TTC 1Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết về pháp môn quanh co và pháp môn Chánh pháp. Hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ giảng.
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
TTC 2Thế nào là pháp môn quanh co, này các Tỷ-kheo, thế nào là pháp môn Chánh pháp?
Này các Tỷ-kheo, các chúng sanh là chủ của nghiệp, là thừa tự của nghiệp, là sanh căn của nghiệp, là bà con của nghiệp, là chỗ nương tựa của nghiệp. Phàm họ làm nghiệp gì, thiện hay ác, họ là những kẻ thừa tự của nghiệp ấy.
TTC 3Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người sát sanh, bạo ngược, bàn tay lấm máu, tâm chuyên sát hại đả thương, tâm không từ bi đối với tất cả loài hữu tình, sinh vật. Vị ấy quanh co với thân, quanh co với lời, quanh co với ý. Thân nghiệp của vị ấy quanh co, ngữ nghiệp của vị ấy quanh co, ý nghiệp của vị ấy quanh co, sanh thú quanh co, sanh thành quanh co. Với người có sanh thú quanh co, này các Tỷ-kheo, có sanh thành quanh co. Ta nói rằng có một trong hai sanh thú sau đây: Các địa ngục nhất hướng đau khổ hay các loài bàng sanh thuộc loại trườn bò. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các loài bàng sanh thuộc loại trườn bò? Loại rắn, bò cạp, rết, con ăn rắn, con mèo, con chuột, con cú, và bất cứ loài súc vật nào, khi thấy người, trườn bò mà đi. Như vậy, này các Tỷ-kheo là các sinh vật, sự sanh khởi của sinh vật. Do làm như thế nào, như vậy được sanh ra và được sanh như thế nào, thời có những cảm xúc như vậy. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng các chúng sanh ấy là những kẻ thừa tự nghiệp của mình.
TTC 4Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người lấy của không cho… có tà hạnh trong các dục… nói láo… nói hai lưỡi… nói lời thô ác… nói lời phù phiếm… có tham ái… có sân tâm… có tà kiến, có kiến điên đảo rằng: “Không có bố thí, không có cúng thí, không có tế tự; không có kết quả dị thục các nghiệp thiện ác; không có đời này, không có đời sau; không có mẹ; không có cha; không có các loài hóa sanh; ở đời không có các Sa-môn, Bà-la-môn chân chánh hành trì, chân chánh thành tựu, những vị này, sau khi tự mình với thắng trí chứng ngộ đời này, đời sau và tuyên bố. Người ấy quanh co với thân, quanh co với lời, quanh co với ý. Thân nghiệp quanh co, ngữ nghiệp quanh co, ý nghiệp quanh co, sanh thú quanh co, sinh thành quanh co. Với người có sanh thú quanh co, này các Tỷ-kheo, có sanh thành quanh co, Ta nói rằng… Như vậy này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng các chúng sanh ấy là những kẻ thừa tự nghiệp của mình.
Này các Tỷ-kheo, các chúng sanh là chủ của nghiệp, là thừa tự của nghiệp, là sanh căn của nghiệp, là bà con của nghiệp, là chỗ nương tựa của nghiệp. Phàm là nghiệp gì, thiện hay ác, họ thừa tự nghiệp ấy.
TTC 5Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người sau khi đoạn tận sát sanh, từ bỏ sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết tàm quý, có lòng từ, sống thương xót đến hạnh phúc của tất cả chúng sanh và các loài hữu tình. Vị ấy không quanh co với ý, thân nghiệp của vị ấy chánh trực, ngữ nghiệp chánh trực, ý nghiệp chánh trực, sanh thú chánh trực, sanh thành chánh trực. Với người có sanh thú chánh trực, này các Tỷ-kheo, có sanh thành chánh trực, Ta nói rằng một trong hai sanh thú sau đây: Các thiên giới nhất hướng lạc, hoặc các gia đình cao quý, các Sát-đế-ly đại gia, các Bà-la-môn đại gia, các Gia chủ đại gia, giàu có tài sản lớn, vật thọ dụng lớn, vàng bạc nhiều, tài vật nhiều, tài sản lúa gạo nhiều. Do làm như thế nào, như vậy được sanh ra, và được sinh như thế nào, thời có những cảm xúc như vậy. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng các chúng sanh ấy là những kẻ thừa tự nghiệp của mình.
