc, quở trách, não hại, châm biếm, làm họ tức giận, nên bỏ đi, không có an trú, từ bỏ trú xứ. Vậy chúng ta hãy mời Tôn giả Dhammika đi đến chỗ khác”. Rồi các cư sĩ tại chỗ sanh trưởng đi đến Tôn giả Dhammika; sau khi đến, thưa với Tôn giả Dhammika: “Thưa Tôn giả, Tôn giả Dhammika hãy từ bỏ trú xứ này. Tôn giả trú ở đây đã vừa đủ rồi”.
TTC 3Rồi Tôn giả Dhammika từ bỏ trú xứ ấy, đi đến một xứ khác . Tại đấy, Tôn giả Dhammika mắng nhiếc các khách Tỷ-kheo, quở trách, não hại, châm biếm, làm tức giận với lời nói. Và các khách Tỷ-kheo ấy bị Tôn giả Dhammika mắng nhiếc, quở trách, não hại, châm biếm, làm cho tức giận với lời nói, liền bỏ đi, không có an trú và từ bỏ trú xứ. Rồi các cư sĩ tại chỗ sanh trưởng suy nghĩ như sau: “Chúng ta đã cung cấp cho chúng Tỷ-kheo các vật dụng cần thiết như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh, nhưng các khách Tỷ-kheo lại bỏ đi, không an trú, từ bỏ trú xứ. Do nhân gì, do duyên gì, các khách Tỷ-kheo lại bỏ đi, không có an trú, từ bỏ trú xứ? “. Rồi các cư sĩ tại chỗ sanh trưởng suy nghĩ: “Có Tôn giả Dhammika này mắng nhiếc, quở trách, não hại, châm biếm, làm họ tức giận với những lời nói. Các khách Tỷ-kheo ấy bị Tôn giả Dhammika mắng nhiếc, quở trách, não hại, châm biếm, làm tức giận với những lời nói, nên bỏ đi, không có an trú, từ bỏ trú xứ. Vậy chúng ta hãy mời Tôn giả Dhammika rời bỏ hoàn toàn bảy trú xứ tại chỗ đất sanh trưởng”. Rồi các cư sĩ tại chỗ đất sanh trưởng đi đến Tôn giả Dhammika; sau khi đến, nói với Tôn giả Dhammika: “Thưa Tôn giả, Tôn giả Dhammika hãy rời bỏ hoàn toàn bảy trú xứ tại chỗ đất sanh trưởng”.
TTC 4Rồi Tôn giả Dhammika suy nghĩ: “Ta đã bị các cư sĩ tại chỗ đất sanh trưởng mời rời bỏ hoàn toàn bảy trú xứ tại chỗ đất sanh trưởng. Nay ta sẽ đi tại chỗ nào? Ta hãy đi đến Thế Tôn”. Rồi Tôn giả Dhammika cầm y bát, ra đi, hướng đến Ràjagaha (Vương Xá), dần dần đi đến núi Gijihakùta (Linh Thứu) tại Ràjagaha; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Tôn giả Dhammika đang ngồi xuống một bên:
—Này Bà-la-môn Dhammika, Ông đi từ đâu đến?
—Bạch Thế Tôn, con bị các cư sĩ tại chỗ đất sanh trưởng mời rời bỏ hoàn toàn bảy trú xứ tại chỗ đất sanh trưởng!
—Thôi vừa rồi, này Bà-la-môn Dhammika! Sự việc này, đối với Ông có hề hấn gì! Dầu họ có mời Ông từ bỏ tại chỗ nào, chỗ nào, sau khi đã từ bỏ chỗ ấy, chỗ ấy, Ông đã đi đến gần Ta!
TTC 5Trong quá khứ, này Bà-la-môn Dhammika, các nhà buôn đường biển đem theo một con chim để tìm bờ, khi họ đi tàu ra biển. Khi chiếc tàu ra xa, không thấy bờ, họ thả con chim đi tìm bờ. Con chim bay về hướng Ðông, bay về hướng Tây, bay về hướng Bắc, bay về hướng Nam, bay về hướng Trên, bay về hướng Gió. Nếu nó thấy bờ xung quanh, nó liền bay luôn. Nếu nó không thấy bờ xung quanh, nó bay trở lui về tàu. Cũng vậy, này Bà-la-môn Dhammika, dầu họ có mời Ông từ bỏ tại chỗ nào, chỗ nào, sau khi đã từ bỏ chỗ ấy, chỗ ấy, Ông đã đi đến gần Ta.
