TTC 1—Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng về tám loại ngựa chưa điều phục, tám tánh xấu của con ngựa, tám hạng người chưa điều phục, tám tánh xấu của con người. Hãy lắng nghe và suy niệm kỹ, Ta sẽ nói.
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
TTC 2—Này các Tỷ-kheo, thế nào là tám loại ngựa chưa được điều phục? Thế nào là tám tánh xấu của ngựa?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có loại ngựa chưa được điều phục, khi bảo đi, bị gậy thúc, bị người đánh xe la và thúc đẩy, nó đi lùi, và với lưng, làm chiếc xe chạy vòng lại. Như vậy, này các Tỷ-kheo, đây là loại ngựa chưa được điều phục. Này các Tỷ-kheo, đây là tánh xấu thứ nhất của con ngựa.
TTC 3Lại nữa, này các Tỷ-kheo, ở đây có loại ngựa chưa được điều phục, khi bảo đi, bị gậy thúc hay bị người đánh xe la, nó nhảy lùi, đạp vào thành xe, làm gãy gọng xe. Như vậy, này các Tỷ-kheo, đây là loại ngựa chưa được điều phục. Này các Tỷ-kheo, đây là tánh xấu thứ hai của con ngựa.
TTC 4Lại nữa, này các Tỷ-kheo, ở đây có loại ngựa chưa được điều phục, khi bảo đi, bị gậy thúc hay bị người đánh xe la, nó rút bắp vế ra khỏi gọng xe và dẫm nát gọng xe. Như vậy, này các Tỷ-kheo, đây là loại ngựa chưa được điều phục. Này các Tỷ-kheo, đây là tánh xấu thứ ba của con ngựa.
TTC 5Lại nữa, này các Tỷ-kheo, ở đây có loại ngựa chưa được điều phục, khi bảo đi, bị gậy thúc hay bị người đánh xe la, nó liền đi con đường xấu và làm cho xe bị lạc hướng. Như vậy, này các Tỷ-kheo, đây là loại ngựa chưa được điều phục. Này các Tỷ-kheo, đây là tánh xấu thứ tư của con ngựa.
TTC 6Lại nữa, này các Tỷ-kheo, ở đây có loại ngựa chưa được điều phục, khi bảo đi, bị gậy thúc hay bị người đánh xe la, nó trườn đứng phía chân trước và đạp lên không trung với chân trước. Như vậy, này các Tỷ-kheo, đây là loại ngựa chưa được điều phục. Này các Tỷ-kheo, đây là tánh xấu thứ năm của con ngựa.
TTC 7Lại nữa, này các Tỷ-kheo, ở đây có loại ngựa chưa được điều phục, khi bảo đi, bị gậy thúc hay bị người đánh xe la, nó không để ý đến người đánh xe la, không để ý đến cây gậy thúc ngựa, lấy răng nghiền hàm thiết (khớp ngựa) ngựa và đi chỗ nào nó muốn. Như vậy, này các Tỷ-kheo, đây là loại ngựa chưa được điều phục. Này các Tỷ-kheo, đây là tánh xấu thứ sáu của con ngựa.
TTC 8Lại nữa, này các Tỷ-kheo, ở đây có loại ngựa chưa được điều phục, khi bảo đi, bị gậy thúc hay bị người đánh xe la, nó không đi tới, không đi lui, đứng lại tại chỗ như một cột trụ. Như vậy, này các Tỷ-kheo, đây là loại ngựa chưa được điều phục. Này các Tỷ-kheo, đây là tánh xấu thứ bảy của con ngựa.
TTC 9Lại nữa, này các Tỷ-kheo, ở đây có loại ngựa chưa được điều phục, khi bảo đi, bị gậy thúc hay bị người đánh xe la, nó liền tréo hai chân trước, tréo lại hai chân sau, và quỵ xuống bốn chân tại đấy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, đây là loại ngựa chưa được điều phục. Này các Tỷ-kheo, đây là tánh xấu thứ tám của con ngựa.
Này các Tỷ-kheo, đây là tám loại ngựa chưa được điều phục và tám tánh xấu của con ngựa.
TTC 10Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tám hạng người chưa được điều phục và tám tánh xấu của con người?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo buộc tội một Tỷ-kheo phạm tội. Tỷ-kheo ấy bị các Tỷ-kheo buộc tội, tránh né (vấn đề) như là không nhớ, nói rằng: “Tôi không nhớ, tôi không nhớ “. Ví như, này các Tỷ-kheo, con ngựa chưa được điều phục ấy, khi bảo đi, bị gậy thúc, hay bị người đánh xe la, nó đi lùi với cái lưng làm cho cái xe chạy vòng lại. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng, người này giống như ví dụ ấy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, đây là hạng người chưa được điều phục. Này các Tỷ-kheo, đây là tánh xấu thứ nhất của con người.
TTC 11Lại nữa, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo buộc tội một Tỷ-kheo phạm tội. Tỷ-kheo ấy bị các Tỷ-kheo buộc tội, phát ra lời chất vấn Tỷ-kheo buộc tội: “Thầy lấy quyền gì mà nói, này kẻ ngu, không thông minh? Tại sao Thầy nghĩ rằng Thầy phải nói? “ Ví như, này các Tỷ-kheo, con ngựa chưa được điều phục ấy, khi bảo đi, bị gậy thúc, hay bị người đánh xe la, nó nhảy lùi lại, đạp vào thành xe, làm gãy gọng xe. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng, người này giống như ví dụ ấy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây là hạng người chưa được điều phục. Này các Tỷ-kheo, đây là tánh xấu hai của con người.