TTC 6Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người đoạn tận lấy của không cho, từ bỏ lấy của không cho… đoạn tận tà hạnh trong các dục, từ bỏ tà hạnh trong các dục… đoạn tận nói láo, từ bỏ nói láo… đoạn tận nói hai lưỡi, từ bỏ nói hai lưỡi… đoạn tận nói lời thô ác, từ bỏ nói lời thô ác… đoạn tận nói lời phù phiếm, từ bỏ nói lời phù phiếm… không có tham dục… không có sân tâm, có chánh kiến, không có các kiến điên đảo. Có bố thí, có cúng thí, có tế tự; có kết quả dị thục các nghiệp thiện ác; có đời này, có đời sau; có mẹ; có cha; có các loài hóa sanh. Ở đời có các Sa-môn, Bà-la-môn chân chánh hành trì, chân chánh thành tựu, những vị này, sau khi tự mình với thắng trí chứng ngộ đời này, đời sau và tuyên bố. Vị ấy không quanh co với thân, không quanh co với lời, không quanh co với ý. Thân nghiệp vị ấy chánh trực, ngữ nghiệp chánh trực, ý nghiệp chánh trực, sanh thú chánh trực, sanh thành chánh trực. Với người có sanh thú chánh trực, này các Tỷ-kheo, có sanh thành chánh trực, Ta nói rằng có một trong hai sanh thú sau đây: Các thiên giới nhất hướng lạc, hoặc các gia đình cao quý, các Sát-đế-ly đại gia, các Bà-la-môn đại gia, các gia chủ đại gia, giàu có tài sản lớn, vật thọ dụng lớn, vàng bạc nhiều, tài vật nhiều, tài sản lúa gạo nhiều. Do làm như thế nào, như vậy được sanh ra và được sanh như thế nào, thời có những cảm xúc như vậy. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng chúng sanh ấy là những kẻ thừa tự nghiệp của mình.
Này các Tỷ-kheo, các chúng sanh là chủ của nghiệp, là những kẻ thừa tự của nghiệp, là sanh căn của nghiệp, là bà con của nghiệp, là chỗ nương tựa của nghiệp. Phàm làm nghiệp gì, thiện hay ác, họ là những kẻ thừa tự của nghiệp ấy.
“Saṁsappanīyapariyāyaṁ vo, bhikkhave, dhammapariyāyaṁ desessāmi.
Taṁ suṇātha, sādhukaṁ manasi karotha, bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ.
Bhagavā etadavoca:
“Katamo ca, bhikkhave, saṁsappanīyapariyāyo dhammapariyāyo?
Kammassakā, bhikkhave, sattā kammadāyādā kammayonī kammabandhū kammapaṭisaraṇā, yaṁ kammaṁ karonti—
kalyāṇaṁ vā pāpakaṁ vā—tassa dāyādā bhavanti.
Idha, bhikkhave, ekacco pāṇātipātī hoti luddo lohitapāṇi hatapahate niviṭṭho, adayāpanno sabbapāṇabhūtesu.
So saṁsappati kāyena, saṁsappati vācāya, saṁsappati manasā.
Tassa jimhaṁ kāyakammaṁ hoti, jimhaṁ vacīkammaṁ, jimhaṁ manokammaṁ, jimhā gati, jimhupapatti.
Jimhagatikassa kho panāhaṁ, bhikkhave, jimhupapattikassa dvinnaṁ gatīnaṁ aññataraṁ gatiṁ vadāmi—
ye vā ekantadukkhā nirayā yā vā saṁsappajātikā tiracchānayoni.
