TTC 1—Lời nói của năm hạng người, này các Tỷ-kheo, là ác thuyết, khi có sự đối chứng giữa người và người. Thế nào là năm?
TTC 2Nói về tín với người không tin, này các Tỷ-kheo, là ác thuyết; nói về giới với người ác giới là ác thuyết; nói về nghe nhiều với người nghe ít là ác thuyết; nói về bố thí với người xan tham là ác thuyết; nói về trí tuệ với người ác tuệ là ác thuyết. Và này các Tỷ-kheo, tại sao nói về tín với người không tin là ác thuyết?
TTC 3Người không tin, này các Tỷ-kheo, khi được nói về lòng tin liền tức tối, phẫn nộ, hiềm khích, mất bình tĩnh, biểu lộ phẫn nộ, sân hận, phiền muộn. Vì sao? Vì rằng vị ấy không thấy tự mình có đầy đủ lòng tin, do nhân duyên ấy, không có hỷ và hân hoan. Do vậy, nói về tín với người không có lòng tin là ác thuyết. Và này các Tỷ-kheo, tại sao nói về giới với người ác giới là ác thuyết?
TTC 4Người ác giới, này các Tỷ-kheo, khi được nói về giới liền tức tối, phẫn nộ…Vì sao? Vì rằng vị ấy không thấy tự mình có đầy đủ giới, do nhân duyên ấy, không có hỷ và hân hoan. Do vậy, nói về giới với người ác giới là ác thuyết. Và này các Tỷ-kheo, tại sao nói về nghe nhiều với người nghe ít là ác thuyết?
TTC 5Người nghe ít, này các Tỷ-kheo, khi được nói đến nghe nhiều liền tức tối, phẫn nộ…Vì sao? Vì rằng vị ấy không thấy tự mình có đầy đủ nghe nhiều, do nhân duyên ấy, không có hỷ và hân hoan. Do vậy, nói về nghe nhiều với người nghe ít là ác thuyết. Và này các Tỷ-kheo, tại sao nói về bố thí với người xan tham là ác thuyết?
TTC 6Người xan tham, này các Tỷ-kheo, khi được nói về bố thí liền tức tối, phẫn nộ…Vì sao? Vì rằng vị ấy không thấy tự mình có đầy đủ bố thí, do nhân duyên ấy, không có hỷ và hân hoan. Do vậy, nói về bố thí với người xan tham là ác thuyết. Và này các Tỷ-kheo, tại sao nói về tuệ với người ác tuệ là ác thuyết?
TTC 7Người ác tuệ, này các Tỷ-kheo, khi được nói đến trí tuệ liền tức tối, phẫn nộ…Vì sao? Vì rằng vị ấy không thấy tự mình có đầy đủ trí tuệ, do nhân duyên ấy, không có hỷ và hân hoan. Do vậy, nói về trí tuệ với người ác tuệ là ác thuyết.
Lời nói của năm hạng người này là ác thuyết, khi có sự đối chứng giữa người và người.
TTC 8Lời nói của năm hạng người này là thiện thuyết, khi có sự đối chứng giữa người và người. Thế nào là năm?
TTC 9Thuyết về tín cho người có lòng tin, này các Tỷ-kheo, là thiện thuyết; thuyết về giới cho người giữ giới là thiện thuyết; thuyết về nghe nhiều cho người nghe nhiều là thiện thuyết; thuyết về bố thí cho người bố thí là thiện thuyết; thuyết về trí tuệ cho người trí tuệ là thiện thuyết. Và này các Tỷ-kheo, tại sao thuyết về lòng tin cho người có lòng tin là thiện thuyết?
TTC 10Người có lòng tin, này các Tỷ-kheo, khi được nói đến lòng tin thì không tức tối, không phẫn nộ, không hiềm khích, không mất bình tĩnh, không biểu lộ phẫn nộ, sân hận, phiền muộn. Vì sao? Vì rằng vị ấy thấy tự mình có đầy đủ lòng tin, do nhân duyên ấy, có hỷ và hân hoan. Do vậy, nói về tín với người có lòng tin là thiện thuyết. Và này các Tỷ-kheo, tại sao nói về giới cho người giữ giới là thiện thuyết?
