TTC 1—Này các Tỷ-kheo, có hai loại người ngu này. Thế nào là hai? Người có phạm tội nhưng không thấy có phạm tội, và người không chấp nhận người khác như pháp phát lộ tội của mình. Này các Tỷ-kheo, có hai loại người ngu này.
Này các Tỷ-kheo, có hai loại người có trí. Thế nào là hai? Người có phạm tội là thấy có phạm tội, và người chấp nhận người khác như pháp phát lộ tội của mình. Này các Tỷ-kheo, có hai loại người có trí này.
TTC 2Này các Tỷ-kheo, có hai hạng người này xuyên tạc Như Lai. Thế nào là hai? Người độc ác với tâm đầy sân hận, và người có lòng tin với tà kiến. Này các Tỷ-kheo, có hai hạng người này xuyên tạc Như Lai.
TTC 3Này các Tỷ-kheo, có hai hạng người này xuyên tạc Như Lai. Thế nào là hai? Người nêu rõ Như Lai có nói, có thuyết là Như Lai không nói, không thuyết, và người nêu rõ Như Lai không nói, không thuyết là Như Lai có nói, có thuyết. Này các Tỷ-kheo, có hai hạng người này xuyên tạc Như Lai.
TTC 4Này các Tỷ-kheo, có hai hạng người này không xuyên tạc Như Lai. Thế nào là hai? Người nêu rõ Như Lai có nói, có thuyết là Như Lai có nói, có thuyết, và người nêu rõ Như Lai không nói, không thuyết là Như Lai không nói, không thuyết. Nầy các Tỷ-kheo, có hai hạng người này không xuyên tạc Như Lai
TTC 5Hai hạng người này, này các Tỷ-kheo, xuyên tạc Như Lai. Thế nào là hai? Người nêu rõ kinh cần phải giải nghĩa là kinh đã được giải nghĩa, và người nêu rõ kinh đã được giải nghĩa là kinh cần phải giải nghĩa. Hai hạng người này, này các Tỷ-kheo, xuyên tạc Như Lai.
TTC 6Hai hạng người này, này các Tỷ-kheo, không xuyên tạc Như Lai. Thế nào là hai? Người nêu rõ kinh cần phải giải nghĩa là kinh cần phải giải nghĩa, và người nêu rõ kinh đã được giải nghĩa là kinh đã được giải nghĩa. Hai hạng người này, này các Tỷ-kheo, không xuyên tạc Như Lai.
TTC 7Với người có hành động che đậy, này các Tỷ-kheo, một trong hai sanh thú được chờ đợi: địa ngục hay bàng sanh. Với người không có hành động che đậy, này các Tỷ-kheo, một trong hai sanh thú được chờ đợi: chư Thiên hay loài Người.
TTC 8Với người có tà kiến, này các Tỷ-kheo, một trong hai sanh thú được chờ đợi: địa ngục hay loại bàng sanh.
Với người có chánh kiến, này các Tỷ-kheo, một trong hai sanh thú được chờ đợi: chư Thiên hay loài Người.
Người theo ác giới, này các Tỷ-kheo, có hai chấp nhận: địa ngục hay loài bàng sanh. Người đầy đủ thiện giới, này các Tỷ-kheo, có hai chấp nhận: chư Thiên và loài Người.
TTC 9Do quán thấy hai lợi ích, này các Tỷ-kheo, Ta đi đến ngôi rừng hẻo lánh, các trú xứ xa vắng. Thế nào là hai? Thấy tự mình hiện tại lạc trú, và có lòng thương tưởng đến những chúng sanh về sau. Do quán thấy hai lợi ích này, này các Tỷ-kheo, nên Ta đi đến các ngôi rừng hẻo lánh, các trú xứ xa vắng.
TTC 10Có hai pháp này, này các Tỷ-kheo, thuộc thành phần minh. Thế nào là hai? Chỉ và Quán. Chỉ được tu tập, này các Tỷ-kheo, chờ đợi lợi ích gì? Tâm được tu tập. Tâm được tu tập, chờ đợi lợi ích gì? Cái gì thuộc về tham được đoạn tận. Quán được tu tập, này các Tỷ-kheo, chờ đợi lợi ích gì? Tuệ được tu tập. Tuệ được tu tập, chờ đợi lợi ích gì? Cái gì thuộc vô minh được đoạn tận. Bị tham làm uế nhiễm, này các Tỷ-kheo, tâm không thể giải thoát. Hay bị vô minh làm uế nhiễm, tuệ không được tu tập. Do vậy, do ly tham, là tâm giải thoát. Do đoạn vô minh, là tuệ giải thoát.
21
“Dveme, bhikkhave, bālā.
Katame dve?
Yo ca accayaṁ accayato na passati, yo ca accayaṁ desentassa yathādhammaṁ nappaṭiggaṇhāti.