TTC 6Thuở xưa, này Bà-la-môn Dhammika, vua Koravya có một cây bàng chúa tên là Suppatittha, cây này có năm cành, có bóng mát dịu, rất là khả ý. Này Bà-la-môn Dhammika, cây bàng chúa Suppatittha tỏa rộng ra đến mười hai do tuần, các rễ mọc lan rộng đến năm do tuần. Này Bà-la-môn Dhammika, cây bàng chúa Suppatittha có những trái cây to lớn, lớn như những cái nồi con; những trái cây ngọt lịm như vậy, trong sáng và ngọt như mật ong. Này Bà-la-môn Dhammika, vua với các cung nữ hưởng thụ một cành cây của cây bàng chúa Suppatittha; quân đội hưởng thụ một cành; các Sa-môn, Bà-la-môn hưởng thụ một cành; các loài thú, loài chim hưởng thụ một cành. Này Bà-la-môn Dhammika, không có ai phòng hộ các trái của cây bàng chúa Suppatittha, và không có ai hại nhau vì trái cây. Rồi này Bà-la-môn Dhammika, một người sau khi đã ăn hết cho đến thỏa thích những trái của cây bàng chúa Suppatittha, liền bẻ gãy một cành rồi bỏ đi. Rồi này Bà-la-môn Dhammika, vị Thiên trú ở cây bàng chúa Suppatittha suy nghĩ như sau: “Thật là vi diệu, thưa Tôn giả! Thật là hy hữu, thưa Tôn giả, con người lại ác cho đến như vậy! Sau khi ăn cho đến thỏa thích các trái của cây bàng chúa Suppatittha, lại bẻ một cành rồi bỏ đi! Vậy cây bàng chúa Suppatittha hãy đừng sanh trái nữa trong tương lai! “Rồi này Bà-la-môn Dhammika, cây bàng chúa Suppatittha không sanh trái nữa trong tương lai. Rồi này Bà-la-môn Dhammika, vua Koravya đi đến Thiên chủ Sakka; sau khi đến, thưa với Thiên chủ Sakka: “Tôn giả có biết không? Cây bàng chúa Suppatittha không sanh trái nữa! “Rồi này Bà-la-môn Dhammika, Thiên chủ Sakka thực hiện thần thông, khiến cho mưa to gió lớn khởi lên, làm cây bàng chúa Suppatittha ngã xuống và bật gốc rễ. Này Bà-la-môn Dhammika, vị Thiên trú ở cây bàng chúa Suppatittha khổ đau, sầu muộn, nước mắt đầy mặt, khóc lóc, đứng một bên. Này Bà-la-môn Dhammika, rồi Thiên chủ Suppatittha đi đến vị Thiên trú ở cây bàng chúa Suppatittha, sau khi đến, nói với vị Thiên trú ở cây bàng chúa Suppatittha như sau:
“—Vì sao, này vị Thiên kia, Ông lại khổ đau, sầu muộn, nước mắt đầy mặt, khóc lóc, đứng một bên?
“—Thưa Tôn giả, có cơn mưa to gió lớn khởi lên, và làm cho chỗ trú xứ của con bị ngã xuống và bật gốc rễ lên.
“—Này vị Thiên kia, có phải Ông đang gìn giữ cây pháp, nhưng cơn mưa to lớn ấy khởi lên, làm trú xứ của Ông bị ngã xuống và bật gốc rễ lên?
“—Làm thế nào, thưa Tôn giả, một cây… được gìn giữ như một cây pháp?
“—Ở đây, này vị Thiên kia, những người cần rễ đến lấy rễ cây đi, những người cần vỏ đến lấy vỏ cây đi. Những người cần lá đến lấy lá đi. Những người cần bông đến lấy bông đi. Những người cần trái đến lấy trái đi. Như vậy, không có gì để khiến cho một vị Thiên phải không hoan hỷ, không vui vẻ. Như vậy, là một cây được gìn giữ như một cây pháp.