TTC 11Người giữ giới, này các Tỷ-kheo, khi được nói đến về giới thì không tức tối, không phẫn nộ, không hiềm khích, không mất bình tĩnh, không biểu lộ phẫn nộ, không sân hận, không phiền muộn. Vì sao? Vì rằng vị ấy thấy tự mình có đầy đủ giới, do nhân duyên ấy, có hỷ và hân hoan. Do vậy, nói về giới với người có giữ giới là thiện thuyết. Và này các Tỷ-kheo, tại sao nói về nghe nhiều cho người nghe nhiều là thiện thuyết?
TTC 12Người nghe nhiều, này các Tỷ-kheo, khi được nói đến nghe nhiều thì không tức tối, không phẫn nộ, không hiềm khích…không phiền muộn. Vì sao? Vì rằng vị ấy thấy tự mình có nghe nhiều, do nhân duyên ấy, có hỷ và hân hoan. Do vậy, nói về nghe nhiều với người có nghe nhiều là thiện thuyết. Và này các Tỷ-kheo, tại sao nói về bố thí cho người bố thí là thiện thuyết?
TTC 13Người bố thí, này các Tỷ-kheo, khi được nói đến bố thí thì không tức tối, không phẫn nộ, không hiềm khích…không phiền muộn. Vì sao? Vì rằng vị ấy thấy tự mình có bố thí, do nhân duyên ấy, có hỷ và hân hoan. Do vậy, nói về bố thí với người có bố thí là thiện thuyết. Và này các Tỷ-kheo, tại sao nói về trí tuệ cho người có trí tuệ là thiện thuyết?
TTC 14Người trí tuệ, này các Tỷ-kheo, khi được nói đến trí tuệ thì không tức tối…không phiền muộn. Vì sao? Vì rằng vị ấy thấy tự mình có trí tuệ, do nhân duyên ấy, có hỷ và hân hoan. Do vậy, nói về trí tuệ với người có trí tuệ là thiện thuyết.
Lời thuyết của năm hạng người này, này các Tỷ-kheo, là thiện thuyết khi có sự đối chứng giữa người và người.
“Pañcannaṁ, bhikkhave, puggalānaṁ kathā dukkathā puggale puggalaṁ upanidhāya.
Katamesaṁ pañcannaṁ?
Assaddhassa, bhikkhave, saddhākathā dukkathā;
dussīlassa sīlakathā dukkathā;
appassutassa bāhusaccakathā dukkathā;
maccharissa cāgakathā dukkathā;
duppaññassa paññākathā dukkathā.
Kasmā ca, bhikkhave, assaddhassa saddhākathā dukkathā?
Assaddho, bhikkhave, saddhākathāya kacchamānāya abhisajjati kuppati byāpajjati patitthīyati kopañca dosañca appaccayañca pātukaroti.
Taṁ kissa hetu?
Tañhi so, bhikkhave, saddhāsampadaṁ attani na samanupassati, na ca labhati tatonidānaṁ pītipāmojjaṁ.
Tasmā assaddhassa saddhākathā dukkathā.
Kasmā ca, bhikkhave, dussīlassa sīlakathā dukkathā?
Dussīlo, bhikkhave, sīlakathāya kacchamānāya abhisajjati kuppati byāpajjati patitthīyati kopañca dosañca appaccayañca pātukaroti.
Taṁ kissa hetu?
Tañhi so, bhikkhave, sīlasampadaṁ attani na samanupassati na ca labhati tatonidānaṁ pītipāmojjaṁ.
Tasmā dussīlassa sīlakathā dukkathā.
Kasmā ca, bhikkhave, appassutassa bāhusaccakathā dukkathā?
Appassuto, bhikkhave, bāhusaccakathāya kacchamānāya abhisajjati kuppati byāpajjati patitthīyati kopañca dosañca appaccayañca pātukaroti.
Taṁ kissa hetu?
Tañhi so, bhikkhave, sutasampadaṁ attani na samanupassati, na ca labhati tatonidānaṁ pītipāmojjaṁ.
Tasmā appassutassa bāhusaccakathā dukkathā.
Kasmā ca, bhikkhave, maccharissa cāgakathā dukkathā?