Ime kho, bhikkhave, dve bālāti.
Dveme, bhikkhave, paṇḍitā.
Katame dve?
Yo ca accayaṁ accayato passati, yo ca accayaṁ desentassa yathādhammaṁ paṭiggaṇhāti.
Ime kho, bhikkhave, dve paṇḍitā”ti.
22
“Dveme, bhikkhave, tathāgataṁ abbhācikkhanti.
Katame dve?
Duṭṭho vā dosantaro, saddho vā duggahitena.
Ime kho, bhikkhave, dve tathāgataṁ abbhācikkhantī”ti.
23
“Dveme, bhikkhave, tathāgataṁ abbhācikkhanti.
Katame dve?
Yo ca abhāsitaṁ alapitaṁ tathāgatena bhāsitaṁ lapitaṁ tathāgatenāti dīpeti, yo ca bhāsitaṁ lapitaṁ tathāgatena abhāsitaṁ alapitaṁ tathāgatenāti dīpeti.
Ime kho, bhikkhave, dve tathāgataṁ abbhācikkhantīti.
Dveme, bhikkhave, tathāgataṁ nābbhācikkhanti.
Katame dve?
Yo ca abhāsitaṁ alapitaṁ tathāgatena abhāsitaṁ alapitaṁ tathāgatenāti dīpeti, yo ca bhāsitaṁ lapitaṁ tathāgatena bhāsitaṁ lapitaṁ tathāgatenāti dīpeti.
Ime kho, bhikkhave, dve tathāgataṁ nābbhācikkhantī”ti.
24
“Dveme, bhikkhave, tathāgataṁ abbhācikkhanti.
Katame dve?
Yo ca neyyatthaṁ suttantaṁ nītattho suttantoti dīpeti, yo ca nītatthaṁ suttantaṁ neyyattho suttantoti dīpeti.
Ime kho, bhikkhave, dve tathāgataṁ abbhācikkhantī”ti.
25
“Dveme, bhikkhave, tathāgataṁ nābbhācikkhanti.
Katame dve?
Yo ca neyyatthaṁ suttantaṁ neyyattho suttantoti dīpeti, yo ca nītatthaṁ suttantaṁ nītattho suttantoti dīpeti.
Ime kho, bhikkhave, dve tathāgataṁ nābbhācikkhantī”ti.
26
“Paṭicchannakammantassa, bhikkhave, dvinnaṁ gatīnaṁ aññatarā gati pāṭikaṅkhā—
nirayo vā tiracchānayoni vāti.
Appaṭicchannakammantassa, bhikkhave, dvinnaṁ gatīnaṁ aññatarā gati pāṭikaṅkhā—
devā vā manussā vā”ti.
27
“Micchādiṭṭhikassa, bhikkhave, dvinnaṁ gatīnaṁ aññatarā gati pāṭikaṅkhā—
nirayo vā tiracchānayoni vā”ti.
28
“Sammādiṭṭhikassa, bhikkhave, dvinnaṁ gatīnaṁ aññatarā gati pāṭikaṅkhā—
devā vā manussā vā”ti.
29
“Dussīlassa, bhikkhave, dve paṭiggāhā—
nirayo vā tiracchānayoni vā.
Sīlavato, bhikkhave, dve paṭiggāhā—
devā vā manussā vā”ti.
30
“Dvāhaṁ, bhikkhave, atthavase sampassamāno araññavanapatthāni pantāni senāsanāni paṭisevāmi.
Katame dve?
Attano ca diṭṭhadhammasukhavihāraṁ sampassamāno, pacchimañca janataṁ anukampamāno.
Ime kho ahaṁ, bhikkhave, dve atthavase sampassamāno araññavanapatthāni pantāni senāsanāni paṭisevāmī”ti.
31
“Dve me, bhikkhave, dhammā vijjābhāgiyā.
Katame dve?
Samatho ca vipassanā ca.
Samatho, bhikkhave, bhāvito kamatthamanubhoti?
Cittaṁ bhāvīyati.
Cittaṁ bhāvitaṁ kamatthamanubhoti?
Yo rāgo so pahīyati.
Vipassanā, bhikkhave, bhāvitā kamatthamanubhoti?
Paññā bhāvīyati.
Paññā bhāvitā kamatthamanubhoti?
Yā avijjā sā pahīyati.
Rāgupakkiliṭṭhaṁ vā, bhikkhave, cittaṁ na vimuccati, avijjupakkiliṭṭhā vā paññā na bhāvīyati.
Iti kho, bhikkhave, rāgavirāgā cetovimutti, avijjāvirāgā paññāvimuttī”ti.
Bālavaggo tatiyo.
2.21. Fools & Wise People
“Monks, these two are fools. Which two? The one who doesn’t see his transgression as a transgression, and the one who doesn’t rightfully pardon another who has confessed his transgression. These two are fools.
