TTC 1—Này các Tỷ-kheo, có bảy hạng người này, đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là ruộng phước vô thượng ở đời. Thế nào là bảy?
TTC 2Ở đời, này các Tỷ-kheo, có hạng người sống tùy quán vô thường trên con mắt, tưởng vô thường, cảm thọ vô thường, trong tất cả thời, liên tục, không có gián đoạn, với tâm thắng giải, với tuệ thể nhập. Vị ấy, với sự đoạn diệt các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Này các Tỷ-kheo, đây là hạng người thứ nhất đáng được cung kính … là phước điền vô thượng ở đời.
TTC 3Lại nữa, này các Tỷ-kheo, có hạng người sống tùy quán vô thường trên con mắt, tưởng vô thường, cảm thọ vô thường, trong tất cả thời, liên tục, không có gián đoạn, với tâm thắng giải, với tuệ thể nhập. Với vị ấy, sự chấm dứt các lậu hoặc và sự chấm dứt sanh mạng xảy đến một lần, không trước không sau. Này các Tỷ-kheo, đây là hạng người thứ hai đáng được cung kính … là phước điền vô thượng ở đời.
TTC 4Lại nữa, này các Tỷ-kheo, có hạng người sống tùy quán vô thường trên con mắt, tưởng vô thường, thọ vô thường, trong tất cả thời, liên tục, không có gián đoạn, với tâm thắng giải, với tuệ thể nhập. Vị ấy sau khi diệt tận năm hạ phần kiết sử, chứng được Trung gian Bát-Niết-bàn … chứng được Vô hành Bát-Niết-bàn … chứng được Hữu hành Bát-Niết-bàn … chứng được thượng lưu, đạt được Sắc cứu cánh. Này các Tỷ-kheo, đây là hạng người thứ bảy đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là ruộng phước vô thượng ở đời.
Này các Tỷ-kheo, bảy hạng người này đáng được cung kính … là ruộng phước vô thượng ở đời.
“Sattime, bhikkhave, puggalā āhuneyyā …pe… dakkhiṇeyyā añjalikaraṇīyā anuttaraṁ puññakkhettaṁ lokassa.
Katame satta?
Idha, bhikkhave, ekacco puggalo cakkhusmiṁ aniccānupassī viharati aniccasaññī aniccapaṭisaṁvedī satataṁ samitaṁ abbokiṇṇaṁ cetasā adhimuccamāno paññāya pariyogāhamāno.
So āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharati.
Ayaṁ kho, bhikkhave, paṭhamo puggalo āhuneyyo pāhuneyyo …pe… anuttaraṁ puññakkhettaṁ lokassa.
Puna caparaṁ, bhikkhave, idhekacco puggalo cakkhusmiṁ aniccānupassī viharati aniccasaññī aniccapaṭisaṁvedī satataṁ samitaṁ abbokiṇṇaṁ cetasā adhimuccamāno paññāya pariyogāhamāno.
Tassa apubbaṁ acarimaṁ āsavapariyādānañca hoti jīvitapariyādānañca.
Ayaṁ, bhikkhave, dutiyo puggalo āhuneyyo …pe… anuttaraṁ puññakkhettaṁ lokassa.
Puna caparaṁ, bhikkhave, idhekacco puggalo cakkhusmiṁ aniccānupassī viharati aniccasaññī aniccapaṭisaṁvedī satataṁ samitaṁ abbokiṇṇaṁ cetasā adhimuccamāno paññāya pariyogāhamāno.
So pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā antarāparinibbāyī hoti …pe…
upahaccaparinibbāyī hoti …pe…
asaṅkhāraparinibbāyī hoti …pe…
sasaṅkhāraparinibbāyī hoti …pe…
uddhaṁsoto hoti akaniṭṭhagāmī.
Ayaṁ, bhikkhave, sattamo puggalo āhuneyyo …pe… anuttaraṁ puññakkhettaṁ lokassa.
Ime kho, bhikkhave, satta puggalā āhuneyyā pāhuneyyā dakkhiṇeyyā añjalikaraṇīyā anuttaraṁ puññakkhettaṁ lokassā”ti.
“Mendicants, these seven individuals are worthy of offerings dedicated to the gods, worthy of hospitality, worthy of a religious donation, worthy of greeting with joined palms, and are the supreme field of merit for the world.
What seven?
First, take an individual who meditates observing impermanence in the eye. They perceive impermanence and experience impermanence. Constantly, continually, and without interruption, they apply the mind and fathom with wisdom.
They realize the undefiled freedom of heart and freedom by wisdom in this very life. And they live having realized it with their own insight due to the ending of defilements.
This is the first individual who is worthy of offerings dedicated to the gods, worthy of hospitality, worthy of a religious donation, worthy of greeting with joined palms, and is the supreme field of merit for the world.