Katamā ca sā, bhikkhave, saṁsappajātikā tiracchānayoni?
Ahi vicchikā satapadī nakulā biḷārā mūsikā ulūkā, ye vā panaññepi keci tiracchānayonikā sattā manusse disvā saṁsappanti.
Iti kho, bhikkhave, bhūtā bhūtassa upapatti hoti.
Yaṁ karoti tena upapajjati.
Upapannamenaṁ phassā phusanti.
Evamahaṁ, bhikkhave, ‘kammadāyādā sattā’ti vadāmi.
Idha pana, bhikkhave, ekacco adinnādāyī hoti …pe…
kāmesumicchācārī hoti …
musāvādī hoti …
pisuṇavāco hoti …
pharusavāco hoti …
samphappalāpī hoti …
abhijjhālu hoti …
byāpannacitto hoti …
micchādiṭṭhiko hoti viparītadassano:
‘natthi dinnaṁ …pe…
sayaṁ abhiññā sacchikatvā pavedentī’ti.
So saṁsappati kāyena, saṁsappati vācāya, saṁsappati manasā.
Tassa jimhaṁ kāyakammaṁ hoti, jimhaṁ vacīkammaṁ, jimhaṁ manokammaṁ, jimhā gati, jimhupapatti.
Jimhagatikassa kho panāhaṁ, bhikkhave, jimhupapattikassa dvinnaṁ gatīnaṁ aññataraṁ gatiṁ vadāmi—
ye vā ekantadukkhā nirayā yā vā saṁsappajātikā tiracchānayoni.
Katamā ca sā, bhikkhave, saṁsappajātikā tiracchānayoni?
Ahi vicchikā satapadī nakulā biḷārā mūsikā ulūkā, ye vā panaññepi keci tiracchānayonikā sattā manusse disvā saṁsappanti.
Iti kho, bhikkhave, bhūtā bhūtassa upapatti hoti,
yaṁ karoti tena upapajjati.
Upapannamenaṁ phassā phusanti.
Evamahaṁ, bhikkhave, ‘kammadāyādā sattā’ti vadāmi.
Kammassakā, bhikkhave, sattā kammadāyādā kammayonī kammabandhū kammapaṭisaraṇā, yaṁ kammaṁ karonti—
kalyāṇaṁ vā pāpakaṁ vā—tassa dāyādā bhavanti.
Idha, bhikkhave, ekacco pāṇātipātaṁ pahāya pāṇātipātā paṭivirato hoti nihitadaṇḍo nihitasattho, lajjī dayāpanno sabbapāṇabhūtahitānukampī viharati.
So na saṁsappati kāyena, na saṁsappati vācāya, na saṁsappati manasā.
Tassa uju kāyakammaṁ hoti, uju vacīkammaṁ, uju manokammaṁ, uju gati, ujupapatti.
Ujugatikassa kho panāhaṁ, bhikkhave, ujupapattikassa dvinnaṁ gatīnaṁ aññataraṁ gatiṁ vadāmi—
ye vā ekantasukhā saggā yāni vā pana tāni uccākulāni khattiyamahāsālakulāni vā brāhmaṇamahāsālakulāni vā gahapatimahāsālakulāni vā aḍḍhāni mahaddhanāni mahābhogāni pahūtajātarūparajatāni pahūtavittūpakaraṇāni pahūtadhanadhaññāni.
Iti kho, bhikkhave, bhūtā bhūtassa upapatti hoti.
Yaṁ karoti tena upapajjati.
Upapannamenaṁ phassā phusanti.
Evamahaṁ, bhikkhave, ‘kammadāyādā sattā’ti vadāmi.
