TTC 1Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu vườn ông Anàthapindika.
Lúc bấy giờ, một Tỷ-kheo ở Sàvatthi bị rắn cắn chết. Rồi nhiều Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
TTC 2—Ở đây, bạch Thế Tôn, một Tỷ-kheo ở Sàvatthi bị rắn cắn đã mệnh chung.
—Tỷ-kheo ấy, này các Tỷ-kheo, với từ tâm đã không hướng đến bốn gia đình vua các loài rắn. Nếu Tỷ-kheo ấy, này các Tỷ-kheo, với từ tâm có hướng đến bốn gia đình vua các loài rắn, thời này các Tỷ-kheo, vị ấy có thể không bị rắn cắn mà mạng chung. Thế nào là bốn gia đình vua các loài rắn?
Gia đình vua các loài rắn Virùpakkha, gia đình vua các loài rắn Eràpattha, gia đình vua các loài rắn Chabyàputta, gia đình vua các loài rắn Kanhàgotamaka; Tỷ-kheo ấy, này các Tỷ-kheo với từ tâm đã không hướng đến bốn gia đình vua các loài rắn này. Nếu Tỷ-kheo ấy, này các Tỷ-kheo, với từ tâm có thể hướng đến bốn gia đình vua các loài rắn, thời này các Tỷ-kheo, vị ấy có thể không bị rắn cắn mà mạng chung. Này các Tỷ-kheo, Ta cho phép với từ tâm hướng đến bốn gia đình vua các loài rắn này để tự bảo vệ, để tự hộ trì, để tự che chở.
TTC 3
Ta hãy có từ tâm
Với Virùpakkha,
Ta hãy có từ tâm
Với Eràpatha,
Ta hãy có từ tâm
Với Chabyaputta,
Ta hãy có từ tâm
Với Kanhàgotamaka,
Ta hãy có từ tâm
Với các loài không chân,
Ta hãy có từ tâm
Với các loài hai chân,
Ta hãy có từ tâm
Với các loài bốn chân,
Ta hãy có từ tâm,
Với các loài nhiều chân,
Mong rằng loài không chân
Không có làm hại ta,
Mong rằng loài hai chân
Không có làm hại ta,
Mong rằng loài bốn chân
Không có làm hại ta,
Mong rằng loài nhiều chân
Không có làm hại ta,
Mọi chúng sanh, hữu tình
Toàn thể mọi sinh vật,
Mong chúng thấy hiền thiện,
Chớ đi đến điều ác.
“Ðức Phật là vô lượng, Pháp là vô lượng, chúng Tăng là vô lượng, có lượng là các loài bò sát, các loài rắn, các con bò cạp, các con một trăm chân, các loại nhện giăng tơ, các con thằn lằn và các loài chuột. Ta đã làm sự hộ trì. Ta đã làm sự che chở, mong rằng các loài hữu tình sẽ bỏ đi. Ta đảnh lễ đức Thế Tôn. Ta đảnh lễ bảy vị Chánh Ðẳng Giác.”
Ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Tena kho pana samayena sāvatthiyaṁ aññataro bhikkhu ahinā daṭṭho kālaṅkato hoti.
Atha kho sambahulā bhikkhū yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinnā kho te bhikkhū bhagavantaṁ etadavocuṁ:
“idha, bhante, sāvatthiyaṁ aññataro bhikkhu ahinā daṭṭho kālaṅkato”ti.
“Na hi nūna so, bhikkhave, bhikkhu cattāri ahirājakulāni mettena cittena phari.
Sace hi so, bhikkhave, bhikkhu cattāri ahirājakulāni mettena cittena phareyya, na hi so, bhikkhave, bhikkhu ahinā daṭṭho kālaṁ kareyya.
Katamāni cattāri?
Virūpakkhaṁ ahirājakulaṁ, erāpathaṁ ahirājakulaṁ, chabyāputtaṁ ahirājakulaṁ, kaṇhāgotamakaṁ ahirājakulaṁ.
Na hi nūna so, bhikkhave, bhikkhu imāni cattāri ahirājakulāni mettena cittena phari.
Sace hi so, bhikkhave, bhikkhu imāni cattāri ahirājakulāni mettena cittena phareyya, na hi so, bhikkhave, bhikkhu ahinā daṭṭho kālaṁ kareyya.
Anujānāmi, bhikkhave, imāni cattāri ahirājakulāni mettena cittena pharituṁ attaguttiyā attarakkhāya attaparittāyāti.
