TTC 1Rồi một Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
—Ðầy đủ y chỉ, đầy đủ y chỉ, bạch Thế Tôn, được nói lên như vậy. Bạch Thế Tôn cho đến như thế nào là Tỷ-kheo đầy đủ y chỉ?
TTC 2—Nếu Tỷ-kheo y chỉ lòng tin, đoạn tận bất thiện tu tập thiện, như vậy, với vị ấy, bất thiện được đoạn tận. Nếu Tỷ-kheo y chỉ tàm (xấu hổ)… nếu Tỷ-kheo y chỉ sợ hãi… nếu Tỷ-kheo y chỉ tinh tấn… nếu Tỷ-kheo y chỉ trí tuệ, đoạn tận bất thiện, tu tập thiện, như vậy với vị ấy, bất thiện được đoạn tận. Như vậy Tỷ-kheo ấy đã đoạn tận, đã khéo đoạn tận bất thiện, khi bất thiện ấy được thấy với Thánh trí tuệ và được đoạn tận. Này các Tỷ-kheo, sau khi Tỷ-kheo ấy an trú trong năm pháp này, có bốn pháp nữa vị ấy phải y chỉ. Thế nào là bốn?
TTC 3Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sau khi cân nhắc (ước lượng), thực hành một sự, sau khi cân nhắc, kham nhẫn một sự, sau khi cân nhắc, từ bỏ một sự, sau khi cân nhắc, trừ sạch một sự. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đầy đủ y chỉ.
Atha kho aññataro bhikkhu yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ …pe… ekamantaṁ nisinno kho so bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca:
“‘nissayasampanno nissayasampanno’ti, bhante, vuccati.
Kittāvatā nu kho, bhante, bhikkhu nissayasampanno hotī”ti?
“Saddhañce, bhikkhu, bhikkhu nissāya akusalaṁ pajahati kusalaṁ bhāveti, pahīnamevassa taṁ akusalaṁ hoti.
Hiriñce, bhikkhu, bhikkhu nissāya …pe…
ottappañce, bhikkhu, bhikkhu nissāya …pe…
vīriyañce, bhikkhu, bhikkhu nissāya …pe…
paññañce, bhikkhu, bhikkhu nissāya akusalaṁ pajahati kusalaṁ bhāveti, pahīnamevassa taṁ akusalaṁ hoti.
Taṁ hissa bhikkhuno akusalaṁ pahīnaṁ hoti suppahīnaṁ, yaṁsa ariyāya paññāya disvā pahīnaṁ.
Tena ca pana, bhikkhu, bhikkhunā imesu pañcasu dhammesu patiṭṭhāya cattāro upanissāya vihātabbā.
Katame cattāro?
Idha, bhikkhu, bhikkhu saṅkhāyekaṁ paṭisevati, saṅkhāyekaṁ adhivāseti, saṅkhāyekaṁ parivajjeti, saṅkhāyekaṁ vinodeti.
Evaṁ kho, bhikkhu, bhikkhu nissayasampanno hotī”ti.
Dutiyaṁ.
Then a mendicant went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him:
“Sir, they speak of being ‘supported’.
How is a mendicant who is supported defined?”
“Mendicant, if a mendicant supported by faith gives up the unskillful and develops the skillful, the unskillful is actually given up by them.
If a mendicant supported by conscience …
If a mendicant supported by prudence …
If a mendicant supported by energy …
If a mendicant supported by wisdom gives up the unskillful and develops the skillful, the unskillful is actually given up by them.
What’s been given up is completely given up when it has been given up by seeing with noble wisdom.
But then, a mendicant grounded on these five things should rely on four things.
What four?
After appraisal, a mendicant uses some things, endures some things, avoids some things, and gets rid of some things.
That’s how a mendicant is supported.”
TTC 1Rồi một Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
—Ðầy đủ y chỉ, đầy đủ y chỉ, bạch Thế Tôn, được nói lên như vậy. Bạch Thế Tôn cho đến như thế nào là Tỷ-kheo đầy đủ y chỉ?
TTC 2—Nếu Tỷ-kheo y chỉ lòng tin, đoạn tận bất thiện tu tập thiện, như vậy, với vị ấy, bất thiện được đoạn tận. Nếu Tỷ-kheo y chỉ tàm (xấu hổ)… nếu Tỷ-kheo y chỉ sợ hãi… nếu Tỷ-kheo y chỉ tinh tấn… nếu Tỷ-kheo y chỉ trí tuệ, đoạn tận bất thiện, tu tập thiện, như vậy với vị ấy, bất thiện được đoạn tận. Như vậy Tỷ-kheo ấy đã đoạn tận, đã khéo đoạn tận bất thiện, khi bất thiện ấy được thấy với Thánh trí tuệ và được đoạn tận. Này các Tỷ-kheo, sau khi Tỷ-kheo ấy an trú trong năm pháp này, có bốn pháp nữa vị ấy phải y chỉ. Thế nào là bốn?
TTC 3Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sau khi cân nhắc (ước lượng), thực hành một sự, sau khi cân nhắc, kham nhẫn một sự, sau khi cân nhắc, từ bỏ một sự, sau khi cân nhắc, trừ sạch một sự. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đầy đủ y chỉ.
Atha kho aññataro bhikkhu yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ …pe… ekamantaṁ nisinno kho so bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca:
“‘nissayasampanno nissayasampanno’ti, bhante, vuccati.
Kittāvatā nu kho, bhante, bhikkhu nissayasampanno hotī”ti?
“Saddhañce, bhikkhu, bhikkhu nissāya akusalaṁ pajahati kusalaṁ bhāveti, pahīnamevassa taṁ akusalaṁ hoti.
Hiriñce, bhikkhu, bhikkhu nissāya …pe…
ottappañce, bhikkhu, bhikkhu nissāya …pe…
vīriyañce, bhikkhu, bhikkhu nissāya …pe…
paññañce, bhikkhu, bhikkhu nissāya akusalaṁ pajahati kusalaṁ bhāveti, pahīnamevassa taṁ akusalaṁ hoti.
Taṁ hissa bhikkhuno akusalaṁ pahīnaṁ hoti suppahīnaṁ, yaṁsa ariyāya paññāya disvā pahīnaṁ.
Tena ca pana, bhikkhu, bhikkhunā imesu pañcasu dhammesu patiṭṭhāya cattāro upanissāya vihātabbā.
Katame cattāro?
Idha, bhikkhu, bhikkhu saṅkhāyekaṁ paṭisevati, saṅkhāyekaṁ adhivāseti, saṅkhāyekaṁ parivajjeti, saṅkhāyekaṁ vinodeti.
Evaṁ kho, bhikkhu, bhikkhu nissayasampanno hotī”ti.
Dutiyaṁ.