Maccharī, bhikkhave, cāgakathāya kacchamānāya abhisajjati kuppati byāpajjati patitthīyati kopañca dosañca appaccayañca pātukaroti.
Taṁ kissa hetu?
Tañhi so, bhikkhave, cāgasampadaṁ attani na samanupassati na ca labhati tatonidānaṁ pītipāmojjaṁ.
Tasmā maccharissa cāgakathā dukkathā.
Kasmā ca, bhikkhave, duppaññassa paññākathā dukkathā?
Duppañño, bhikkhave, paññākathāya kacchamānāya abhisajjati kuppati byāpajjati patitthīyati kopañca dosañca appaccayañca pātukaroti.
Taṁ kissa hetu?
Tañhi so, bhikkhave, paññāsampadaṁ attani na samanupassati, na ca labhati tatonidānaṁ pītipāmojjaṁ.
Tasmā duppaññassa paññākathā dukkathā.
Imesaṁ kho, bhikkhave, pañcannaṁ puggalānaṁ kathā dukkathā puggale puggalaṁ upanidhāya.
Pañcannaṁ, bhikkhave, puggalānaṁ kathā sukathā puggale puggalaṁ upanidhāya.
Katamesaṁ pañcannaṁ?
Saddhassa, bhikkhave, saddhākathā sukathā;
sīlavato sīlakathā sukathā;
bahussutassa bāhusaccakathā sukathā;
cāgavato cāgakathā sukathā;
paññavato paññākathā sukathā.
Kasmā ca, bhikkhave, saddhassa saddhākathā sukathā?
Saddho, bhikkhave, saddhākathāya kacchamānāya nābhisajjati na kuppati na byāpajjati na patitthīyati na kopañca dosañca appaccayañca pātukaroti.
Taṁ kissa hetu?
Tañhi so, bhikkhave, saddhāsampadaṁ attani samanupassati labhati ca tatonidānaṁ pītipāmojjaṁ.
Tasmā saddhassa saddhākathā sukathā.
Kasmā ca, bhikkhave, sīlavato sīlakathā sukathā?
Sīlavā, bhikkhave, sīlakathāya kacchamānāya nābhisajjati na kuppati na byāpajjati na patitthīyati na kopañca dosañca appaccayañca pātukaroti.
Taṁ kissa hetu?
Tañhi so, bhikkhave, sīlasampadaṁ attani samanupassati, labhati ca tatonidānaṁ pītipāmojjaṁ.
Tasmā sīlavato sīlakathā sukathā.
Kasmā ca, bhikkhave, bahussutassa bāhusaccakathā sukathā?
Bahussuto, bhikkhave, bāhusaccakathāya kacchamānāya nābhisajjati na kuppati na byāpajjati na patitthīyati na kopañca dosañca appaccayañca pātukaroti.
Taṁ kissa hetu?
Tañhi so, bhikkhave, sutasampadaṁ attani samanupassati, labhati ca tatonidānaṁ pītipāmojjaṁ.
Tasmā bahussutassa bāhusaccakathā sukathā.
Kasmā ca, bhikkhave, cāgavato cāgakathā sukathā?
Cāgavā, bhikkhave, cāgakathāya kacchamānāya nābhisajjati na kuppati na byāpajjati na patitthīyati na kopañca dosañca appaccayañca pātukaroti.
Taṁ kissa hetu?
Tañhi so, bhikkhave, cāgasampadaṁ attani samanupassati, labhati ca tatonidānaṁ pītipāmojjaṁ.
Tasmā cāgavato cāgakathā sukathā.
Kasmā ca, bhikkhave, paññavato paññākathā sukathā?
Paññavā, bhikkhave, paññākathāya kacchamānāya nābhisajjati na kuppati na byāpajjati na patitthīyati na kopañca dosañca appaccayañca pātukaroti.
Taṁ kissa hetu?
Tañhi so, bhikkhave, paññāsampadaṁ attani samanupassati labhati ca tatonidānaṁ pītipāmojjaṁ.
Tasmā paññavato paññākathā sukathā.
Imesaṁ kho, bhikkhave, pañcannaṁ puggalānaṁ kathā sukathā puggale puggalaṁ upanidhāyā”ti.