Idha pana, bhikkhave, ekacco adinnādānaṁ pahāya adinnādānā paṭivirato hoti …pe…
kāmesumicchācārā paṭivirato hoti …
musāvādaṁ pahāya musāvādā paṭivirato hoti …
pisuṇaṁ vācaṁ pahāya pisuṇāya vācāya paṭivirato hoti …
pharusaṁ vācaṁ pahāya pharusāya vācāya paṭivirato hoti …
samphappalāpaṁ pahāya samphappalāpā paṭivirato hoti …
anabhijjhālu hoti …
abyāpannacitto hoti …
sammādiṭṭhiko hoti aviparītadassano:
‘atthi dinnaṁ …pe…
ye imañca lokaṁ parañca lokaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā pavedentī’ti.
So na saṁsappati kāyena, na saṁsappati vācāya, na saṁsappati manasā.
Tassa uju kāyakammaṁ hoti, uju vacīkammaṁ, uju manokammaṁ, uju gati, ujupapatti.
Ujugatikassa kho pana ahaṁ, bhikkhave, ujupapattikassa dvinnaṁ gatīnaṁ aññataraṁ gatiṁ vadāmi—
ye vā ekantasukhā saggā yāni vā pana tāni uccākulāni khattiyamahāsālakulāni vā brāhmaṇamahāsālakulāni vā gahapatimahāsālakulāni vā aḍḍhāni mahaddhanāni mahābhogāni pahūtajātarūparajatāni pahūtavittūpakaraṇāni pahūtadhanadhaññāni.
Iti kho, bhikkhave, bhūtā bhūtassa upapatti hoti.
Yaṁ karoti tena upapajjati.
Upapannamenaṁ phassā phusanti.
Evamahaṁ, bhikkhave, ‘kammadāyādā sattā’ti vadāmi.
Kammassakā, bhikkhave, sattā kammadāyādā kammayonī kammabandhū kammapaṭisaraṇā, yaṁ kammaṁ karonti—
kalyāṇaṁ vā pāpakaṁ vā—tassa dāyādā bhavanti.
Ayaṁ kho so, bhikkhave, saṁsappanīyapariyāyo dhammapariyāyo”ti.
Chaṭṭhaṁ.
SC 1“Bhikkhus, I will teach you an exposition of the Dhamma on creeping. Listen and attend closely. I will speak.”
SC 2“Yes, Bhante,” those bhikkhus replied. The Blessed One said this:
SC 3“And what, bhikkhus, is that exposition of the Dhamma on creeping? Bhikkhus, beings are the owners of their kamma, the heirs of their kamma; they have kamma as their origin, kamma as their relative, kamma as their resort; whatever kamma they do, good or bad, they are its heirs. an.v.289
SC 4(1) “Here, someone destroys life; he is murderous, bloody-handed, given to blows and violence, merciless to living beings. He creeps along by body, speech, and mind. His bodily kamma is crooked; his verbal kamma is crooked; his mental kamma is crooked. His destination is crooked; his rebirth is crooked. But for one with a crooked destination and rebirth, I say, there is one of two destinations: either the exclusively painful hells or a species of creeping animal. And what are the species of creeping animals? The snake, the scorpion, the centipede, the mongoose, the cat, the mouse, and the owl, or any other animals that creep away when they see people. Thus a being is reborn from a being; one is reborn through one’s deeds. When one has been reborn, contacts affect one. It is in this way, I say, that beings are the heirs of their kamma.
SC 5(2) “Someone takes what is not given … (3) … engages in sexual misconduct … (4) … speaks falsehood … (5) … speaks divisively … (6) … speaks harshly … (7) … indulges in idle chatter … (8) … is full of longing … (9) … has a mind of ill will and intentions of hate … (10) … holds wrong view and has an incorrect perspective thus: ‘There is nothing given … there are in the world no ascetics and brahmins of right conduct and right practice who, having realized this world and the other world for themselves by direct knowledge, make them known to others.’ He creeps along by body, speech, and mind. His bodily kamma is crooked … His destination is crooked; an.v.290 his rebirth is crooked…. Thus a being is reborn from a being; one is reborn through one’s deeds. When one has been reborn, contacts affect one. It is in this way, I say, that beings are the heirs of their kamma.