TTC 12Lại nữa, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo buộc tội một Tỷ-kheo phạm tội. Tỷ-kheo ấy bị các Tỷ-kheo buộc tội, liền cật nạn Tỷ-kheo buộc tội: “Thầy cũng phạm tội tên là như vậy. Vậy Thầy hãy phát lộ trước”. Ví như, này các Tỷ-kheo, con ngựa chưa được điều phục ấy, khi bảo đi, bị gậy thúc, hay bị người đánh xe la, nó rút bắp vế ra khỏi xe và dẫm nát gọng xe. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng, người này giống như ví dụ ấy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây là hạng người chưa được điều phục. Này các Tỷ-kheo, đây là tánh xấu ba của con người.
TTC 13Lại nữa, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo buộc tội một Tỷ-kheo phạm tội. Tỷ-kheo ấy bị các Tỷ-kheo buộc tội, liền tránh né vấn đề với một vấn đề khác, hướng dẫn câu chuyện ra ngoài và biểu lộ phẫn nộ, sân hận, bất mãn. Ví như, này các Tỷ-kheo, con ngựa chưa được điều phục ấy, khi bảo đi, bị gậy thúc, hay bị người đánh xe la, nó liền đi vào con đường xấu và làm cho xe bị lạc hướng. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng, người này giống như ví dụ ấy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây là hạng người chưa được điều phục. Này các Tỷ-kheo, đây là tánh xấu thứ tư của con người.
TTC 14Lại nữa, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo buộc tội một Tỷ-kheo phạm tội. Tỷ-kheo ấy bị các Tỷ-kheo buộc tội, liền nói ba hoa, khua tay múa chân. Này các Tỷ-kheo, ví như con ngựa chưa được điều phục ấy, khi bảo đi, bị gậy thúc, hay bị người đánh xe la, nó liền trườn đứng phía thân trước và đạp lên không với chân trước. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng, người này giống như ví dụ ấy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây là hạng người chưa được điều phục. Này các Tỷ-kheo, đây là tánh xấu thứ năm của con người.
TTC 15Lại nữa, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo buộc tội một Tỷ-kheo phạm tội. Tỷ-kheo ấy bị các Tỷ-kheo buộc tội, không để ý đến chúng Tăng, không để ý đến các Tỷ-kheo buộc tội, với tội phạm và như một người bị xúc phạm, vị ấy đi chỗ nào vị ấy muốn. Này các Tỷ-kheo, ví như con ngựa chưa được điều phục ấy, khi bảo đi, bị gậy thúc, hay bị người đánh xe la, nó không để ý đến người đánh xe, không để ý đến cây roi, lấy răng nghiến hàm thiết ngựa, và đi chỗ nào nó muốn. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng, người này giống như ví dụ ấy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây là hạng người chưa được điều phục. Này các Tỷ-kheo, đây là tánh xấu thứ sáu của con người.
TTC 16Lại nữa, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo buộc tội một Tỷ-kheo phạm tội. Tỷ-kheo ấy bị các Tỷ-kheo buộc tội, liền nói: “Tôi không phạm tội, tôi không có phạm tội” và vị ấy làm chúng Tăng bực mình với sự im lặng. Này các Tỷ-kheo, ví như con ngựa chưa được điều phục ấy, khi bảo đi, bị gậy thúc, hay bị người đánh xe la, nó không đi tới, không đi lui, đứng lại tại chỗ như một cột trụ. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng, người này giống như ví dụ ấy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, đây là hạng người chưa được điều phục. Này các Tỷ-kheo, đây là tánh xấu thứ bảy của con người.
TTC 17Lại nữa, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo buộc tội một Tỷ-kheo phạm tội. Tỷ-kheo ấy bị các Tỷ-kheo buộc tội, nói như sau: “Tại sao các Tôn giả lại quá lo cho tôi. Bắt đầu từ nay, tôi sẽ từ bỏ học pháp và hoàn tục”. Rồi vị ấy sau khi từ bỏ học pháp và hoàn tục nói như sau: “Nay các Tôn giả ấy được hoan hỷ”. Này các Tỷ-kheo, ví như con ngựa chưa được điều phục ấy, khi bảo đi, bị gậy thúc, hay bị người đánh xe la, nó liền tréo lại hai chân trước, tréo lại hai chân sau và quỵ xuống bốn chân tại đấy. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng, người này giống như ví dụ ấy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, đây là hạng người chưa được điều phục. Này các Tỷ-kheo, đây là tánh xấu thứ tám của con người.
Này các Tỷ-kheo, đây là tám hạng người chưa được điều phục và tám tánh xấu của con người.
“Aṭṭha ca, bhikkhave, assakhaḷuṅke desessāmi aṭṭha ca assadose, aṭṭha ca purisakhaḷuṅke aṭṭha ca purisadose.
Taṁ suṇātha, sādhukaṁ manasi karotha, bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ.
Bhagavā etadavoca:
“Katame ca, bhikkhave, aṭṭha assakhaḷuṅkā aṭṭha ca assadosā?
Idha, bhikkhave, ekacco assakhaḷuṅko ‘pehī’ti vutto, viddho samāno codito sārathinā pacchato paṭikkamati, piṭṭhito rathaṁ pavatteti.
Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco assakhaḷuṅko hoti.
Ayaṁ, bhikkhave, paṭhamo assadoso.
Puna caparaṁ, bhikkhave, idhekacco assakhaḷuṅko ‘pehī’ti vutto, viddho samāno codito sārathinā pacchā laṅghati, kubbaraṁ hanati, tidaṇḍaṁ bhañjati.
Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco assakhaḷuṅko hoti.
Ayaṁ, bhikkhave, dutiyo assadoso.
Puna caparaṁ, bhikkhave, idhekacco assakhaḷuṅko ‘pehī’ti vutto, viddho samāno codito sārathinā rathīsāya satthiṁ ussajjitvā rathīsaṁyeva ajjhomaddati.
Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco assakhaḷuṅko hoti.
Ayaṁ, bhikkhave, tatiyo assadoso.
Puna caparaṁ, bhikkhave, idhekacco assakhaḷuṅko ‘pehī’ti vutto, viddho samāno codito sārathinā ummaggaṁ gaṇhati, ubbaṭumaṁ rathaṁ karoti.
Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco assakhaḷuṅko hoti.
Ayaṁ, bhikkhave, catuttho assadoso.
Puna caparaṁ, bhikkhave, idhekacco assakhaḷuṅko ‘pehī’ti vutto, viddho samāno codito sārathinā laṅghati purimakāyaṁ paggaṇhati purime pāde.
Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco assakhaḷuṅko hoti.
Ayaṁ, bhikkhave, pañcamo assadoso.
Puna caparaṁ, bhikkhave, idhekacco assakhaḷuṅko ‘pehī’ti vutto, viddho samāno codito sārathinā anādiyitvā sārathiṁ anādiyitvā patodalaṭṭhiṁ dantehi mukhādhānaṁ vidhaṁsitvā yena kāmaṁ pakkamati.
Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco assakhaḷuṅko hoti.
Ayaṁ, bhikkhave, chaṭṭho assadoso.
Puna caparaṁ, bhikkhave, idhekacco assakhaḷuṅko ‘pehī’ti vutto, viddho samāno codito sārathinā neva abhikkamati no paṭikkamati tattheva khīlaṭṭhāyī ṭhito hoti.
Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco assakhaḷuṅko hoti.
Ayaṁ, bhikkhave, sattamo assadoso.
Puna caparaṁ, bhikkhave, idhekacco assakhaḷuṅko ‘pehī’ti vutto, viddho samāno codito sārathinā purime ca pāde saṁharitvā pacchime ca pāde saṁharitvā tattheva cattāro pāde abhinisīdati.
Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco assakhaḷuṅko hoti.
Ayaṁ, bhikkhave, aṭṭhamo assadoso.
Ime kho, bhikkhave, aṭṭha assakhaḷuṅkā aṭṭha ca assadosā.
Katame ca, bhikkhave, aṭṭha purisakhaḷuṅkā aṭṭha ca purisadosā?
Idha, bhikkhave, bhikkhū bhikkhuṁ āpattiyā codenti.
So bhikkhu bhikkhūhi āpattiyā codiyamāno ‘na sarāmī’ti asatiyā nibbeṭheti.
Seyyathāpi so, bhikkhave, assakhaḷuṅko ‘pehī’ti vutto, viddho samāno codito sārathinā pacchato paṭikkamati, piṭṭhito rathaṁ vatteti;
tathūpamāhaṁ, bhikkhave, imaṁ puggalaṁ vadāmi.
Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco purisakhaḷuṅko hoti.
Ayaṁ, bhikkhave, paṭhamo purisadoso.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhū bhikkhuṁ āpattiyā codenti.
So bhikkhu bhikkhūhi āpattiyā codiyamāno codakaṁyeva paṭippharati:
‘kiṁ nu kho tuyhaṁ bālassa abyattassa bhaṇitena.
Tvampi nāma bhaṇitabbaṁ maññasī’ti.
Seyyathāpi so, bhikkhave, assakhaḷuṅko ‘pehī’ti vutto, viddho samāno codito sārathinā pacchā laṅghati, kubbaraṁ hanati, tidaṇḍaṁ bhañjati;
tathūpamāhaṁ, bhikkhave, imaṁ puggalaṁ vadāmi.
Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco purisakhaḷuṅko hoti.
Ayaṁ, bhikkhave, dutiyo purisadoso.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhū bhikkhuṁ āpattiyā codenti.
So bhikkhu bhikkhūhi āpattiyā codiyamāno codakasseva paccāropeti:
‘tvaṁ khosi itthannāmaṁ āpattiṁ āpanno, tvaṁ tāva paṭhamaṁ paṭikarohī’ti.
Seyyathāpi so, bhikkhave, assakhaḷuṅko ‘pehī’ti vutto, viddho samāno codito sārathinā rathīsāya satthiṁ ussajjitvā rathīsaṁyeva ajjhomaddati;
tathūpamāhaṁ, bhikkhave, imaṁ puggalaṁ vadāmi.
Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco purisakhaḷuṅko hoti.
Ayaṁ, bhikkhave, tatiyo purisadoso.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhū bhikkhuṁ āpattiyā codenti.
So bhikkhu bhikkhūhi āpattiyā codiyamāno aññenāññaṁ paṭicarati, bahiddhā kathaṁ apanāmeti, kopañca dosañca appaccayañca pātukaroti.
Seyyathāpi so, bhikkhave, assakhaḷuṅko ‘pehī’ti vutto, viddho samāno codito sārathinā ummaggaṁ gaṇhati, ubbaṭumaṁ rathaṁ karoti;
tathūpamāhaṁ, bhikkhave, imaṁ puggalaṁ vadāmi.
Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco purisakhaḷuṅko hoti.
Ayaṁ, bhikkhave, catuttho purisadoso.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhū bhikkhuṁ āpattiyā codenti.
So bhikkhu bhikkhūhi āpattiyā codiyamāno saṅghamajjhe bāhuvikkhepaṁ karoti.
Seyyathāpi so, bhikkhave, assakhaḷuṅko ‘pehī’ti vutto, viddho samāno codito sārathinā laṅghati, purimakāyaṁ paggaṇhati purime pāde;
tathūpamāhaṁ, bhikkhave, imaṁ puggalaṁ vadāmi.
Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco purisakhaḷuṅko hoti.