Sattamaṁ.
“Mendicants, it is inappropriate to speak to five individuals by comparing that individual with someone else.
What five?
It’s inappropriate to talk to an unfaithful person about faith.
It’s inappropriate to talk to an unethical person about ethics.
It’s inappropriate to talk to an unlearned person about learning.
It’s inappropriate to talk to a stingy person about generosity.
It’s inappropriate to talk to a witless person about wisdom.
And why is it inappropriate to talk to an unfaithful person about faith?
When an unfaithful person is spoken to about faith they lose their temper, becoming annoyed, hostile, and hard-hearted, and displaying annoyance, hate, and bitterness.
Why is that?
Not seeing that faith in themselves, they don’t get the rapture and joy that faith brings.
That’s why it’s inappropriate to talk to an unfaithful person about faith.
And why is it inappropriate to talk to an unethical person about ethics?
When an unethical person is spoken to about ethics they lose their temper …
Why is that?
Not seeing that ethical conduct in themselves, they don’t get the rapture and joy that ethical conduct brings.
That’s why it’s inappropriate to talk to an unethical person about ethics.
And why is it inappropriate to talk to an unlearned person about learning?
When an unlearned person is spoken to about learning they lose their temper …
Why is that?
Not seeing that learning in themselves, they don’t get the rapture and joy that learning brings.
That’s why it’s inappropriate to talk to an unlearned person about learning.
And why is it inappropriate to talk to a stingy person about generosity?
When a stingy person is spoken to about generosity they lose their temper …
Why is that?
Not seeing that generosity in themselves, they don’t get the rapture and joy that generosity brings.
That’s why it’s inappropriate to talk to a stingy person about generosity.
And why is it inappropriate to talk to a witless person about wisdom?
When a witless person is spoken to about wisdom they lose their temper, becoming annoyed, hostile, and hard-hearted, and displaying annoyance, hate, and bitterness.
Why is that?
Not seeing that wisdom in themselves, they don’t get the rapture and joy that wisdom brings.
That’s why it’s inappropriate to talk to a witless person about wisdom.
It is inappropriate to speak to these five individuals by comparing that individual with someone else.
It is appropriate to speak to five individuals by comparing that individual with someone else.
What five?
It’s appropriate to talk to a faithful person about faith.
It’s appropriate to talk to an ethical person about ethical conduct.
It’s appropriate to talk to a learned person about learning.
It’s appropriate to talk to a generous person about generosity.
It’s appropriate to talk to a wise person about wisdom.
And why is it appropriate to talk to a faithful person about faith?
When a faithful person is spoken to about faith they don’t lose their temper, they don’t get annoyed, hostile, and hard-hearted, or display annoyance, hate, and bitterness.
Why is that?
Seeing that faith in themselves, they get the rapture and joy that faith brings.
That’s why it’s appropriate to talk to a faithful person about faith.
And why is it appropriate to talk to an ethical person about ethical conduct?
When an ethical person is spoken to about ethical conduct they don’t lose their temper …
Why is that?
Seeing that ethical conduct in themselves, they get the rapture and joy that ethical conduct brings.
That’s why it’s appropriate to talk to an ethical person about ethical conduct.
And why is it appropriate to talk to a learned person about learning?
When a learned person is spoken to about learning they don’t lose their temper …
Why is that?
Seeing that learning in themselves, they get the rapture and joy that learning brings.
That’s why it’s appropriate to talk to a learned person about learning.
And why is it appropriate to talk to a generous person about generosity?
When a generous person is spoken to about generosity they don’t lose their temper …
Why is that?
Seeing that generosity in themselves, they get the rapture and joy that generosity brings.
That’s why it’s appropriate to talk to a generous person about generosity.
And why is it appropriate to talk to a wise person about wisdom?
When a wise person is spoken to about wisdom they don’t lose their temper, they don’t get annoyed, hostile, and hard-hearted, or display annoyance, hate, and bitterness.
Why is that?
Seeing that wisdom in themselves, they get the rapture and joy that wisdom brings.
That’s why it’s appropriate to talk to a wise person about wisdom.
It is appropriate to speak to these five individuals by comparing that individual with someone else.”