SC 6“Bhikkhus, beings are the owners of their kamma, the heirs of their kamma; they have kamma as their origin, kamma as their relative, kamma as their resort; whatever kamma they do, good or bad, they are its heirs.
SC 7(1) “Here, having abandoned the destruction of life, someone abstains from the destruction of life; with the rod and weapon laid aside, conscientious and kindly, he dwells compassionate toward all living beings. He does not creep along by body, speech, and mind. His bodily kamma is straight; his verbal kamma is straight; his mental kamma is straight. His destination is straight; his rebirth is straight. But for one with a straight destination and rebirth, I say, there is one of two destinations: either the exclusively pleasant heavens or eminent families, such as those of affluent khattiyas, affluent brahmins, or affluent householders, families that are rich, with great wealth and property, abundant gold and silver, abundant treasures and belongings, abundant wealth and grain. Thus a being is reborn from a being; one is reborn through one’s deeds. When one has been reborn, contacts affect one. It is in this way, I say, that beings are the heirs of their kamma.
SC 8(2) “Having abandoned the taking of what is not given, someone abstains from taking what is not given … (3) … abstains from sexual misconduct … an.v.291 (4) … abstains from false speech … (5) … abstains from divisive speech … (6) … abstains from harsh speech … (7) … abstains from idle chatter … (8) … is without longing … (9) … is of good will … (10) … holds right view and has a correct perspective thus: ‘There is what is given … there are in the world ascetics and brahmins of right conduct and right practice who, having realized this world and the other world for themselves by direct knowledge, make them known to others.’ He does not creep along by body, speech, and mind. His bodily kamma is straight … His destination is straight; his rebirth is straight…. Thus a being is reborn from a being; one is reborn through one’s deeds. When one has been reborn, contacts affect one. It is in this way, I say, that beings are the heirs of their kamma.
SC 9“Bhikkhus, beings are the owners of their kamma, the heirs of their kamma; they have kamma as their origin, kamma as their relative, kamma as their resort; whatever kamma they do, good or bad, they are its heirs.
SC 10“This, bhikkhus, is that exposition of the Dhamma on creeping.” an.v.292
TTC 1Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết về pháp môn quanh co và pháp môn Chánh pháp. Hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ giảng.
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
TTC 2Thế nào là pháp môn quanh co, này các Tỷ-kheo, thế nào là pháp môn Chánh pháp?
Này các Tỷ-kheo, các chúng sanh là chủ của nghiệp, là thừa tự của nghiệp, là sanh căn của nghiệp, là bà con của nghiệp, là chỗ nương tựa của nghiệp. Phàm họ làm nghiệp gì, thiện hay ác, họ là những kẻ thừa tự của nghiệp ấy.
TTC 3Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người sát sanh, bạo ngược, bàn tay lấm máu, tâm chuyên sát hại đả thương, tâm không từ bi đối với tất cả loài hữu tình, sinh vật. Vị ấy quanh co với thân, quanh co với lời, quanh co với ý. Thân nghiệp của vị ấy quanh co, ngữ nghiệp của vị ấy quanh co, ý nghiệp của vị ấy quanh co, sanh thú quanh co, sanh thành quanh co. Với người có sanh thú quanh co, này các Tỷ-kheo, có sanh thành quanh co. Ta nói rằng có một trong hai sanh thú sau đây: Các địa ngục nhất hướng đau khổ hay các loài bàng sanh thuộc loại trườn bò. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các loài bàng sanh thuộc loại trườn bò? Loại rắn, bò cạp, rết, con ăn rắn, con mèo, con chuột, con cú, và bất cứ loài súc vật nào, khi thấy người, trườn bò mà đi. Như vậy, này các Tỷ-kheo là các sinh vật, sự sanh khởi của sinh vật. Do làm như thế nào, như vậy được sanh ra và được sanh như thế nào, thời có những cảm xúc như vậy. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng các chúng sanh ấy là những kẻ thừa tự nghiệp của mình.
