TTC 1Một thời, Thế Tôn trú ở Alavì, tại điện Phật Aggàlava. Rồi Hatthaka, người xứ Alavì cùng với năm trăm nam cư sĩ đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Hatthaka, người xứ Alavì, đang ngồi xuống một bên:
TTC 2—Này Hatthaka, hội chúng này thật lớn. Làm sao, này Hatthaka, Ông thâu nhiếp được hội chúng này?
—Bạch Thế Tôn, có bốn nhiếp pháp này được Thế Tôn thuyết giảng. Con thâu nhiếp hội chúng này với những nhiếp pháp ấy. Bạch Thế Tôn, khi con biết rằng: “Người này cần phải thâu nhiếp nhờ bố thí”, thời con thâu nhiếp người ấy với bố thí. Khi con biết rằng: “Người này cần phải thâu nhiếp nhờ ái ngữ”, thời con thâu nhiếp người ấy với ái ngữ. Khi con biết rằng: “Người này cần phải thâu nhiếp nhờ lợi hành”, thời con thâu nhiếp người ấy với lợi hành. Khi con biết rằng: “Người này cần phải thâu nhiếp nhờ đồng sự”, thời con thâu nhiếp người ấy với đồng sự. Vả lại, bạch Thế Tôn, trong gia đình con có tài sản, họ nghĩ rằng như vậy không thể được nghe như là một người bần cùng.
TTC 3—Lành thay, lành thay, này Hatthaka! Ðây là nguyên lý để thâu nhiếp đại chúng! Này Hatthaka, những ai trong quá khứ đã thâu nhiếp đại chúng, tất cả đều thâu nhiếp đại chúng với bốn nhiếp pháp này. Này Hatthaka, những ai trong tương lai sẽ thâu nhiếp đại chúng, tất cả sẽ thâu nhiếp đại chúng với bốn nhiếp pháp này. Này Hatthaka, những ai trong hiện tại thâu nhiếp đại chúng, tất cả họ đều thâu nhiếp đại chúng với bốn nhiếp pháp này.
TTC 4Rồi Hatthaka, người xứ Alavì, được Thế Tôn với pháp thoại, giảng dạy, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài, rồi ra đi. Thế Tôn, sau khi Hatthaka, người xứ Alavì ra đi không bao lâu, bèn gọi các Tỷ-kheo:
TTC 5—Này các Tỷ-kheo, hãy thọ trì rằng Hatthaka, người xứ Alavì thành tựu được tám pháp vi diệu chưa từng có này. Thế nào là tám pháp ?
TTC 6Có lòng tin, này các Tỷ kheo, là Hatthaka người xứ Alavì, có giữ giới; này các Tỷ-kheo, là Hatthaka người xứ Alavì; có lòng xấu hổ, này các Tỷ-kheo, là Hatthaka người xứ Alavì; có lòng sợ hãi, này các Tỷ-kheo, là Hatthaka người xứ Alavì; nghe nhiều, này các Tỷ-kheo, là Hatthaka người xứ Alavì; có bố thí, này các Tỷ-kheo, là Hatthaka người xứ Alavì; có trí tuệ, này các Tỷ-kheo, là Hatthaka người xứ Alavì; ít dục, này các Tỷ-kheo, là Hatthaka người xứ Alavì!
Này các Tỷ-kheo, hãy thọ trì rằng Hatthaka, người xứ Alavì thành tựu tám pháp vi diệu chưa từng có này.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā āḷaviyaṁ viharati aggāḷave cetiye.
Atha kho hatthako āḷavako pañcamattehi upāsakasatehi parivuto yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho hatthakaṁ āḷavakaṁ bhagavā etadavoca:
“mahatī kho tyāyaṁ, hatthaka, parisā.
Kathaṁ pana tvaṁ, hatthaka, imaṁ mahatiṁ parisaṁ saṅgaṇhāsī”ti?
“Yānimāni, bhante, bhagavatā desitāni cattāri saṅgahavatthūni, tehāhaṁ imaṁ mahatiṁ parisaṁ saṅgaṇhāmi.
Ahaṁ, bhante, yaṁ jānāmi:
‘ayaṁ dānena saṅgahetabbo’ti, taṁ dānena saṅgaṇhāmi;
yaṁ jānāmi:
‘ayaṁ peyyavajjena saṅgahetabbo’ti, taṁ peyyavajjena saṅgaṇhāmi;
yaṁ jānāmi:
‘ayaṁ atthacariyāya saṅgahetabbo’ti, taṁ atthacariyāya saṅgaṇhāmi;
yaṁ jānāmi:
‘ayaṁ samānattatāya saṅgahetabbo’ti, taṁ samānattatāya saṅgaṇhāmi.
Saṁvijjanti kho pana me, bhante, kule bhogā.
Daliddassa kho no tathā sotabbaṁ maññantī”ti.
“Sādhu sādhu, hatthaka.
Yoni kho tyāyaṁ, hatthaka, mahatiṁ parisaṁ saṅgahetuṁ.
Ye hi keci, hatthaka, atītamaddhānaṁ mahatiṁ parisaṁ saṅgahesuṁ, sabbe te imeheva catūhi saṅgahavatthūhi mahatiṁ parisaṁ saṅgahesuṁ.