“—Thưa Tôn giả, con không gìn giữ một cây pháp, khi cơn mưa to lớn ấy khởi lên, làm chỗ trú xứ của con ngã xuống và bật gốc rễ lên!
“—Này vị Thiên kia, nếu Ông gìn giữ cây pháp, thời trú xứ của Ông sẽ trở lại như xưa.
Thưa Tôn giã, con sẽ gìn giữ cây pháp, mong rằng trú xứ cuả con trở lại như xưa.
Rồi Thiên chủ Sakka thực hiện thần thông khiến cho mưa to gió lớn đến dựng đứng lại cây bàng chúa và chữa lành những rễ cây.
Cũng vậy, này Bà-la-môn Dhammika, Ông có gìn giữ Sa-môn pháp, khi các người cư sĩ tại chỗ sanh trưởng mời Ông đi khỏi bảy trú xứ tại chỗ sanh trưởng không?
—Như thế nào, thưa Tôn giả, là một Sa-môn gìn giữ Sa-môn pháp?
—Như thế này, này Bà-la-môn Dhammika, ở đây, một Sa-môn không có mắng nhiếc lại người đã mắng nhiếc mình, không có tức giận người đã tức giận mình, không có quở trách người đã quở trách mình. Như vậy, này Bà-la-môn Dhammika, là vị Sa-môn gìn giữ Sa-môn pháp.
—Thưa Tôn giả, con không gìn giữ Sa-môn pháp khi những người cư sĩ ở tại chỗ sanh trưởng mời con đi khỏi hoàn toàn bảy trú xứ trong chỗ được sanh trưởng.
TTC 7—Thuở xưa, này Bà-la-môn Dhammika, có một ngoại đạo sư tên là Sunettto (Diệu Nhãn) đã viễn ly các dục. Này Bà-la-môn Dhammika, ngoại đạo sư Sunetto có hàng trăm đệ tử. Ngoại đạo sư Sunetto thuyết pháp về cộng trú tại Phạm thiên giới cho các người đệ tử. Những ai nghe ngoại đạo sư Sunetto thuyết giảng về cộng trú tại Phạm thiên giới, này Bà-la-môn Dhammika, tâm không được hoan hỷ, các người ấy sau khi thân hoại mạng chung bị sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Còn những ai, này Bà-la-môn Dhammika, nghe ngoại đạo sư Sunetto thuyết giảng về cọng trú tại Phạm thiên giới, tâm được hoan hỷ, các người ấy sau khi thân hoại mạng chung được sanh vào thiện thú, Thiên giới, cõi đời này. Thuở xưa, này Bà-la-môn Dhammika, có ngoại đạo sư tên là Mugapakkha… có ngoại đạo sư tên là Aranemi… có ngoại đạo sư tên là Kuddàlaka… có ngoại đạo sư tên là Hatthipàla… có ngoại đạo sư tên là Jotipàla đã viễn ly các dục… được sanh vào thiện thú, Thiên giới, cõi đời này. Ông nghĩ thế nào, này Bà-la-môn Dhammika, đối với sáu ngoại đạo sư này đã viễn ly các dục, hay đối với chúng đệ tử hàng trăm hội chúng của những vị ấy, ai với tâm uế nhiễm, mắng nhiếc, quở trách, như vậy có sanh khởi ra nhiều vô phước không?
—Thưa có, bạch Thế Tôn.
TTC 8—Thật vậy, này Bà-la-môn Dhammika, đối với sáu ngoại đạo sư này đã viễn ly các dục, hay đối với chúng đệ tử hàng trăm hội chúng của những vị ấy, ai với tâm uế nhiễm, mắng nhiếc, quở trách, có sanh khởi ra nhiều vô phước. Còn ai, đối với vị đầy đủ chánh kiến, với tâm uế nhiễm, mắng nhiếc, quở trách, như vậy sanh khởi ra nhiều vô phước hơn nữa. Vì cớ sao? Ta tuyên bố rằng, này Bà-la-môn Dhammika, sự tổn hại đối với các ngoại đạo sư như vậy không bằng sự tổn hại nếu đối xử với các vị đồng Phạm hạnh. Do vậy, này các Bà-la-môn Dhammika, cần phải học tập như sau:
TTC 9Chúng tôi sẽ không có tâm uế nhiễm đối với vị đồng Phạm hạnh”. Này Bà-la-môn Dhammika, các Ông cần phải học tập như vậy.