TTC 4Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người lấy của không cho… có tà hạnh trong các dục… nói láo… nói hai lưỡi… nói lời thô ác… nói lời phù phiếm… có tham ái… có sân tâm… có tà kiến, có kiến điên đảo rằng: “Không có bố thí, không có cúng thí, không có tế tự; không có kết quả dị thục các nghiệp thiện ác; không có đời này, không có đời sau; không có mẹ; không có cha; không có các loài hóa sanh; ở đời không có các Sa-môn, Bà-la-môn chân chánh hành trì, chân chánh thành tựu, những vị này, sau khi tự mình với thắng trí chứng ngộ đời này, đời sau và tuyên bố. Người ấy quanh co với thân, quanh co với lời, quanh co với ý. Thân nghiệp quanh co, ngữ nghiệp quanh co, ý nghiệp quanh co, sanh thú quanh co, sinh thành quanh co. Với người có sanh thú quanh co, này các Tỷ-kheo, có sanh thành quanh co, Ta nói rằng… Như vậy này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng các chúng sanh ấy là những kẻ thừa tự nghiệp của mình.
Này các Tỷ-kheo, các chúng sanh là chủ của nghiệp, là thừa tự của nghiệp, là sanh căn của nghiệp, là bà con của nghiệp, là chỗ nương tựa của nghiệp. Phàm là nghiệp gì, thiện hay ác, họ thừa tự nghiệp ấy.
TTC 5Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người sau khi đoạn tận sát sanh, từ bỏ sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết tàm quý, có lòng từ, sống thương xót đến hạnh phúc của tất cả chúng sanh và các loài hữu tình. Vị ấy không quanh co với ý, thân nghiệp của vị ấy chánh trực, ngữ nghiệp chánh trực, ý nghiệp chánh trực, sanh thú chánh trực, sanh thành chánh trực. Với người có sanh thú chánh trực, này các Tỷ-kheo, có sanh thành chánh trực, Ta nói rằng một trong hai sanh thú sau đây: Các thiên giới nhất hướng lạc, hoặc các gia đình cao quý, các Sát-đế-ly đại gia, các Bà-la-môn đại gia, các Gia chủ đại gia, giàu có tài sản lớn, vật thọ dụng lớn, vàng bạc nhiều, tài vật nhiều, tài sản lúa gạo nhiều. Do làm như thế nào, như vậy được sanh ra, và được sinh như thế nào, thời có những cảm xúc như vậy. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng các chúng sanh ấy là những kẻ thừa tự nghiệp của mình.
TTC 6Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người đoạn tận lấy của không cho, từ bỏ lấy của không cho… đoạn tận tà hạnh trong các dục, từ bỏ tà hạnh trong các dục… đoạn tận nói láo, từ bỏ nói láo… đoạn tận nói hai lưỡi, từ bỏ nói hai lưỡi… đoạn tận nói lời thô ác, từ bỏ nói lời thô ác… đoạn tận nói lời phù phiếm, từ bỏ nói lời phù phiếm… không có tham dục… không có sân tâm, có chánh kiến, không có các kiến điên đảo. Có bố thí, có cúng thí, có tế tự; có kết quả dị thục các nghiệp thiện ác; có đời này, có đời sau; có mẹ; có cha; có các loài hóa sanh. Ở đời có các Sa-môn, Bà-la-môn chân chánh hành trì, chân chánh thành tựu, những vị này, sau khi tự mình với thắng trí chứng ngộ đời này, đời sau và tuyên bố. Vị ấy không quanh co với thân, không quanh co với lời, không quanh co với ý. Thân nghiệp vị ấy chánh trực, ngữ nghiệp chánh trực, ý nghiệp chánh trực, sanh thú chánh trực, sanh thành chánh trực. Với người có sanh thú chánh trực, này các Tỷ-kheo, có sanh thành chánh trực, Ta nói rằng có một trong hai sanh thú sau đây: Các thiên giới nhất hướng lạc, hoặc các gia đình cao quý, các Sát-đế-ly đại gia, các Bà-la-môn đại gia, các gia chủ đại gia, giàu có tài sản lớn, vật thọ dụng lớn, vàng bạc nhiều, tài vật nhiều, tài sản lúa gạo nhiều. Do làm như thế nào, như vậy được sanh ra và được sanh như thế nào, thời có những cảm xúc như vậy. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng chúng sanh ấy là những kẻ thừa tự nghiệp của mình.