“These two are wise people. Which two? The one who sees his transgression as a transgression, and the one who rightfully pardons another who has confessed his transgression. These two are wise people.”
TTC 1—Này các Tỷ-kheo, có hai loại người ngu này. Thế nào là hai? Người có phạm tội nhưng không thấy có phạm tội, và người không chấp nhận người khác như pháp phát lộ tội của mình. Này các Tỷ-kheo, có hai loại người ngu này.
Này các Tỷ-kheo, có hai loại người có trí. Thế nào là hai? Người có phạm tội là thấy có phạm tội, và người chấp nhận người khác như pháp phát lộ tội của mình. Này các Tỷ-kheo, có hai loại người có trí này.
TTC 2Này các Tỷ-kheo, có hai hạng người này xuyên tạc Như Lai. Thế nào là hai? Người độc ác với tâm đầy sân hận, và người có lòng tin với tà kiến. Này các Tỷ-kheo, có hai hạng người này xuyên tạc Như Lai.
TTC 3Này các Tỷ-kheo, có hai hạng người này xuyên tạc Như Lai. Thế nào là hai? Người nêu rõ Như Lai có nói, có thuyết là Như Lai không nói, không thuyết, và người nêu rõ Như Lai không nói, không thuyết là Như Lai có nói, có thuyết. Này các Tỷ-kheo, có hai hạng người này xuyên tạc Như Lai.
TTC 4Này các Tỷ-kheo, có hai hạng người này không xuyên tạc Như Lai. Thế nào là hai? Người nêu rõ Như Lai có nói, có thuyết là Như Lai có nói, có thuyết, và người nêu rõ Như Lai không nói, không thuyết là Như Lai không nói, không thuyết. Nầy các Tỷ-kheo, có hai hạng người này không xuyên tạc Như Lai
TTC 5Hai hạng người này, này các Tỷ-kheo, xuyên tạc Như Lai. Thế nào là hai? Người nêu rõ kinh cần phải giải nghĩa là kinh đã được giải nghĩa, và người nêu rõ kinh đã được giải nghĩa là kinh cần phải giải nghĩa. Hai hạng người này, này các Tỷ-kheo, xuyên tạc Như Lai.
TTC 6Hai hạng người này, này các Tỷ-kheo, không xuyên tạc Như Lai. Thế nào là hai? Người nêu rõ kinh cần phải giải nghĩa là kinh cần phải giải nghĩa, và người nêu rõ kinh đã được giải nghĩa là kinh đã được giải nghĩa. Hai hạng người này, này các Tỷ-kheo, không xuyên tạc Như Lai.
TTC 7Với người có hành động che đậy, này các Tỷ-kheo, một trong hai sanh thú được chờ đợi: địa ngục hay bàng sanh. Với người không có hành động che đậy, này các Tỷ-kheo, một trong hai sanh thú được chờ đợi: chư Thiên hay loài Người.
TTC 8Với người có tà kiến, này các Tỷ-kheo, một trong hai sanh thú được chờ đợi: địa ngục hay loại bàng sanh.
Với người có chánh kiến, này các Tỷ-kheo, một trong hai sanh thú được chờ đợi: chư Thiên hay loài Người.
Người theo ác giới, này các Tỷ-kheo, có hai chấp nhận: địa ngục hay loài bàng sanh. Người đầy đủ thiện giới, này các Tỷ-kheo, có hai chấp nhận: chư Thiên và loài Người.
TTC 9Do quán thấy hai lợi ích, này các Tỷ-kheo, Ta đi đến ngôi rừng hẻo lánh, các trú xứ xa vắng. Thế nào là hai? Thấy tự mình hiện tại lạc trú, và có lòng thương tưởng đến những chúng sanh về sau. Do quán thấy hai lợi ích này, này các Tỷ-kheo, nên Ta đi đến các ngôi rừng hẻo lánh, các trú xứ xa vắng.
TTC 10Có hai pháp này, này các Tỷ-kheo, thuộc thành phần minh. Thế nào là hai? Chỉ và Quán. Chỉ được tu tập, này các Tỷ-kheo, chờ đợi lợi ích gì? Tâm được tu tập. Tâm được tu tập, chờ đợi lợi ích gì? Cái gì thuộc về tham được đoạn tận. Quán được tu tập, này các Tỷ-kheo, chờ đợi lợi ích gì? Tuệ được tu tập. Tuệ được tu tập, chờ đợi lợi ích gì? Cái gì thuộc vô minh được đoạn tận. Bị tham làm uế nhiễm, này các Tỷ-kheo, tâm không thể giải thoát. Hay bị vô minh làm uế nhiễm, tuệ không được tu tập. Do vậy, do ly tham, là tâm giải thoát. Do đoạn vô minh, là tuệ giải thoát.
21
“Dveme, bhikkhave, bālā.