Các vị Bà-la-môn,
Như Sư Sunetto,
Sư Mugapakkha,
Và Aranemi,
Sư Kuddalaka,
Và Hatthipàla,
Sư Jotipàla,
Và Sư Govinda,
Là quốc sư thứ bảy.
Sáu Sư bạn vị này,
Là những vị danh tiếng,
Quá khứ không hại ai,
Thoát hôi hám, từ bi,
Giải thoát dục kiết sử,
Thoát ly tham ái dục,
Ðạt được Phạm thiên giới.
Và các hàng đệ tử,
Con số lên hàng trăm,
Thoát hôi hám, từ bi,
Giải thoát dục kiết sử,
Thoát ly tham ái dục,
Ðạt được Phạm thiên giới.
Ẩn sĩ ngoại đạo ấy,
Ly tham, tâm Thiền định,
Nếu với tâm uế nhiễm,
Có ai mắng nhiếc họ,
Người như vậy tạo ra,
Rất nhiều sự vô phước.
Ðối một đệ tử Phật,
Tỷ-kheo có chánh kiến,
Nếu với tâm uế nhiễm,
Có ai mắng vị ấy,
Người như vậy tạo ra,
Nhiều vô phước hơn nữa
Chớ phật lòng bậc thiện,
Hãy từ bỏ kiến xứ,
Tối thượng trong Thánh chúng,
Vị ấy được gọi vậy.
Ai chưa ly các dục,
Năm căn còn mềm dịu,
Tín, niệm và tinh tấn,
Với chỉ và với quán,
Nếu phật ý vị ấy,
Trước hết tự hại mình,
Sau khi tự hại mình,
Lại hại đến người khác,
Ai tự bảo vệ mình,
Bề ngoài cũng bảo vệ,
Do vậy, bảo vệ mình,
Bậc trí không tổn hại.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā rājagahe viharati gijjhakūṭe pabbate.
Tena kho pana samayena āyasmā dhammiko jātibhūmiyaṁ āvāsiko hoti sabbaso jātibhūmiyaṁ sattasu āvāsesu.
Tatra sudaṁ āyasmā dhammiko āgantuke bhikkhū akkosati paribhāsati vihiṁsati vitudati roseti vācāya.
Te ca āgantukā bhikkhū āyasmatā dhammikena akkosiyamānā paribhāsiyamānā vihesiyamānā vitudiyamānā rosiyamānā vācāya pakkamanti, na saṇṭhanti, riñcanti āvāsaṁ.
Atha kho jātibhūmakānaṁ upāsakānaṁ etadahosi:
“mayaṁ kho bhikkhusaṅghaṁ paccupaṭṭhitā cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārena.
Atha ca pana āgantukā bhikkhū pakkamanti, na saṇṭhanti, riñcanti āvāsaṁ.
Ko nu kho hetu ko paccayo yena āgantukā bhikkhū pakkamanti, na saṇṭhanti, riñcanti āvāsan”ti?
Atha kho jātibhūmakānaṁ upāsakānaṁ etadahosi:
“ayaṁ kho āyasmā dhammiko āgantuke bhikkhū akkosati paribhāsati vihiṁsati vitudati roseti vācāya.
Te ca āgantukā bhikkhū āyasmatā dhammikena akkosiyamānā paribhāsiyamānā vihesiyamānā vitudiyamānā rosiyamānā vācāya pakkamanti, na saṇṭhanti, riñcanti āvāsaṁ.
Yannūna mayaṁ āyasmantaṁ dhammikaṁ pabbājeyyāmā”ti.
Atha kho jātibhūmakā upāsakā yena āyasmā dhammiko tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ dhammikaṁ etadavocuṁ:
“pakkamatu, bhante, āyasmā dhammiko imamhā āvāsā;
alaṁ te idha vāsenā”ti.
Atha kho āyasmā dhammiko tamhā āvāsā aññaṁ āvāsaṁ agamāsi.