Virūpakkhehi me mettaṁ,
Mettaṁ erāpathehi me;
Chabyāputtehi me mettaṁ,
Mettaṁ kaṇhāgotamakehi ca.
Apādakehi me mettaṁ,
mettaṁ dvipādakehi me;
Catuppadehi me mettaṁ,
mettaṁ bahuppadehi me.
Mā maṁ apādako hiṁsi,
mā maṁ hiṁsi dvipādako;
Mā maṁ catuppado hiṁsi,
mā maṁ hiṁsi bahuppado.
Sabbe sattā sabbe pāṇā,
sabbe bhūtā ca kevalā;
Sabbe bhadrāni passantu,
mā kañci pāpamāgamā.
Appamāṇo buddho,
Appamāṇo dhammo;
Appamāṇo saṅgho,
Pamāṇavantāni sarīsapāni.
Ahivicchikā satapadī,
Uṇṇanābhī sarabū mūsikā;
Katā me rakkhā katā me parittā,
Paṭikkamantu bhūtāni;
Sohaṁ namo bhagavato,
Namo sattannaṁ sammāsambuddhānan”ti.
Sattamaṁ.
On one occasion the Blessed One was staying near Savatthi in Jeta’s Grove, Anathapindika’s monastery. Now, at that time in Savatthi a certain monk had died after having been bitten by a snake. Then a large number of monks went to the Blessed One and, on arrival, having bowed down to him, sat to one side. As they were sitting there they said to him, “Lord, just now in Savatthi a certain monk died after having been bitten by a snake.”
“Then it’s certain, monks, that that monk didn’t suffuse the four royal snake lineages with a mind of good will. For if he had suffused the four royal snake lineages with a mind of good will, he would not have died after having been bitten by a snake. Which four? The Virupakkha royal snake lineage, the Erapatha royal snake lineage, the Chabyaputta royal snake lineage, the Dark Gotamaka royal snake lineage. It’s certain that that monk didn’t suffuse these four royal snake lineages with a mind of good will. For if he had suffused these four royal snake lineages with a mind of good will, he would not have died after having been bitten by a snake. I allow you, monks, to suffuse these four royal snake lineages with a mind of good will for the sake of self-protection, self-guarding, self-preservation.”
I have good will for the Virupakkhas,
good will for the Erapathas,
good will for the Chabyaputtas,
good will for the Dark Gotamakas.
I have good will for footless beings,
good will for two-footed beings,
good will for four-footed beings,
good will for many-footed beings.
May footless beings do me no harm.
May two-footed beings do me no harm.
May four-footed beings do me no harm.
May many-footed beings do me no harm.
May all creatures,
all breathing things, all beings
—each & every one—
meet with good fortune.
May none of them come to any evil.
Limitless is the Buddha,
limitless the Dhamma,
limitless the Sangha.
There is a limit to creeping things:
snakes, scorpions, centipedes,
spiders, lizards, & rats.
I have made this safeguard,
I have made this protection.
May the beings depart.
I pay homage to the Blessed One,
homage
to the seven rightly self-awakened ones.
TTC 1Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu vườn ông Anàthapindika.
Lúc bấy giờ, một Tỷ-kheo ở Sàvatthi bị rắn cắn chết. Rồi nhiều Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
TTC 2—Ở đây, bạch Thế Tôn, một Tỷ-kheo ở Sàvatthi bị rắn cắn đã mệnh chung.
—Tỷ-kheo ấy, này các Tỷ-kheo, với từ tâm đã không hướng đến bốn gia đình vua các loài rắn. Nếu Tỷ-kheo ấy, này các Tỷ-kheo, với từ tâm có hướng đến bốn gia đình vua các loài rắn, thời này các Tỷ-kheo, vị ấy có thể không bị rắn cắn mà mạng chung. Thế nào là bốn gia đình vua các loài rắn?
Gia đình vua các loài rắn Virùpakkha, gia đình vua các loài rắn Eràpattha, gia đình vua các loài rắn Chabyàputta, gia đình vua các loài rắn Kanhàgotamaka; Tỷ-kheo ấy, này các Tỷ-kheo với từ tâm đã không hướng đến bốn gia đình vua các loài rắn này. Nếu Tỷ-kheo ấy, này các Tỷ-kheo, với từ tâm có thể hướng đến bốn gia đình vua các loài rắn, thời này các Tỷ-kheo, vị ấy có thể không bị rắn cắn mà mạng chung. Này các Tỷ-kheo, Ta cho phép với từ tâm hướng đến bốn gia đình vua các loài rắn này để tự bảo vệ, để tự hộ trì, để tự che chở.