Katame dve?
Yo ca accayaṁ accayato na passati, yo ca accayaṁ desentassa yathādhammaṁ nappaṭiggaṇhāti.
Ime kho, bhikkhave, dve bālāti.
Dveme, bhikkhave, paṇḍitā.
Katame dve?
Yo ca accayaṁ accayato passati, yo ca accayaṁ desentassa yathādhammaṁ paṭiggaṇhāti.
Ime kho, bhikkhave, dve paṇḍitā”ti.
22
“Dveme, bhikkhave, tathāgataṁ abbhācikkhanti.
Katame dve?
Duṭṭho vā dosantaro, saddho vā duggahitena.
Ime kho, bhikkhave, dve tathāgataṁ abbhācikkhantī”ti.
23
“Dveme, bhikkhave, tathāgataṁ abbhācikkhanti.
Katame dve?
Yo ca abhāsitaṁ alapitaṁ tathāgatena bhāsitaṁ lapitaṁ tathāgatenāti dīpeti, yo ca bhāsitaṁ lapitaṁ tathāgatena abhāsitaṁ alapitaṁ tathāgatenāti dīpeti.
Ime kho, bhikkhave, dve tathāgataṁ abbhācikkhantīti.
Dveme, bhikkhave, tathāgataṁ nābbhācikkhanti.
Katame dve?
Yo ca abhāsitaṁ alapitaṁ tathāgatena abhāsitaṁ alapitaṁ tathāgatenāti dīpeti, yo ca bhāsitaṁ lapitaṁ tathāgatena bhāsitaṁ lapitaṁ tathāgatenāti dīpeti.
Ime kho, bhikkhave, dve tathāgataṁ nābbhācikkhantī”ti.
24
“Dveme, bhikkhave, tathāgataṁ abbhācikkhanti.
Katame dve?
Yo ca neyyatthaṁ suttantaṁ nītattho suttantoti dīpeti, yo ca nītatthaṁ suttantaṁ neyyattho suttantoti dīpeti.
Ime kho, bhikkhave, dve tathāgataṁ abbhācikkhantī”ti.
25
“Dveme, bhikkhave, tathāgataṁ nābbhācikkhanti.
Katame dve?
Yo ca neyyatthaṁ suttantaṁ neyyattho suttantoti dīpeti, yo ca nītatthaṁ suttantaṁ nītattho suttantoti dīpeti.
Ime kho, bhikkhave, dve tathāgataṁ nābbhācikkhantī”ti.
26
“Paṭicchannakammantassa, bhikkhave, dvinnaṁ gatīnaṁ aññatarā gati pāṭikaṅkhā—
nirayo vā tiracchānayoni vāti.
Appaṭicchannakammantassa, bhikkhave, dvinnaṁ gatīnaṁ aññatarā gati pāṭikaṅkhā—
devā vā manussā vā”ti.
27
“Micchādiṭṭhikassa, bhikkhave, dvinnaṁ gatīnaṁ aññatarā gati pāṭikaṅkhā—
nirayo vā tiracchānayoni vā”ti.
28
“Sammādiṭṭhikassa, bhikkhave, dvinnaṁ gatīnaṁ aññatarā gati pāṭikaṅkhā—
devā vā manussā vā”ti.
29
“Dussīlassa, bhikkhave, dve paṭiggāhā—
nirayo vā tiracchānayoni vā.
Sīlavato, bhikkhave, dve paṭiggāhā—
devā vā manussā vā”ti.
30
“Dvāhaṁ, bhikkhave, atthavase sampassamāno araññavanapatthāni pantāni senāsanāni paṭisevāmi.
Katame dve?
Attano ca diṭṭhadhammasukhavihāraṁ sampassamāno, pacchimañca janataṁ anukampamāno.
Ime kho ahaṁ, bhikkhave, dve atthavase sampassamāno araññavanapatthāni pantāni senāsanāni paṭisevāmī”ti.
31
“Dve me, bhikkhave, dhammā vijjābhāgiyā.
Katame dve?
Samatho ca vipassanā ca.
Samatho, bhikkhave, bhāvito kamatthamanubhoti?
Cittaṁ bhāvīyati.
Cittaṁ bhāvitaṁ kamatthamanubhoti?
Yo rāgo so pahīyati.
Vipassanā, bhikkhave, bhāvitā kamatthamanubhoti?
Paññā bhāvīyati.
Paññā bhāvitā kamatthamanubhoti?
Yā avijjā sā pahīyati.
Rāgupakkiliṭṭhaṁ vā, bhikkhave, cittaṁ na vimuccati, avijjupakkiliṭṭhā vā paññā na bhāvīyati.
Iti kho, bhikkhave, rāgavirāgā cetovimutti, avijjāvirāgā paññāvimuttī”ti.
Bālavaggo tatiyo.