Tatrapi sudaṁ āyasmā dhammiko āgantuke bhikkhū akkosati paribhāsati vihiṁsati vitudati roseti vācāya.
Te ca āgantukā bhikkhū āyasmatā dhammikena akkosiyamānā paribhāsiyamānā vihesiyamānā vitudiyamānā rosiyamānā vācāya pakkamanti, na saṇṭhanti, riñcanti āvāsaṁ.
Atha kho jātibhūmakānaṁ upāsakānaṁ etadahosi:
“mayaṁ kho bhikkhusaṅghaṁ paccupaṭṭhitā cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārena.
Atha ca pana āgantukā bhikkhū pakkamanti, na saṇṭhanti, riñcanti āvāsaṁ.
Ko nu kho hetu ko paccayo yena āgantukā bhikkhū pakkamanti, na saṇṭhanti, riñcanti āvāsan”ti?
Atha kho jātibhūmakānaṁ upāsakānaṁ etadahosi:
“ayaṁ kho āyasmā dhammiko āgantuke bhikkhū akkosati paribhāsati vihiṁsati vitudati roseti vācāya.
Te ca āgantukā bhikkhū āyasmatā dhammikena akkosiyamānā paribhāsiyamānā vihesiyamānā vitudiyamānā rosiyamānā vācāya pakkamanti, na saṇṭhanti, riñcanti āvāsaṁ.
Yannūna mayaṁ āyasmantaṁ dhammikaṁ pabbājeyyāmā”ti.
Atha kho jātibhūmakā upāsakā yenāyasmā dhammiko tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ dhammikaṁ etadavocuṁ:
“pakkamatu, bhante, āyasmā dhammiko imamhāpi āvāsā;
alaṁ te idha vāsenā”ti.
Atha kho āyasmā dhammiko tamhāpi āvāsā aññaṁ āvāsaṁ agamāsi.
Tatrapi sudaṁ āyasmā dhammiko āgantuke bhikkhū akkosati paribhāsati vihiṁsati vitudati roseti vācāya.
Te ca āgantukā bhikkhū āyasmatā dhammikena akkosiyamānā paribhāsiyamānā vihesiyamānā vitudiyamānā rosiyamānā vācāya pakkamanti, na saṇṭhanti, riñcanti āvāsaṁ.
Atha kho jātibhūmakānaṁ upāsakānaṁ etadahosi:
“mayaṁ kho bhikkhusaṅghaṁ paccupaṭṭhitā cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārena.
Atha ca pana āgantukā bhikkhū pakkamanti, na saṇṭhanti, riñcanti āvāsaṁ.
Ko nu kho hetu ko paccayo yena āgantukā bhikkhū pakkamanti, na saṇṭhanti, riñcanti āvāsan”ti?
Atha kho jātibhūmakānaṁ upāsakānaṁ etadahosi: “ayaṁ kho āyasmā dhammiko āgantuke bhikkhū akkosati …pe….
Yannūna mayaṁ āyasmantaṁ dhammikaṁ pabbājeyyāma sabbaso jātibhūmiyaṁ sattahi āvāsehī”ti.
Atha kho jātibhūmakā upāsakā yenāyasmā dhammiko tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ dhammikaṁ etadavocuṁ:
“pakkamatu, bhante, āyasmā dhammiko sabbaso jātibhūmiyaṁ sattahi āvāsehī”ti.
Atha kho āyasmato dhammikassa etadahosi:
“pabbājito khomhi jātibhūmakehi upāsakehi sabbaso jātibhūmiyaṁ sattahi āvāsehi.
Kahaṁ nu kho dāni gacchāmī”ti?
Atha kho āyasmato dhammikassa etadahosi:
“yannūnāhaṁ yena bhagavā tenupasaṅkameyyan”ti.
Atha kho āyasmā dhammiko pattacīvaramādāya yena rājagahaṁ tena pakkāmi.
Anupubbena yena rājagahaṁ gijjhakūṭo pabbato yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho āyasmantaṁ dhammikaṁ bhagavā etadavoca:
“handa kuto nu tvaṁ, brāhmaṇa dhammika, āgacchasī”ti?