TTC 1—Lời nói của năm hạng người, này các Tỷ-kheo, là ác thuyết, khi có sự đối chứng giữa người và người. Thế nào là năm?
TTC 2Nói về tín với người không tin, này các Tỷ-kheo, là ác thuyết; nói về giới với người ác giới là ác thuyết; nói về nghe nhiều với người nghe ít là ác thuyết; nói về bố thí với người xan tham là ác thuyết; nói về trí tuệ với người ác tuệ là ác thuyết. Và này các Tỷ-kheo, tại sao nói về tín với người không tin là ác thuyết?
TTC 3Người không tin, này các Tỷ-kheo, khi được nói về lòng tin liền tức tối, phẫn nộ, hiềm khích, mất bình tĩnh, biểu lộ phẫn nộ, sân hận, phiền muộn. Vì sao? Vì rằng vị ấy không thấy tự mình có đầy đủ lòng tin, do nhân duyên ấy, không có hỷ và hân hoan. Do vậy, nói về tín với người không có lòng tin là ác thuyết. Và này các Tỷ-kheo, tại sao nói về giới với người ác giới là ác thuyết?
TTC 4Người ác giới, này các Tỷ-kheo, khi được nói về giới liền tức tối, phẫn nộ…Vì sao? Vì rằng vị ấy không thấy tự mình có đầy đủ giới, do nhân duyên ấy, không có hỷ và hân hoan. Do vậy, nói về giới với người ác giới là ác thuyết. Và này các Tỷ-kheo, tại sao nói về nghe nhiều với người nghe ít là ác thuyết?
TTC 5Người nghe ít, này các Tỷ-kheo, khi được nói đến nghe nhiều liền tức tối, phẫn nộ…Vì sao? Vì rằng vị ấy không thấy tự mình có đầy đủ nghe nhiều, do nhân duyên ấy, không có hỷ và hân hoan. Do vậy, nói về nghe nhiều với người nghe ít là ác thuyết. Và này các Tỷ-kheo, tại sao nói về bố thí với người xan tham là ác thuyết?
TTC 6Người xan tham, này các Tỷ-kheo, khi được nói về bố thí liền tức tối, phẫn nộ…Vì sao? Vì rằng vị ấy không thấy tự mình có đầy đủ bố thí, do nhân duyên ấy, không có hỷ và hân hoan. Do vậy, nói về bố thí với người xan tham là ác thuyết. Và này các Tỷ-kheo, tại sao nói về tuệ với người ác tuệ là ác thuyết?
TTC 7Người ác tuệ, này các Tỷ-kheo, khi được nói đến trí tuệ liền tức tối, phẫn nộ…Vì sao? Vì rằng vị ấy không thấy tự mình có đầy đủ trí tuệ, do nhân duyên ấy, không có hỷ và hân hoan. Do vậy, nói về trí tuệ với người ác tuệ là ác thuyết.
Lời nói của năm hạng người này là ác thuyết, khi có sự đối chứng giữa người và người.
TTC 8Lời nói của năm hạng người này là thiện thuyết, khi có sự đối chứng giữa người và người. Thế nào là năm?
TTC 9Thuyết về tín cho người có lòng tin, này các Tỷ-kheo, là thiện thuyết; thuyết về giới cho người giữ giới là thiện thuyết; thuyết về nghe nhiều cho người nghe nhiều là thiện thuyết; thuyết về bố thí cho người bố thí là thiện thuyết; thuyết về trí tuệ cho người trí tuệ là thiện thuyết. Và này các Tỷ-kheo, tại sao thuyết về lòng tin cho người có lòng tin là thiện thuyết?
TTC 10Người có lòng tin, này các Tỷ-kheo, khi được nói đến lòng tin thì không tức tối, không phẫn nộ, không hiềm khích, không mất bình tĩnh, không biểu lộ phẫn nộ, sân hận, phiền muộn. Vì sao? Vì rằng vị ấy thấy tự mình có đầy đủ lòng tin, do nhân duyên ấy, có hỷ và hân hoan. Do vậy, nói về tín với người có lòng tin là thiện thuyết. Và này các Tỷ-kheo, tại sao nói về giới cho người giữ giới là thiện thuyết?