TTC 3
Ta hãy có từ tâm
Với Virùpakkha,
Ta hãy có từ tâm
Với Eràpatha,
Ta hãy có từ tâm
Với Chabyaputta,
Ta hãy có từ tâm
Với Kanhàgotamaka,
Ta hãy có từ tâm
Với các loài không chân,
Ta hãy có từ tâm
Với các loài hai chân,
Ta hãy có từ tâm
Với các loài bốn chân,
Ta hãy có từ tâm,
Với các loài nhiều chân,
Mong rằng loài không chân
Không có làm hại ta,
Mong rằng loài hai chân
Không có làm hại ta,
Mong rằng loài bốn chân
Không có làm hại ta,
Mong rằng loài nhiều chân
Không có làm hại ta,
Mọi chúng sanh, hữu tình
Toàn thể mọi sinh vật,
Mong chúng thấy hiền thiện,
Chớ đi đến điều ác.
“Ðức Phật là vô lượng, Pháp là vô lượng, chúng Tăng là vô lượng, có lượng là các loài bò sát, các loài rắn, các con bò cạp, các con một trăm chân, các loại nhện giăng tơ, các con thằn lằn và các loài chuột. Ta đã làm sự hộ trì. Ta đã làm sự che chở, mong rằng các loài hữu tình sẽ bỏ đi. Ta đảnh lễ đức Thế Tôn. Ta đảnh lễ bảy vị Chánh Ðẳng Giác.”
Ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Tena kho pana samayena sāvatthiyaṁ aññataro bhikkhu ahinā daṭṭho kālaṅkato hoti.
Atha kho sambahulā bhikkhū yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinnā kho te bhikkhū bhagavantaṁ etadavocuṁ:
“idha, bhante, sāvatthiyaṁ aññataro bhikkhu ahinā daṭṭho kālaṅkato”ti.
“Na hi nūna so, bhikkhave, bhikkhu cattāri ahirājakulāni mettena cittena phari.
Sace hi so, bhikkhave, bhikkhu cattāri ahirājakulāni mettena cittena phareyya, na hi so, bhikkhave, bhikkhu ahinā daṭṭho kālaṁ kareyya.
Katamāni cattāri?
Virūpakkhaṁ ahirājakulaṁ, erāpathaṁ ahirājakulaṁ, chabyāputtaṁ ahirājakulaṁ, kaṇhāgotamakaṁ ahirājakulaṁ.
Na hi nūna so, bhikkhave, bhikkhu imāni cattāri ahirājakulāni mettena cittena phari.
Sace hi so, bhikkhave, bhikkhu imāni cattāri ahirājakulāni mettena cittena phareyya, na hi so, bhikkhave, bhikkhu ahinā daṭṭho kālaṁ kareyya.
Anujānāmi, bhikkhave, imāni cattāri ahirājakulāni mettena cittena pharituṁ attaguttiyā attarakkhāya attaparittāyāti.
Virūpakkhehi me mettaṁ,
Mettaṁ erāpathehi me;
Chabyāputtehi me mettaṁ,
Mettaṁ kaṇhāgotamakehi ca.
Apādakehi me mettaṁ,
mettaṁ dvipādakehi me;
Catuppadehi me mettaṁ,
mettaṁ bahuppadehi me.
Mā maṁ apādako hiṁsi,
mā maṁ hiṁsi dvipādako;
Mā maṁ catuppado hiṁsi,
mā maṁ hiṁsi bahuppado.
Sabbe sattā sabbe pāṇā,
sabbe bhūtā ca kevalā;
Sabbe bhadrāni passantu,
mā kañci pāpamāgamā.
Appamāṇo buddho,
Appamāṇo dhammo;
Appamāṇo saṅgho,
Pamāṇavantāni sarīsapāni.
Ahivicchikā satapadī,
Uṇṇanābhī sarabū mūsikā;
Katā me rakkhā katā me parittā,
Paṭikkamantu bhūtāni;
Sohaṁ namo bhagavato,
Namo sattannaṁ sammāsambuddhānan”ti.
Sattamaṁ.