“Pabbājito ahaṁ, bhante, jātibhūmakehi upāsakehi sabbaso jātibhūmiyaṁ sattahi āvāsehī”ti.
“Alaṁ, brāhmaṇa dhammika, kiṁ te iminā, yaṁ taṁ tato tato pabbājenti, so tvaṁ tato tato pabbājito mameva santike āgacchasi.
Bhūtapubbaṁ, brāhmaṇa dhammika, sāmuddikā vāṇijā tīradassiṁ sakuṇaṁ gahetvā nāvāya samuddaṁ ajjhogāhanti.
Te atīradakkhiṇiyā nāvāya tīradassiṁ sakuṇaṁ muñcanti.
So gacchateva puratthimaṁ disaṁ, gacchati pacchimaṁ disaṁ, gacchati uttaraṁ disaṁ, gacchati dakkhiṇaṁ disaṁ, gacchati uddhaṁ, gacchati anudisaṁ.
Sace so samantā tīraṁ passati, tathāgatakova hoti.
Sace pana so samantā tīraṁ na passati tameva nāvaṁ paccāgacchati.
Evamevaṁ kho, brāhmaṇa dhammika, yaṁ taṁ tato tato pabbājenti so tvaṁ tato tato pabbājito mameva santike āgacchasi.
Bhūtapubbaṁ, brāhmaṇa dhammika, rañño korabyassa suppatiṭṭho nāma nigrodharājā ahosi pañcasākho sītacchāyo manoramo.
Suppatiṭṭhassa kho pana, brāhmaṇa dhammika, nigrodharājassa dvādasayojanāni abhiniveso ahosi, pañca yojanāni mūlasantānakānaṁ.
Suppatiṭṭhassa kho pana, brāhmaṇa dhammika, nigrodharājassa tāva mahantāni phalāni ahesuṁ;
seyyathāpi nāma āḷhakathālikā.
Evamassa sādūni phalāni ahesuṁ;
seyyathāpi nāma khuddaṁ madhuṁ anelakaṁ.
Suppatiṭṭhassa kho pana, brāhmaṇa dhammika, nigrodharājassa ekaṁ khandhaṁ rājā paribhuñjati saddhiṁ itthāgārena, ekaṁ khandhaṁ balakāyo paribhuñjati, ekaṁ khandhaṁ negamajānapadā paribhuñjanti, ekaṁ khandhaṁ samaṇabrāhmaṇā paribhuñjanti, ekaṁ khandhaṁ migā paribhuñjanti.
Suppatiṭṭhassa kho pana, brāhmaṇa dhammika, nigrodharājassa na koci phalāni rakkhati, na ca sudaṁ aññamaññassa phalāni hiṁsanti.
Atha kho, brāhmaṇa dhammika, aññataro puriso suppatiṭṭhassa nigrodharājassa yāvadatthaṁ phalāni bhakkhitvā sākhaṁ bhañjitvā pakkāmi.
Atha kho, brāhmaṇa dhammika, suppatiṭṭhe nigrodharāje adhivatthāya devatāya etadahosi:
‘acchariyaṁ vata bho, abbhutaṁ vata bho.
Yāva pāpo manusso, yatra hi nāma suppatiṭṭhassa nigrodharājassa yāvadatthaṁ phalāni bhakkhitvā sākhaṁ bhañjitvā pakkamissati, yannūna suppatiṭṭho nigrodharājā āyatiṁ phalaṁ na dadeyyā’ti.
Atha kho, brāhmaṇa dhammika, suppatiṭṭho nigrodharājā āyatiṁ phalaṁ na adāsi.
Atha kho, brāhmaṇa dhammika, rājā korabyo yena sakko devānamindo tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā sakkaṁ devānamindaṁ etadavoca:
‘yagghe, mārisa, jāneyyāsi suppatiṭṭho nigrodharājā phalaṁ na detī’ti.
Atha kho, brāhmaṇa dhammika, sakko devānamindo tathārūpaṁ iddhābhisaṅkhāraṁ abhisaṅkhāsi, yathā bhusā vātavuṭṭhi āgantvā suppatiṭṭhaṁ nigrodharājaṁ pavattesi ummūlamakāsi.