Next, take an individual who meditates observing impermanence in the eye. …
Their defilements and their life come to an end at exactly the same time.
This is the second individual who is worthy of offerings …
Next, take an individual who meditates observing impermanence in the eye. …
With the ending of the five lower fetters they’re extinguished between one life and the next. …
With the ending of the five lower fetters they’re extinguished upon landing. …
With the ending of the five lower fetters they’re extinguished without extra effort. …
With the ending of the five lower fetters they’re extinguished with extra effort. …
With the ending of the five lower fetters they head upstream, going to the Akaniṭṭha realm. …
This is the seventh individual.
These are the seven individuals who are worthy of offerings dedicated to the gods, worthy of hospitality, worthy of a religious donation, worthy of greeting with joined palms, and are the supreme field of merit for the world.”
TTC 1—Này các Tỷ-kheo, có bảy hạng người này, đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là ruộng phước vô thượng ở đời. Thế nào là bảy?
TTC 2Ở đời, này các Tỷ-kheo, có hạng người sống tùy quán vô thường trên con mắt, tưởng vô thường, cảm thọ vô thường, trong tất cả thời, liên tục, không có gián đoạn, với tâm thắng giải, với tuệ thể nhập. Vị ấy, với sự đoạn diệt các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Này các Tỷ-kheo, đây là hạng người thứ nhất đáng được cung kính … là phước điền vô thượng ở đời.
TTC 3Lại nữa, này các Tỷ-kheo, có hạng người sống tùy quán vô thường trên con mắt, tưởng vô thường, cảm thọ vô thường, trong tất cả thời, liên tục, không có gián đoạn, với tâm thắng giải, với tuệ thể nhập. Với vị ấy, sự chấm dứt các lậu hoặc và sự chấm dứt sanh mạng xảy đến một lần, không trước không sau. Này các Tỷ-kheo, đây là hạng người thứ hai đáng được cung kính … là phước điền vô thượng ở đời.
TTC 4Lại nữa, này các Tỷ-kheo, có hạng người sống tùy quán vô thường trên con mắt, tưởng vô thường, thọ vô thường, trong tất cả thời, liên tục, không có gián đoạn, với tâm thắng giải, với tuệ thể nhập. Vị ấy sau khi diệt tận năm hạ phần kiết sử, chứng được Trung gian Bát-Niết-bàn … chứng được Vô hành Bát-Niết-bàn … chứng được Hữu hành Bát-Niết-bàn … chứng được thượng lưu, đạt được Sắc cứu cánh. Này các Tỷ-kheo, đây là hạng người thứ bảy đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là ruộng phước vô thượng ở đời.
Này các Tỷ-kheo, bảy hạng người này đáng được cung kính … là ruộng phước vô thượng ở đời.
“Sattime, bhikkhave, puggalā āhuneyyā …pe… dakkhiṇeyyā añjalikaraṇīyā anuttaraṁ puññakkhettaṁ lokassa.
Katame satta?
Idha, bhikkhave, ekacco puggalo cakkhusmiṁ aniccānupassī viharati aniccasaññī aniccapaṭisaṁvedī satataṁ samitaṁ abbokiṇṇaṁ cetasā adhimuccamāno paññāya pariyogāhamāno.
So āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharati.
Ayaṁ kho, bhikkhave, paṭhamo puggalo āhuneyyo pāhuneyyo …pe… anuttaraṁ puññakkhettaṁ lokassa.
Puna caparaṁ, bhikkhave, idhekacco puggalo cakkhusmiṁ aniccānupassī viharati aniccasaññī aniccapaṭisaṁvedī satataṁ samitaṁ abbokiṇṇaṁ cetasā adhimuccamāno paññāya pariyogāhamāno.
Tassa apubbaṁ acarimaṁ āsavapariyādānañca hoti jīvitapariyādānañca.
Ayaṁ, bhikkhave, dutiyo puggalo āhuneyyo …pe… anuttaraṁ puññakkhettaṁ lokassa.
Puna caparaṁ, bhikkhave, idhekacco puggalo cakkhusmiṁ aniccānupassī viharati aniccasaññī aniccapaṭisaṁvedī satataṁ samitaṁ abbokiṇṇaṁ cetasā adhimuccamāno paññāya pariyogāhamāno.
So pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā antarāparinibbāyī hoti …pe…
upahaccaparinibbāyī hoti …pe…
asaṅkhāraparinibbāyī hoti …pe…
sasaṅkhāraparinibbāyī hoti …pe…
uddhaṁsoto hoti akaniṭṭhagāmī.
Ayaṁ, bhikkhave, sattamo puggalo āhuneyyo …pe… anuttaraṁ puññakkhettaṁ lokassa.
Ime kho, bhikkhave, satta puggalā āhuneyyā pāhuneyyā dakkhiṇeyyā añjalikaraṇīyā anuttaraṁ puññakkhettaṁ lokassā”ti.