Ayaṁ, bhikkhave, pañcamo purisadoso.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhū bhikkhuṁ āpattiyā codenti.
So bhikkhu bhikkhūhi āpattiyā codiyamāno anādiyitvā saṅghaṁ anādiyitvā codakaṁ sāpattikova yena kāmaṁ pakkamati.
Seyyathāpi so, bhikkhave, assakhaḷuṅko ‘pehī’ti vutto, viddho samāno codito sārathinā anādiyitvā sārathiṁ anādiyitvā patodalaṭṭhiṁ dantehi mukhādhānaṁ vidhaṁsitvā yena kāmaṁ pakkamati;
tathūpamāhaṁ, bhikkhave, imaṁ puggalaṁ vadāmi.
Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco purisakhaḷuṅko hoti.
Ayaṁ, bhikkhave, chaṭṭho purisadoso.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhū bhikkhuṁ āpattiyā codenti.
So bhikkhu bhikkhūhi āpattiyā codiyamāno ‘nevāhaṁ āpannomhi, na panāhaṁ āpannomhī’ti so tuṇhībhāvena saṅghaṁ viheṭheti.
Seyyathāpi so, bhikkhave, assakhaḷuṅko ‘pehī’ti vutto, viddho samāno codito sārathinā neva abhikkamati no paṭikkamati tattheva khīlaṭṭhāyī ṭhito hoti;
tathūpamāhaṁ, bhikkhave, imaṁ puggalaṁ vadāmi.
Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco purisakhaḷuṅko hoti.
Ayaṁ, bhikkhave, sattamo purisadoso.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhū bhikkhuṁ āpattiyā codenti.
So bhikkhu bhikkhūhi āpattiyā codiyamāno evamāha:
‘kiṁ nu kho tumhe āyasmanto atibāḷhaṁ mayi byāvaṭā yāva idānāhaṁ sikkhaṁ paccakkhāya hīnāyāvattissāmī’ti.
So sikkhaṁ paccakkhāya hīnāyāvattitvā evamāha:
‘idāni kho tumhe āyasmanto attamanā hothā’ti?
Seyyathāpi so, bhikkhave, assakhaḷuṅko ‘pehī’ti vutto, viddho samāno codito sārathinā purime ca pāde saṁharitvā pacchime ca pāde saṁharitvā tattheva cattāro pāde abhinisīdati;
tathūpamāhaṁ, bhikkhave, imaṁ puggalaṁ vadāmi.
Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco purisakhaḷuṅko hoti.
Ayaṁ, bhikkhave, aṭṭhamo purisadoso.
Ime kho, bhikkhave, aṭṭha purisakhaḷuṅkā aṭṭha ca purisadosā”ti.
Catutthaṁ.
SC 1“Bhikkhus, I will teach you the eight kinds of wild colts and the eight faults of a horse, and I will teach you the eight kinds of persons who are like wild colts and the eight faults of a person. Listen and attend closely. I will speak.”
SC 2“Yes, Bhante,” those bhikkhus replied. The Blessed One said this:
SC 3“And what, bhikkhus, are the eight kinds of wild colts and the eight faults of a horse?
SC 4(1) “Here, when a wild colt is told: ‘Go forward!’ and is being spurred and incited by its trainer, it backs up an.iv.191 and spins the chariot around behind it. There is such a kind of wild colt here. This is the first fault of a horse.
SC 5(2) “Again, when a wild colt is told: ‘Go forward!’ and is being spurred and incited by its trainer, it leaps back and thereby damages the rail and breaks the triple rod. There is such a kind of wild colt here. This is the second fault of a horse.
SC 6(3) “Again, when a wild colt is told: ‘Go forward!’ and is being spurred and incited by its trainer, it loosens its thigh from the chariot pole and crushes the chariot pole. There is such a kind of wild colt here. This is the third fault of a horse.
SC 7(4) “Again, when a wild colt is told: ‘Go forward!’ and is being spurred and incited by its trainer, it takes a wrong path and leads the chariot off the track. There is such a kind of wild colt here. This is the fourth fault of a horse.
SC 8(5) “Again, when a wild colt is told: ‘Go forward!’ and is being spurred and incited by its trainer, it leaps up with the front of its body and churns the air with its front feet. There is such a kind of wild colt here. This is the fifth fault of a horse.
SC 9(6) “Again, when a wild colt is told: ‘Go forward!’ and is being spurred and incited by its trainer, it does not heed its trainer or the goad but destroys the mouthbit with its teeth an.iv.192 and sets out wherever it wishes. There is such a kind of wild colt here. This is the sixth fault of a horse.
SC 10(7) “Again, when a wild colt is told: ‘Go forward!’ and is being spurred and incited by its trainer, it does not go forward or turn back but stands right there as still as a post. There is such a kind of wild colt here. This is the seventh fault of a horse.
SC 11(8) “Again, when a wild colt is told: ‘Go forward!’ and is being spurred and incited by its trainer, it tucks in its front legs and its back legs and sits down right there on all four legs. There is such a kind of wild colt here. This is the eighth fault of a horse.
SC 12“These are the eight kinds of wild colts and the eight faults of a horse.
SC 13“And what, bhikkhus, are the eight kinds of persons who are like wild colts and the eight faults of a person?
SC 14(1) “Here, when the bhikkhus are reproving a bhikkhu for an offense, he exonerates himself by reason of lack of memory, saying: ‘I don’t remember committing such an offense.’ I say this person is similar to the wild colt that, when told: ‘Go forward!’ and when spurred and incited by its trainer, backs up and spins the chariot around behind it. There is such a kind of person here like a wild colt. This is the first fault of a person.