Atha kho, brāhmaṇa dhammika, suppatiṭṭhe nigrodharāje adhivatthā devatā dukkhī dummanā assumukhī rudamānā ekamantaṁ aṭṭhāsi.
Atha kho, brāhmaṇa dhammika, sakko devānamindo yena suppatiṭṭhe nigrodharāje adhivatthā devatā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā suppatiṭṭhe nigrodharāje adhivatthaṁ devataṁ etadavoca:
‘kiṁ nu tvaṁ, devate, dukkhī dummanā assumukhī rudamānā ekamantaṁ ṭhitā’ti?
‘Tathā hi pana me, mārisa, bhusā vātavuṭṭhi āgantvā bhavanaṁ pavattesi ummūlamakāsī’ti.
‘Api nu tvaṁ, devate, rukkhadhamme ṭhitāya bhusā vātavuṭṭhi āgantvā bhavanaṁ pavattesi ummūlamakāsī’ti?
‘Kathaṁ pana, mārisa, rukkho rukkhadhamme ṭhito hotī’ti?
‘Idha, devate, rukkhassa mūlaṁ mūlatthikā haranti, tacaṁ tacatthikā haranti, pattaṁ pattatthikā haranti, pupphaṁ pupphatthikā haranti, phalaṁ phalatthikā haranti.
Na ca tena devatāya anattamanatā vā anabhinandi vā karaṇīyā.
Evaṁ kho, devate, rukkho rukkhadhamme ṭhito hotī’ti.
‘Aṭṭhitāyeva kho me, mārisa, rukkhadhamme bhusā vātavuṭṭhi āgantvā bhavanaṁ pavattesi ummūlamakāsī’ti.
‘Sace kho tvaṁ, devate, rukkhadhamme tiṭṭheyyāsi, siyā te bhavanaṁ yathāpure’ti.
‘Ṭhassāmahaṁ, mārisa, rukkhadhamme, hotu me bhavanaṁ yathāpure’ti.
Atha kho, brāhmaṇa dhammika, sakko devānamindo tathārūpaṁ iddhābhisaṅkhāraṁ abhisaṅkhāsi, yathā bhusā vātavuṭṭhi āgantvā suppatiṭṭhaṁ nigrodharājaṁ ussāpesi, sacchavīni mūlāni ahesuṁ.
Evamevaṁ kho, brāhmaṇa dhammika, api nu taṁ samaṇadhamme ṭhitaṁ jātibhūmakā upāsakā pabbājesuṁ sabbaso jātibhūmiyaṁ sattahi āvāsehī”ti?
“Kathaṁ pana, bhante, samaṇo samaṇadhamme ṭhito hotī”ti?
“Idha, brāhmaṇa dhammika, samaṇo akkosantaṁ na paccakkosati, rosantaṁ na paṭirosati, bhaṇḍantaṁ na paṭibhaṇḍati.
Evaṁ kho, brāhmaṇa dhammika, samaṇo samaṇadhamme ṭhito hotī”ti.
“Aṭṭhitaṁyeva maṁ, bhante, samaṇadhamme jātibhūmakā upāsakā pabbājesuṁ sabbaso jātibhūmiyaṁ sattahi āvāsehī”ti.
“Bhūtapubbaṁ, brāhmaṇa dhammika, sunetto nāma satthā ahosi titthakaro kāmesu vītarāgo.
Sunettassa kho pana, brāhmaṇa dhammika, satthuno anekāni sāvakasatāni ahesuṁ.
Sunetto satthā sāvakānaṁ brahmalokasahabyatāya dhammaṁ desesi.
Ye kho pana, brāhmaṇa dhammika, sunettassa satthuno brahmalokasahabyatāya dhammaṁ desentassa cittāni na pasādesuṁ te kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjiṁsu.
Ye kho pana, brāhmaṇa dhammika, sunettassa satthuno brahmalokasahabyatāya dhammaṁ desentassa cittāni pasādesuṁ te kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjiṁsu.
Bhūtapubbaṁ, brāhmaṇa dhammika, mūgapakkho nāma satthā ahosi …pe…
Aranemi nāma satthā ahosi …
… Kuddālako nāma satthā ahosi …
… Hatthipālo nāma satthā ahosi …
… Jotipālo nāma satthā ahosi titthakaro kāmesu vītarāgo.