Yepi hi keci, hatthaka, anāgatamaddhānaṁ mahatiṁ parisaṁ saṅgaṇhissanti, sabbe te imeheva catūhi saṅgahavatthūhi mahatiṁ parisaṁ saṅgaṇhissanti.
Yepi hi keci, hatthaka, etarahi mahatiṁ parisaṁ saṅgaṇhanti, sabbe te imeheva catūhi saṅgahavatthūhi mahatiṁ parisaṁ saṅgaṇhantī”ti.
Atha kho hatthako āḷavako bhagavatā dhammiyā kathāya sandassito samādapito samuttejito sampahaṁsito uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkāmi.
Atha kho bhagavā acirapakkante hatthake āḷavake bhikkhū āmantesi:
“aṭṭhahi, bhikkhave, acchariyehi abbhutehi dhammehi samannāgataṁ hatthakaṁ āḷavakaṁ dhāretha.
Katamehi aṭṭhahi?
Saddho, bhikkhave, hatthako āḷavako;
sīlavā, bhikkhave …pe…
hirīmā …
ottappī …
bahussuto …
cāgavā …
paññavā, bhikkhave, hatthako āḷavako;
appiccho, bhikkhave, hatthako āḷavako.
Imehi kho, bhikkhave, aṭṭhahi acchariyehi abbhutehi dhammehi samannāgataṁ hatthakaṁ āḷavakaṁ dhārethā”ti.
Catutthaṁ.
SC 1On one occasion the Blessed One was dwelling at Āḷavī at the Aggāḷava Shrine. Then Hatthaka of Āḷavī, accompanied by five hundred lay followers, an.iv.219 approached the Blessed One, paid homage to him, and sat down to one side. The Blessed One then said to him:
SC 2“Your retinue is large, Hatthaka. How do you sustain this large retinue?”
SC 3“I do so, Bhante, by the four means of sustaining a favorable relationship taught by the Blessed One. When I know: ‘This one is to be sustained by a gift,’ I sustain him by a gift. When I know: ‘This one is to be sustained by endearing speech,’ I sustain him by endearing speech. When I know: ‘This one is to be sustained by beneficent conduct,’ I sustain him by beneficent conduct. When I know: ‘This one is to be sustained by impartiality,’ I sustain him by impartiality. There is wealth in my family, Bhante. They don’t think they should listen to me as if I were poor.”
SC 4“Good, good, Hatthaka! This is the method by which you can sustain a large retinue. For all those in the past who sustained a large retinue did so by these same four means of sustaining a favorable relationship. All those in the future who will sustain a large retinue will do so by these same four means of sustaining a favorable relationship. And all those at present who sustain a large retinue do so by these same four means of sustaining a favorable relationship.”
SC 5Then, after the Blessed One had instructed, encouraged, inspired, and gladdened Hatthaka of Āḷavī with a Dhamma talk, Hatthaka rose from his seat, paid homage to the Blessed One, circumambulated him keeping the right side toward him, an.iv.220 and departed.
SC 6Then, not long after Hatthaka of Āḷavī had left, the Blessed One addressed the bhikkhus: “Bhikkhus, you should remember Hatthaka of Āḷavī as one who possesses eight astounding and amazing qualities. What eight? (1) He is endowed with faith. (2) He is virtuous, and (3) has a sense of moral shame and (4) moral dread. (5) He is learned, (6) generous, and (7) wise. (8) He has few desires. You should remember Hatthaka of Āḷavī as one who possesses these eight astounding and amazing qualities.”
TTC 1Một thời, Thế Tôn trú ở Alavì, tại điện Phật Aggàlava. Rồi Hatthaka, người xứ Alavì cùng với năm trăm nam cư sĩ đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Hatthaka, người xứ Alavì, đang ngồi xuống một bên:
TTC 2—Này Hatthaka, hội chúng này thật lớn. Làm sao, này Hatthaka, Ông thâu nhiếp được hội chúng này?
—Bạch Thế Tôn, có bốn nhiếp pháp này được Thế Tôn thuyết giảng. Con thâu nhiếp hội chúng này với những nhiếp pháp ấy. Bạch Thế Tôn, khi con biết rằng: “Người này cần phải thâu nhiếp nhờ bố thí”, thời con thâu nhiếp người ấy với bố thí. Khi con biết rằng: “Người này cần phải thâu nhiếp nhờ ái ngữ”, thời con thâu nhiếp người ấy với ái ngữ. Khi con biết rằng: “Người này cần phải thâu nhiếp nhờ lợi hành”, thời con thâu nhiếp người ấy với lợi hành. Khi con biết rằng: “Người này cần phải thâu nhiếp nhờ đồng sự”, thời con thâu nhiếp người ấy với đồng sự. Vả lại, bạch Thế Tôn, trong gia đình con có tài sản, họ nghĩ rằng như vậy không thể được nghe như là một người bần cùng.