SC 15(2) “Again, when the bhikkhus are reproving a bhikkhu for an offense, an.iv.193 he castigates the reprover himself: ‘What right does an incompetent fool like you have to speak? Do you really think you have something to say?’ I say this person is similar to the wild colt that, when told: ‘Go forward!’ and when spurred and incited by its trainer, leaps back and thereby damages the rail and breaks the triple pole. There is such a kind of person here like a wild colt. This is the second fault of a person.
SC 16(3) “Again, when the bhikkhus are reproving a bhikkhu for an offense, he attributes an offense to the reprover himself, saying: ‘You have committed such and such an offense. Make amends for it first.’ I say this person is similar to the wild colt that, when told: ‘Go forward!’ and when spurred and incited by its trainer, loosens its thigh from the chariot pole and crushes the chariot pole. There is such a kind of person here like a wild colt. This is the third fault of a person.
SC 17(4) “Again, when the bhikkhus are reproving a bhikkhu for an offense, he answers evasively, diverts the discussion to an irrelevant subject, and displays anger, hatred, and bitterness. I say this person is similar to the wild colt that, when told: ‘Go forward!’ and when spurred and incited by its trainer, takes a wrong path and leads the chariot off the track. There is such a kind of person here like a wild colt. This is the fourth fault of a person.
SC 18(5) “Again, when the bhikkhus are reproving a bhikkhu for an offense, he speaks while waving his arms about in the midst of the Saṅgha. I say this person is similar to an.iv.194 the wild colt that, when told: ‘Go forward!’ and when spurred and incited by its trainer, leaps up with the front of its body and churns the air with its front feet. There is such a kind of person here like a wild colt. This is the fifth fault of a person.
SC 19(6) “Again, when the bhikkhus are reproving a bhikkhu for an offense, he does not heed the Saṅgha or his reprover but sets out wherever he wishes while still bearing his offense. I say this person is similar to the wild colt that, when told: ‘Go forward!’ and when spurred and incited by its trainer, does not heed its trainer or the goad but destroys the mouthbit with its teeth and sets out wherever it wishes. There is such a kind of person here like a wild colt. This is the sixth fault of a person.
SC 20(7) “Again, when the bhikkhus are reproving a bhikkhu for an offense, he does not say, ‘I committed an offense,’ nor does he say, ‘I did not commit an offense,’ but he vexes the Saṅgha by keeping silent. I say this person is similar to the wild colt that, when told: ‘Go forward!’ and when spurred and incited by its trainer, does not go forward or turn back but stands right there as still as a post. There is such a kind of person here like a wild colt. This is the seventh fault of a person.
SC 21(8) “Again, when the bhikkhus are reproving a bhikkhu for an offense, he says: an.iv.195 ‘Why are you making such a fuss about me? Now I’ll reject the training and return to the lower life.’ He then rejects the training, returns to the lower life, and declares: ‘Now you can be satisfied!’ I say this person is similar to the wild colt that, when told: ‘Go forward!’ and when spurred and incited by its trainer, tucks in its front legs and its back legs and sits down right there on all four legs. There is such a kind of person here like a wild colt. This is the eighth fault of a person.
SC 22“These, bhikkhus, are the eight kinds of persons who are like wild colts and the eight faults of a person.”
TTC 1—Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng về tám loại ngựa chưa điều phục, tám tánh xấu của con ngựa, tám hạng người chưa điều phục, tám tánh xấu của con người. Hãy lắng nghe và suy niệm kỹ, Ta sẽ nói.
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
TTC 2—Này các Tỷ-kheo, thế nào là tám loại ngựa chưa được điều phục? Thế nào là tám tánh xấu của ngựa?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có loại ngựa chưa được điều phục, khi bảo đi, bị gậy thúc, bị người đánh xe la và thúc đẩy, nó đi lùi, và với lưng, làm chiếc xe chạy vòng lại. Như vậy, này các Tỷ-kheo, đây là loại ngựa chưa được điều phục. Này các Tỷ-kheo, đây là tánh xấu thứ nhất của con ngựa.
TTC 3Lại nữa, này các Tỷ-kheo, ở đây có loại ngựa chưa được điều phục, khi bảo đi, bị gậy thúc hay bị người đánh xe la, nó nhảy lùi, đạp vào thành xe, làm gãy gọng xe. Như vậy, này các Tỷ-kheo, đây là loại ngựa chưa được điều phục. Này các Tỷ-kheo, đây là tánh xấu thứ hai của con ngựa.
TTC 4Lại nữa, này các Tỷ-kheo, ở đây có loại ngựa chưa được điều phục, khi bảo đi, bị gậy thúc hay bị người đánh xe la, nó rút bắp vế ra khỏi gọng xe và dẫm nát gọng xe. Như vậy, này các Tỷ-kheo, đây là loại ngựa chưa được điều phục. Này các Tỷ-kheo, đây là tánh xấu thứ ba của con ngựa.
TTC 5Lại nữa, này các Tỷ-kheo, ở đây có loại ngựa chưa được điều phục, khi bảo đi, bị gậy thúc hay bị người đánh xe la, nó liền đi con đường xấu và làm cho xe bị lạc hướng. Như vậy, này các Tỷ-kheo, đây là loại ngựa chưa được điều phục. Này các Tỷ-kheo, đây là tánh xấu thứ tư của con ngựa.
TTC 6Lại nữa, này các Tỷ-kheo, ở đây có loại ngựa chưa được điều phục, khi bảo đi, bị gậy thúc hay bị người đánh xe la, nó trườn đứng phía chân trước và đạp lên không trung với chân trước. Như vậy, này các Tỷ-kheo, đây là loại ngựa chưa được điều phục. Này các Tỷ-kheo, đây là tánh xấu thứ năm của con ngựa.