TTC 11Người giữ giới, này các Tỷ-kheo, khi được nói đến về giới thì không tức tối, không phẫn nộ, không hiềm khích, không mất bình tĩnh, không biểu lộ phẫn nộ, không sân hận, không phiền muộn. Vì sao? Vì rằng vị ấy thấy tự mình có đầy đủ giới, do nhân duyên ấy, có hỷ và hân hoan. Do vậy, nói về giới với người có giữ giới là thiện thuyết. Và này các Tỷ-kheo, tại sao nói về nghe nhiều cho người nghe nhiều là thiện thuyết?
TTC 12Người nghe nhiều, này các Tỷ-kheo, khi được nói đến nghe nhiều thì không tức tối, không phẫn nộ, không hiềm khích…không phiền muộn. Vì sao? Vì rằng vị ấy thấy tự mình có nghe nhiều, do nhân duyên ấy, có hỷ và hân hoan. Do vậy, nói về nghe nhiều với người có nghe nhiều là thiện thuyết. Và này các Tỷ-kheo, tại sao nói về bố thí cho người bố thí là thiện thuyết?
TTC 13Người bố thí, này các Tỷ-kheo, khi được nói đến bố thí thì không tức tối, không phẫn nộ, không hiềm khích…không phiền muộn. Vì sao? Vì rằng vị ấy thấy tự mình có bố thí, do nhân duyên ấy, có hỷ và hân hoan. Do vậy, nói về bố thí với người có bố thí là thiện thuyết. Và này các Tỷ-kheo, tại sao nói về trí tuệ cho người có trí tuệ là thiện thuyết?
TTC 14Người trí tuệ, này các Tỷ-kheo, khi được nói đến trí tuệ thì không tức tối…không phiền muộn. Vì sao? Vì rằng vị ấy thấy tự mình có trí tuệ, do nhân duyên ấy, có hỷ và hân hoan. Do vậy, nói về trí tuệ với người có trí tuệ là thiện thuyết.
Lời thuyết của năm hạng người này, này các Tỷ-kheo, là thiện thuyết khi có sự đối chứng giữa người và người.
“Pañcannaṁ, bhikkhave, puggalānaṁ kathā dukkathā puggale puggalaṁ upanidhāya.
Katamesaṁ pañcannaṁ?
Assaddhassa, bhikkhave, saddhākathā dukkathā;
dussīlassa sīlakathā dukkathā;
appassutassa bāhusaccakathā dukkathā;
maccharissa cāgakathā dukkathā;
duppaññassa paññākathā dukkathā.
Kasmā ca, bhikkhave, assaddhassa saddhākathā dukkathā?
Assaddho, bhikkhave, saddhākathāya kacchamānāya abhisajjati kuppati byāpajjati patitthīyati kopañca dosañca appaccayañca pātukaroti.
Taṁ kissa hetu?
Tañhi so, bhikkhave, saddhāsampadaṁ attani na samanupassati, na ca labhati tatonidānaṁ pītipāmojjaṁ.
Tasmā assaddhassa saddhākathā dukkathā.
Kasmā ca, bhikkhave, dussīlassa sīlakathā dukkathā?
Dussīlo, bhikkhave, sīlakathāya kacchamānāya abhisajjati kuppati byāpajjati patitthīyati kopañca dosañca appaccayañca pātukaroti.
Taṁ kissa hetu?
Tañhi so, bhikkhave, sīlasampadaṁ attani na samanupassati na ca labhati tatonidānaṁ pītipāmojjaṁ.
Tasmā dussīlassa sīlakathā dukkathā.
Kasmā ca, bhikkhave, appassutassa bāhusaccakathā dukkathā?
Appassuto, bhikkhave, bāhusaccakathāya kacchamānāya abhisajjati kuppati byāpajjati patitthīyati kopañca dosañca appaccayañca pātukaroti.
Taṁ kissa hetu?
Tañhi so, bhikkhave, sutasampadaṁ attani na samanupassati, na ca labhati tatonidānaṁ pītipāmojjaṁ.
Tasmā appassutassa bāhusaccakathā dukkathā.
Kasmā ca, bhikkhave, maccharissa cāgakathā dukkathā?