Jotipālassa kho pana, brāhmaṇa dhammika, satthuno anekāni sāvakasatāni ahesuṁ.
Jotipālo satthā sāvakānaṁ brahmalokasahabyatāya dhammaṁ desesi.
Ye kho pana, brāhmaṇa dhammika, jotipālassa satthuno brahmalokasahabyatāya dhammaṁ desentassa cittāni na pasādesuṁ te kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjiṁsu.
Ye kho pana, brāhmaṇa dhammika, jotipālassa satthuno brahmalokasahabyatāya dhammaṁ desentassa cittāni pasādesuṁ te kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjiṁsu.
Taṁ kiṁ maññasi, brāhmaṇa dhammika,
yo ime cha satthāre titthakare kāmesu vītarāge, anekasataparivāre sasāvakasaṅghe paduṭṭhacitto akkoseyya paribhāseyya, bahuṁ so apuññaṁ pasaveyyā”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Yo kho, brāhmaṇa dhammika, ime cha satthāre titthakare kāmesu vītarāge anekasataparivāre sasāvakasaṅghe paduṭṭhacitto akkoseyya paribhāseyya, bahuṁ so apuññaṁ pasaveyya.
Yo ekaṁ diṭṭhisampannaṁ puggalaṁ paduṭṭhacitto akkosati paribhāsati, ayaṁ tato bahutaraṁ apuññaṁ pasavati.
Taṁ kissa hetu?
Nāhaṁ, brāhmaṇa dhammika, ito bahiddhā evarūpiṁ khantiṁ vadāmi, yathāmaṁ sabrahmacārīsu.
Tasmātiha, brāhmaṇa dhammika, evaṁ sikkhitabbaṁ:
‘na no samasabrahmacārīsu cittāni paduṭṭhāni bhavissantī’ti.
Evañhi te, brāhmaṇa dhammika, sikkhitabbanti.
Sunetto mūgapakkho ca,
aranemi ca brāhmaṇo;
Kuddālako ahu satthā,
hatthipālo ca māṇavo.
Jotipālo ca govindo,
ahu sattapurohito;
Ahiṁsakā atītaṁse,
cha satthāro yasassino.
Nirāmagandhā karuṇedhimuttā,
Kāmasaṁyojanātigā;
Kāmarāgaṁ virājetvā,
Brahmalokūpagā ahuṁ.
Ahesuṁ sāvakā tesaṁ,
Anekāni satānipi;
Nirāmagandhā karuṇedhimuttā,
Kāmasaṁyojanātigā;
Kāmarāgaṁ virājetvā,
Brahmalokūpagā ahuṁ.
Yete isī bāhirake,
vītarāge samāhite;
Paduṭṭhamanasaṅkappo,
yo naro paribhāsati;
Bahuñca so pasavati,
apuññaṁ tādiso naro.
Yo cekaṁ diṭṭhisampannaṁ,
Bhikkhuṁ buddhassa sāvakaṁ;
Paduṭṭhamanasaṅkappo,
Yo naro paribhāsati;
Ayaṁ tato bahutaraṁ,
Apuññaṁ pasave naro.
Na sādhurūpaṁ āsīde,
diṭṭhiṭṭhānappahāyinaṁ;
Sattamo puggalo eso,
ariyasaṅghassa vuccati.
Avītarāgo kāmesu,
yassa pañcindriyā mudū;
Saddhā sati ca vīriyaṁ,
samatho ca vipassanā.
Tādisaṁ bhikkhumāsajja,
pubbeva upahaññati;
Attānaṁ upahantvāna,
pacchā aññaṁ vihiṁsati.
Yo ca rakkhati attānaṁ,
rakkhito tassa bāhiro;
Tasmā rakkheyya attānaṁ,
akkhato paṇḍito sadā”ti.
Dvādasamaṁ.
Dhammikavaggo pañcamo.
Tassuddānaṁ
Nāgamigasālā iṇaṁ,
Cundaṁ dve sandiṭṭhikā duve;
Khemaindriya ānanda,
Khattiyā appamādena dhammikoti.
Paṭhamo paṇṇāsako samatto.