TTC 7Lại nữa, này các Tỷ-kheo, ở đây có loại ngựa chưa được điều phục, khi bảo đi, bị gậy thúc hay bị người đánh xe la, nó không để ý đến người đánh xe la, không để ý đến cây gậy thúc ngựa, lấy răng nghiền hàm thiết (khớp ngựa) ngựa và đi chỗ nào nó muốn. Như vậy, này các Tỷ-kheo, đây là loại ngựa chưa được điều phục. Này các Tỷ-kheo, đây là tánh xấu thứ sáu của con ngựa.
TTC 8Lại nữa, này các Tỷ-kheo, ở đây có loại ngựa chưa được điều phục, khi bảo đi, bị gậy thúc hay bị người đánh xe la, nó không đi tới, không đi lui, đứng lại tại chỗ như một cột trụ. Như vậy, này các Tỷ-kheo, đây là loại ngựa chưa được điều phục. Này các Tỷ-kheo, đây là tánh xấu thứ bảy của con ngựa.
TTC 9Lại nữa, này các Tỷ-kheo, ở đây có loại ngựa chưa được điều phục, khi bảo đi, bị gậy thúc hay bị người đánh xe la, nó liền tréo hai chân trước, tréo lại hai chân sau, và quỵ xuống bốn chân tại đấy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, đây là loại ngựa chưa được điều phục. Này các Tỷ-kheo, đây là tánh xấu thứ tám của con ngựa.
Này các Tỷ-kheo, đây là tám loại ngựa chưa được điều phục và tám tánh xấu của con ngựa.
TTC 10Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tám hạng người chưa được điều phục và tám tánh xấu của con người?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo buộc tội một Tỷ-kheo phạm tội. Tỷ-kheo ấy bị các Tỷ-kheo buộc tội, tránh né (vấn đề) như là không nhớ, nói rằng: “Tôi không nhớ, tôi không nhớ “. Ví như, này các Tỷ-kheo, con ngựa chưa được điều phục ấy, khi bảo đi, bị gậy thúc, hay bị người đánh xe la, nó đi lùi với cái lưng làm cho cái xe chạy vòng lại. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng, người này giống như ví dụ ấy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, đây là hạng người chưa được điều phục. Này các Tỷ-kheo, đây là tánh xấu thứ nhất của con người.
TTC 11Lại nữa, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo buộc tội một Tỷ-kheo phạm tội. Tỷ-kheo ấy bị các Tỷ-kheo buộc tội, phát ra lời chất vấn Tỷ-kheo buộc tội: “Thầy lấy quyền gì mà nói, này kẻ ngu, không thông minh? Tại sao Thầy nghĩ rằng Thầy phải nói? “ Ví như, này các Tỷ-kheo, con ngựa chưa được điều phục ấy, khi bảo đi, bị gậy thúc, hay bị người đánh xe la, nó nhảy lùi lại, đạp vào thành xe, làm gãy gọng xe. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng, người này giống như ví dụ ấy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây là hạng người chưa được điều phục. Này các Tỷ-kheo, đây là tánh xấu hai của con người.
TTC 12Lại nữa, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo buộc tội một Tỷ-kheo phạm tội. Tỷ-kheo ấy bị các Tỷ-kheo buộc tội, liền cật nạn Tỷ-kheo buộc tội: “Thầy cũng phạm tội tên là như vậy. Vậy Thầy hãy phát lộ trước”. Ví như, này các Tỷ-kheo, con ngựa chưa được điều phục ấy, khi bảo đi, bị gậy thúc, hay bị người đánh xe la, nó rút bắp vế ra khỏi xe và dẫm nát gọng xe. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng, người này giống như ví dụ ấy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây là hạng người chưa được điều phục. Này các Tỷ-kheo, đây là tánh xấu ba của con người.
TTC 13Lại nữa, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo buộc tội một Tỷ-kheo phạm tội. Tỷ-kheo ấy bị các Tỷ-kheo buộc tội, liền tránh né vấn đề với một vấn đề khác, hướng dẫn câu chuyện ra ngoài và biểu lộ phẫn nộ, sân hận, bất mãn. Ví như, này các Tỷ-kheo, con ngựa chưa được điều phục ấy, khi bảo đi, bị gậy thúc, hay bị người đánh xe la, nó liền đi vào con đường xấu và làm cho xe bị lạc hướng. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng, người này giống như ví dụ ấy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây là hạng người chưa được điều phục. Này các Tỷ-kheo, đây là tánh xấu thứ tư của con người.
TTC 14Lại nữa, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo buộc tội một Tỷ-kheo phạm tội. Tỷ-kheo ấy bị các Tỷ-kheo buộc tội, liền nói ba hoa, khua tay múa chân. Này các Tỷ-kheo, ví như con ngựa chưa được điều phục ấy, khi bảo đi, bị gậy thúc, hay bị người đánh xe la, nó liền trườn đứng phía thân trước và đạp lên không với chân trước. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng, người này giống như ví dụ ấy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây là hạng người chưa được điều phục. Này các Tỷ-kheo, đây là tánh xấu thứ năm của con người.
TTC 15Lại nữa, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo buộc tội một Tỷ-kheo phạm tội. Tỷ-kheo ấy bị các Tỷ-kheo buộc tội, không để ý đến chúng Tăng, không để ý đến các Tỷ-kheo buộc tội, với tội phạm và như một người bị xúc phạm, vị ấy đi chỗ nào vị ấy muốn. Này các Tỷ-kheo, ví như con ngựa chưa được điều phục ấy, khi bảo đi, bị gậy thúc, hay bị người đánh xe la, nó không để ý đến người đánh xe, không để ý đến cây roi, lấy răng nghiến hàm thiết ngựa, và đi chỗ nào nó muốn. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng, người này giống như ví dụ ấy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây là hạng người chưa được điều phục. Này các Tỷ-kheo, đây là tánh xấu thứ sáu của con người.