Maccharī, bhikkhave, cāgakathāya kacchamānāya abhisajjati kuppati byāpajjati patitthīyati kopañca dosañca appaccayañca pātukaroti.
Taṁ kissa hetu?
Tañhi so, bhikkhave, cāgasampadaṁ attani na samanupassati na ca labhati tatonidānaṁ pītipāmojjaṁ.
Tasmā maccharissa cāgakathā dukkathā.
Kasmā ca, bhikkhave, duppaññassa paññākathā dukkathā?
Duppañño, bhikkhave, paññākathāya kacchamānāya abhisajjati kuppati byāpajjati patitthīyati kopañca dosañca appaccayañca pātukaroti.
Taṁ kissa hetu?
Tañhi so, bhikkhave, paññāsampadaṁ attani na samanupassati, na ca labhati tatonidānaṁ pītipāmojjaṁ.
Tasmā duppaññassa paññākathā dukkathā.
Imesaṁ kho, bhikkhave, pañcannaṁ puggalānaṁ kathā dukkathā puggale puggalaṁ upanidhāya.
Pañcannaṁ, bhikkhave, puggalānaṁ kathā sukathā puggale puggalaṁ upanidhāya.
Katamesaṁ pañcannaṁ?
Saddhassa, bhikkhave, saddhākathā sukathā;
sīlavato sīlakathā sukathā;
bahussutassa bāhusaccakathā sukathā;
cāgavato cāgakathā sukathā;
paññavato paññākathā sukathā.
Kasmā ca, bhikkhave, saddhassa saddhākathā sukathā?
Saddho, bhikkhave, saddhākathāya kacchamānāya nābhisajjati na kuppati na byāpajjati na patitthīyati na kopañca dosañca appaccayañca pātukaroti.
Taṁ kissa hetu?
Tañhi so, bhikkhave, saddhāsampadaṁ attani samanupassati labhati ca tatonidānaṁ pītipāmojjaṁ.
Tasmā saddhassa saddhākathā sukathā.
Kasmā ca, bhikkhave, sīlavato sīlakathā sukathā?
Sīlavā, bhikkhave, sīlakathāya kacchamānāya nābhisajjati na kuppati na byāpajjati na patitthīyati na kopañca dosañca appaccayañca pātukaroti.
Taṁ kissa hetu?
Tañhi so, bhikkhave, sīlasampadaṁ attani samanupassati, labhati ca tatonidānaṁ pītipāmojjaṁ.
Tasmā sīlavato sīlakathā sukathā.
Kasmā ca, bhikkhave, bahussutassa bāhusaccakathā sukathā?
Bahussuto, bhikkhave, bāhusaccakathāya kacchamānāya nābhisajjati na kuppati na byāpajjati na patitthīyati na kopañca dosañca appaccayañca pātukaroti.
Taṁ kissa hetu?
Tañhi so, bhikkhave, sutasampadaṁ attani samanupassati, labhati ca tatonidānaṁ pītipāmojjaṁ.
Tasmā bahussutassa bāhusaccakathā sukathā.
Kasmā ca, bhikkhave, cāgavato cāgakathā sukathā?
Cāgavā, bhikkhave, cāgakathāya kacchamānāya nābhisajjati na kuppati na byāpajjati na patitthīyati na kopañca dosañca appaccayañca pātukaroti.
Taṁ kissa hetu?
Tañhi so, bhikkhave, cāgasampadaṁ attani samanupassati, labhati ca tatonidānaṁ pītipāmojjaṁ.
Tasmā cāgavato cāgakathā sukathā.
Kasmā ca, bhikkhave, paññavato paññākathā sukathā?
Paññavā, bhikkhave, paññākathāya kacchamānāya nābhisajjati na kuppati na byāpajjati na patitthīyati na kopañca dosañca appaccayañca pātukaroti.
Taṁ kissa hetu?
Tañhi so, bhikkhave, paññāsampadaṁ attani samanupassati labhati ca tatonidānaṁ pītipāmojjaṁ.
Tasmā paññavato paññākathā sukathā.
Imesaṁ kho, bhikkhave, pañcannaṁ puggalānaṁ kathā sukathā puggale puggalaṁ upanidhāyā”ti.
Sattamaṁ.