TTC 3—Lành thay, lành thay, này Hatthaka! Ðây là nguyên lý để thâu nhiếp đại chúng! Này Hatthaka, những ai trong quá khứ đã thâu nhiếp đại chúng, tất cả đều thâu nhiếp đại chúng với bốn nhiếp pháp này. Này Hatthaka, những ai trong tương lai sẽ thâu nhiếp đại chúng, tất cả sẽ thâu nhiếp đại chúng với bốn nhiếp pháp này. Này Hatthaka, những ai trong hiện tại thâu nhiếp đại chúng, tất cả họ đều thâu nhiếp đại chúng với bốn nhiếp pháp này.
TTC 4Rồi Hatthaka, người xứ Alavì, được Thế Tôn với pháp thoại, giảng dạy, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài, rồi ra đi. Thế Tôn, sau khi Hatthaka, người xứ Alavì ra đi không bao lâu, bèn gọi các Tỷ-kheo:
TTC 5—Này các Tỷ-kheo, hãy thọ trì rằng Hatthaka, người xứ Alavì thành tựu được tám pháp vi diệu chưa từng có này. Thế nào là tám pháp ?
TTC 6Có lòng tin, này các Tỷ kheo, là Hatthaka người xứ Alavì, có giữ giới; này các Tỷ-kheo, là Hatthaka người xứ Alavì; có lòng xấu hổ, này các Tỷ-kheo, là Hatthaka người xứ Alavì; có lòng sợ hãi, này các Tỷ-kheo, là Hatthaka người xứ Alavì; nghe nhiều, này các Tỷ-kheo, là Hatthaka người xứ Alavì; có bố thí, này các Tỷ-kheo, là Hatthaka người xứ Alavì; có trí tuệ, này các Tỷ-kheo, là Hatthaka người xứ Alavì; ít dục, này các Tỷ-kheo, là Hatthaka người xứ Alavì!
Này các Tỷ-kheo, hãy thọ trì rằng Hatthaka, người xứ Alavì thành tựu tám pháp vi diệu chưa từng có này.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā āḷaviyaṁ viharati aggāḷave cetiye.
Atha kho hatthako āḷavako pañcamattehi upāsakasatehi parivuto yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho hatthakaṁ āḷavakaṁ bhagavā etadavoca:
“mahatī kho tyāyaṁ, hatthaka, parisā.
Kathaṁ pana tvaṁ, hatthaka, imaṁ mahatiṁ parisaṁ saṅgaṇhāsī”ti?
“Yānimāni, bhante, bhagavatā desitāni cattāri saṅgahavatthūni, tehāhaṁ imaṁ mahatiṁ parisaṁ saṅgaṇhāmi.
Ahaṁ, bhante, yaṁ jānāmi:
‘ayaṁ dānena saṅgahetabbo’ti, taṁ dānena saṅgaṇhāmi;
yaṁ jānāmi:
‘ayaṁ peyyavajjena saṅgahetabbo’ti, taṁ peyyavajjena saṅgaṇhāmi;
yaṁ jānāmi:
‘ayaṁ atthacariyāya saṅgahetabbo’ti, taṁ atthacariyāya saṅgaṇhāmi;
yaṁ jānāmi:
‘ayaṁ samānattatāya saṅgahetabbo’ti, taṁ samānattatāya saṅgaṇhāmi.
Saṁvijjanti kho pana me, bhante, kule bhogā.
Daliddassa kho no tathā sotabbaṁ maññantī”ti.
“Sādhu sādhu, hatthaka.
Yoni kho tyāyaṁ, hatthaka, mahatiṁ parisaṁ saṅgahetuṁ.
Ye hi keci, hatthaka, atītamaddhānaṁ mahatiṁ parisaṁ saṅgahesuṁ, sabbe te imeheva catūhi saṅgahavatthūhi mahatiṁ parisaṁ saṅgahesuṁ.
Yepi hi keci, hatthaka, anāgatamaddhānaṁ mahatiṁ parisaṁ saṅgaṇhissanti, sabbe te imeheva catūhi saṅgahavatthūhi mahatiṁ parisaṁ saṅgaṇhissanti.
Yepi hi keci, hatthaka, etarahi mahatiṁ parisaṁ saṅgaṇhanti, sabbe te imeheva catūhi saṅgahavatthūhi mahatiṁ parisaṁ saṅgaṇhantī”ti.
Atha kho hatthako āḷavako bhagavatā dhammiyā kathāya sandassito samādapito samuttejito sampahaṁsito uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkāmi.
Atha kho bhagavā acirapakkante hatthake āḷavake bhikkhū āmantesi:
“aṭṭhahi, bhikkhave, acchariyehi abbhutehi dhammehi samannāgataṁ hatthakaṁ āḷavakaṁ dhāretha.
Katamehi aṭṭhahi?
Saddho, bhikkhave, hatthako āḷavako;
sīlavā, bhikkhave …pe…
hirīmā …
ottappī …
bahussuto …
cāgavā …
paññavā, bhikkhave, hatthako āḷavako;
appiccho, bhikkhave, hatthako āḷavako.
Imehi kho, bhikkhave, aṭṭhahi acchariyehi abbhutehi dhammehi samannāgataṁ hatthakaṁ āḷavakaṁ dhārethā”ti.
Catutthaṁ.