TTC 16Lại nữa, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo buộc tội một Tỷ-kheo phạm tội. Tỷ-kheo ấy bị các Tỷ-kheo buộc tội, liền nói: “Tôi không phạm tội, tôi không có phạm tội” và vị ấy làm chúng Tăng bực mình với sự im lặng. Này các Tỷ-kheo, ví như con ngựa chưa được điều phục ấy, khi bảo đi, bị gậy thúc, hay bị người đánh xe la, nó không đi tới, không đi lui, đứng lại tại chỗ như một cột trụ. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng, người này giống như ví dụ ấy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, đây là hạng người chưa được điều phục. Này các Tỷ-kheo, đây là tánh xấu thứ bảy của con người.
TTC 17Lại nữa, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo buộc tội một Tỷ-kheo phạm tội. Tỷ-kheo ấy bị các Tỷ-kheo buộc tội, nói như sau: “Tại sao các Tôn giả lại quá lo cho tôi. Bắt đầu từ nay, tôi sẽ từ bỏ học pháp và hoàn tục”. Rồi vị ấy sau khi từ bỏ học pháp và hoàn tục nói như sau: “Nay các Tôn giả ấy được hoan hỷ”. Này các Tỷ-kheo, ví như con ngựa chưa được điều phục ấy, khi bảo đi, bị gậy thúc, hay bị người đánh xe la, nó liền tréo lại hai chân trước, tréo lại hai chân sau và quỵ xuống bốn chân tại đấy. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng, người này giống như ví dụ ấy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, đây là hạng người chưa được điều phục. Này các Tỷ-kheo, đây là tánh xấu thứ tám của con người.
Này các Tỷ-kheo, đây là tám hạng người chưa được điều phục và tám tánh xấu của con người.
“Aṭṭha ca, bhikkhave, assakhaḷuṅke desessāmi aṭṭha ca assadose, aṭṭha ca purisakhaḷuṅke aṭṭha ca purisadose.
Taṁ suṇātha, sādhukaṁ manasi karotha, bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ.
Bhagavā etadavoca:
“Katame ca, bhikkhave, aṭṭha assakhaḷuṅkā aṭṭha ca assadosā?
Idha, bhikkhave, ekacco assakhaḷuṅko ‘pehī’ti vutto, viddho samāno codito sārathinā pacchato paṭikkamati, piṭṭhito rathaṁ pavatteti.
Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco assakhaḷuṅko hoti.
Ayaṁ, bhikkhave, paṭhamo assadoso.
Puna caparaṁ, bhikkhave, idhekacco assakhaḷuṅko ‘pehī’ti vutto, viddho samāno codito sārathinā pacchā laṅghati, kubbaraṁ hanati, tidaṇḍaṁ bhañjati.
Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco assakhaḷuṅko hoti.
Ayaṁ, bhikkhave, dutiyo assadoso.
Puna caparaṁ, bhikkhave, idhekacco assakhaḷuṅko ‘pehī’ti vutto, viddho samāno codito sārathinā rathīsāya satthiṁ ussajjitvā rathīsaṁyeva ajjhomaddati.
Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco assakhaḷuṅko hoti.
Ayaṁ, bhikkhave, tatiyo assadoso.
Puna caparaṁ, bhikkhave, idhekacco assakhaḷuṅko ‘pehī’ti vutto, viddho samāno codito sārathinā ummaggaṁ gaṇhati, ubbaṭumaṁ rathaṁ karoti.
Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco assakhaḷuṅko hoti.
Ayaṁ, bhikkhave, catuttho assadoso.
Puna caparaṁ, bhikkhave, idhekacco assakhaḷuṅko ‘pehī’ti vutto, viddho samāno codito sārathinā laṅghati purimakāyaṁ paggaṇhati purime pāde.
Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco assakhaḷuṅko hoti.
Ayaṁ, bhikkhave, pañcamo assadoso.
Puna caparaṁ, bhikkhave, idhekacco assakhaḷuṅko ‘pehī’ti vutto, viddho samāno codito sārathinā anādiyitvā sārathiṁ anādiyitvā patodalaṭṭhiṁ dantehi mukhādhānaṁ vidhaṁsitvā yena kāmaṁ pakkamati.
Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco assakhaḷuṅko hoti.
Ayaṁ, bhikkhave, chaṭṭho assadoso.
Puna caparaṁ, bhikkhave, idhekacco assakhaḷuṅko ‘pehī’ti vutto, viddho samāno codito sārathinā neva abhikkamati no paṭikkamati tattheva khīlaṭṭhāyī ṭhito hoti.
Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco assakhaḷuṅko hoti.
Ayaṁ, bhikkhave, sattamo assadoso.
Puna caparaṁ, bhikkhave, idhekacco assakhaḷuṅko ‘pehī’ti vutto, viddho samāno codito sārathinā purime ca pāde saṁharitvā pacchime ca pāde saṁharitvā tattheva cattāro pāde abhinisīdati.
Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco assakhaḷuṅko hoti.
Ayaṁ, bhikkhave, aṭṭhamo assadoso.
Ime kho, bhikkhave, aṭṭha assakhaḷuṅkā aṭṭha ca assadosā.
Katame ca, bhikkhave, aṭṭha purisakhaḷuṅkā aṭṭha ca purisadosā?
Idha, bhikkhave, bhikkhū bhikkhuṁ āpattiyā codenti.
So bhikkhu bhikkhūhi āpattiyā codiyamāno ‘na sarāmī’ti asatiyā nibbeṭheti.