Này các Tỷ-kheo, các chúng sanh là chủ của nghiệp, là những kẻ thừa tự của nghiệp, là sanh căn của nghiệp, là bà con của nghiệp, là chỗ nương tựa của nghiệp. Phàm làm nghiệp gì, thiện hay ác, họ là những kẻ thừa tự của nghiệp ấy.
“Saṁsappanīyapariyāyaṁ vo, bhikkhave, dhammapariyāyaṁ desessāmi.
Taṁ suṇātha, sādhukaṁ manasi karotha, bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ.
Bhagavā etadavoca:
“Katamo ca, bhikkhave, saṁsappanīyapariyāyo dhammapariyāyo?
Kammassakā, bhikkhave, sattā kammadāyādā kammayonī kammabandhū kammapaṭisaraṇā, yaṁ kammaṁ karonti—
kalyāṇaṁ vā pāpakaṁ vā—tassa dāyādā bhavanti.
Idha, bhikkhave, ekacco pāṇātipātī hoti luddo lohitapāṇi hatapahate niviṭṭho, adayāpanno sabbapāṇabhūtesu.
So saṁsappati kāyena, saṁsappati vācāya, saṁsappati manasā.
Tassa jimhaṁ kāyakammaṁ hoti, jimhaṁ vacīkammaṁ, jimhaṁ manokammaṁ, jimhā gati, jimhupapatti.
Jimhagatikassa kho panāhaṁ, bhikkhave, jimhupapattikassa dvinnaṁ gatīnaṁ aññataraṁ gatiṁ vadāmi—
ye vā ekantadukkhā nirayā yā vā saṁsappajātikā tiracchānayoni.
Katamā ca sā, bhikkhave, saṁsappajātikā tiracchānayoni?
Ahi vicchikā satapadī nakulā biḷārā mūsikā ulūkā, ye vā panaññepi keci tiracchānayonikā sattā manusse disvā saṁsappanti.
Iti kho, bhikkhave, bhūtā bhūtassa upapatti hoti.
Yaṁ karoti tena upapajjati.
Upapannamenaṁ phassā phusanti.
Evamahaṁ, bhikkhave, ‘kammadāyādā sattā’ti vadāmi.
Idha pana, bhikkhave, ekacco adinnādāyī hoti …pe…
kāmesumicchācārī hoti …
musāvādī hoti …
pisuṇavāco hoti …
pharusavāco hoti …
samphappalāpī hoti …
abhijjhālu hoti …
byāpannacitto hoti …
micchādiṭṭhiko hoti viparītadassano:
‘natthi dinnaṁ …pe…
sayaṁ abhiññā sacchikatvā pavedentī’ti.
So saṁsappati kāyena, saṁsappati vācāya, saṁsappati manasā.
Tassa jimhaṁ kāyakammaṁ hoti, jimhaṁ vacīkammaṁ, jimhaṁ manokammaṁ, jimhā gati, jimhupapatti.
Jimhagatikassa kho panāhaṁ, bhikkhave, jimhupapattikassa dvinnaṁ gatīnaṁ aññataraṁ gatiṁ vadāmi—
ye vā ekantadukkhā nirayā yā vā saṁsappajātikā tiracchānayoni.
Katamā ca sā, bhikkhave, saṁsappajātikā tiracchānayoni?
Ahi vicchikā satapadī nakulā biḷārā mūsikā ulūkā, ye vā panaññepi keci tiracchānayonikā sattā manusse disvā saṁsappanti.
Iti kho, bhikkhave, bhūtā bhūtassa upapatti hoti,
yaṁ karoti tena upapajjati.