Seyyathāpi so, bhikkhave, assakhaḷuṅko ‘pehī’ti vutto, viddho samāno codito sārathinā pacchato paṭikkamati, piṭṭhito rathaṁ vatteti;
tathūpamāhaṁ, bhikkhave, imaṁ puggalaṁ vadāmi.
Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco purisakhaḷuṅko hoti.
Ayaṁ, bhikkhave, paṭhamo purisadoso.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhū bhikkhuṁ āpattiyā codenti.
So bhikkhu bhikkhūhi āpattiyā codiyamāno codakaṁyeva paṭippharati:
‘kiṁ nu kho tuyhaṁ bālassa abyattassa bhaṇitena.
Tvampi nāma bhaṇitabbaṁ maññasī’ti.
Seyyathāpi so, bhikkhave, assakhaḷuṅko ‘pehī’ti vutto, viddho samāno codito sārathinā pacchā laṅghati, kubbaraṁ hanati, tidaṇḍaṁ bhañjati;
tathūpamāhaṁ, bhikkhave, imaṁ puggalaṁ vadāmi.
Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco purisakhaḷuṅko hoti.
Ayaṁ, bhikkhave, dutiyo purisadoso.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhū bhikkhuṁ āpattiyā codenti.
So bhikkhu bhikkhūhi āpattiyā codiyamāno codakasseva paccāropeti:
‘tvaṁ khosi itthannāmaṁ āpattiṁ āpanno, tvaṁ tāva paṭhamaṁ paṭikarohī’ti.
Seyyathāpi so, bhikkhave, assakhaḷuṅko ‘pehī’ti vutto, viddho samāno codito sārathinā rathīsāya satthiṁ ussajjitvā rathīsaṁyeva ajjhomaddati;
tathūpamāhaṁ, bhikkhave, imaṁ puggalaṁ vadāmi.
Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco purisakhaḷuṅko hoti.
Ayaṁ, bhikkhave, tatiyo purisadoso.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhū bhikkhuṁ āpattiyā codenti.
So bhikkhu bhikkhūhi āpattiyā codiyamāno aññenāññaṁ paṭicarati, bahiddhā kathaṁ apanāmeti, kopañca dosañca appaccayañca pātukaroti.
Seyyathāpi so, bhikkhave, assakhaḷuṅko ‘pehī’ti vutto, viddho samāno codito sārathinā ummaggaṁ gaṇhati, ubbaṭumaṁ rathaṁ karoti;
tathūpamāhaṁ, bhikkhave, imaṁ puggalaṁ vadāmi.
Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco purisakhaḷuṅko hoti.
Ayaṁ, bhikkhave, catuttho purisadoso.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhū bhikkhuṁ āpattiyā codenti.
So bhikkhu bhikkhūhi āpattiyā codiyamāno saṅghamajjhe bāhuvikkhepaṁ karoti.
Seyyathāpi so, bhikkhave, assakhaḷuṅko ‘pehī’ti vutto, viddho samāno codito sārathinā laṅghati, purimakāyaṁ paggaṇhati purime pāde;
tathūpamāhaṁ, bhikkhave, imaṁ puggalaṁ vadāmi.
Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco purisakhaḷuṅko hoti.
Ayaṁ, bhikkhave, pañcamo purisadoso.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhū bhikkhuṁ āpattiyā codenti.
So bhikkhu bhikkhūhi āpattiyā codiyamāno anādiyitvā saṅghaṁ anādiyitvā codakaṁ sāpattikova yena kāmaṁ pakkamati.
Seyyathāpi so, bhikkhave, assakhaḷuṅko ‘pehī’ti vutto, viddho samāno codito sārathinā anādiyitvā sārathiṁ anādiyitvā patodalaṭṭhiṁ dantehi mukhādhānaṁ vidhaṁsitvā yena kāmaṁ pakkamati;
tathūpamāhaṁ, bhikkhave, imaṁ puggalaṁ vadāmi.
Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco purisakhaḷuṅko hoti.
Ayaṁ, bhikkhave, chaṭṭho purisadoso.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhū bhikkhuṁ āpattiyā codenti.
So bhikkhu bhikkhūhi āpattiyā codiyamāno ‘nevāhaṁ āpannomhi, na panāhaṁ āpannomhī’ti so tuṇhībhāvena saṅghaṁ viheṭheti.
Seyyathāpi so, bhikkhave, assakhaḷuṅko ‘pehī’ti vutto, viddho samāno codito sārathinā neva abhikkamati no paṭikkamati tattheva khīlaṭṭhāyī ṭhito hoti;
tathūpamāhaṁ, bhikkhave, imaṁ puggalaṁ vadāmi.
Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco purisakhaḷuṅko hoti.
Ayaṁ, bhikkhave, sattamo purisadoso.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhū bhikkhuṁ āpattiyā codenti.
So bhikkhu bhikkhūhi āpattiyā codiyamāno evamāha:
‘kiṁ nu kho tumhe āyasmanto atibāḷhaṁ mayi byāvaṭā yāva idānāhaṁ sikkhaṁ paccakkhāya hīnāyāvattissāmī’ti.
So sikkhaṁ paccakkhāya hīnāyāvattitvā evamāha:
‘idāni kho tumhe āyasmanto attamanā hothā’ti?
Seyyathāpi so, bhikkhave, assakhaḷuṅko ‘pehī’ti vutto, viddho samāno codito sārathinā purime ca pāde saṁharitvā pacchime ca pāde saṁharitvā tattheva cattāro pāde abhinisīdati;
tathūpamāhaṁ, bhikkhave, imaṁ puggalaṁ vadāmi.
Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco purisakhaḷuṅko hoti.
Ayaṁ, bhikkhave, aṭṭhamo purisadoso.
Ime kho, bhikkhave, aṭṭha purisakhaḷuṅkā aṭṭha ca purisadosā”ti.
Catutthaṁ.