Upapannamenaṁ phassā phusanti.
Evamahaṁ, bhikkhave, ‘kammadāyādā sattā’ti vadāmi.
Kammassakā, bhikkhave, sattā kammadāyādā kammayonī kammabandhū kammapaṭisaraṇā, yaṁ kammaṁ karonti—
kalyāṇaṁ vā pāpakaṁ vā—tassa dāyādā bhavanti.
Idha, bhikkhave, ekacco pāṇātipātaṁ pahāya pāṇātipātā paṭivirato hoti nihitadaṇḍo nihitasattho, lajjī dayāpanno sabbapāṇabhūtahitānukampī viharati.
So na saṁsappati kāyena, na saṁsappati vācāya, na saṁsappati manasā.
Tassa uju kāyakammaṁ hoti, uju vacīkammaṁ, uju manokammaṁ, uju gati, ujupapatti.
Ujugatikassa kho panāhaṁ, bhikkhave, ujupapattikassa dvinnaṁ gatīnaṁ aññataraṁ gatiṁ vadāmi—
ye vā ekantasukhā saggā yāni vā pana tāni uccākulāni khattiyamahāsālakulāni vā brāhmaṇamahāsālakulāni vā gahapatimahāsālakulāni vā aḍḍhāni mahaddhanāni mahābhogāni pahūtajātarūparajatāni pahūtavittūpakaraṇāni pahūtadhanadhaññāni.
Iti kho, bhikkhave, bhūtā bhūtassa upapatti hoti.
Yaṁ karoti tena upapajjati.
Upapannamenaṁ phassā phusanti.
Evamahaṁ, bhikkhave, ‘kammadāyādā sattā’ti vadāmi.
Idha pana, bhikkhave, ekacco adinnādānaṁ pahāya adinnādānā paṭivirato hoti …pe…
kāmesumicchācārā paṭivirato hoti …
musāvādaṁ pahāya musāvādā paṭivirato hoti …
pisuṇaṁ vācaṁ pahāya pisuṇāya vācāya paṭivirato hoti …
pharusaṁ vācaṁ pahāya pharusāya vācāya paṭivirato hoti …
samphappalāpaṁ pahāya samphappalāpā paṭivirato hoti …
anabhijjhālu hoti …
abyāpannacitto hoti …
sammādiṭṭhiko hoti aviparītadassano:
‘atthi dinnaṁ …pe…
ye imañca lokaṁ parañca lokaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā pavedentī’ti.
So na saṁsappati kāyena, na saṁsappati vācāya, na saṁsappati manasā.
Tassa uju kāyakammaṁ hoti, uju vacīkammaṁ, uju manokammaṁ, uju gati, ujupapatti.
Ujugatikassa kho pana ahaṁ, bhikkhave, ujupapattikassa dvinnaṁ gatīnaṁ aññataraṁ gatiṁ vadāmi—
ye vā ekantasukhā saggā yāni vā pana tāni uccākulāni khattiyamahāsālakulāni vā brāhmaṇamahāsālakulāni vā gahapatimahāsālakulāni vā aḍḍhāni mahaddhanāni mahābhogāni pahūtajātarūparajatāni pahūtavittūpakaraṇāni pahūtadhanadhaññāni.
Iti kho, bhikkhave, bhūtā bhūtassa upapatti hoti.
Yaṁ karoti tena upapajjati.
Upapannamenaṁ phassā phusanti.
Evamahaṁ, bhikkhave, ‘kammadāyādā sattā’ti vadāmi.
Kammassakā, bhikkhave, sattā kammadāyādā kammayonī kammabandhū kammapaṭisaraṇā, yaṁ kammaṁ karonti—
kalyāṇaṁ vā pāpakaṁ vā—tassa dāyādā bhavanti.
Ayaṁ kho so, bhikkhave, saṁsappanīyapariyāyo dhammapariyāyo”ti.
Chaṭṭhaṁ.