TTC 1—Thành tựu bảy pháp, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không bao lâu, với thắng trí tự mình chứng ngộ, chứng đạt và an trú bốn vô ngại giải. Thế nào là bảy?
TTC 2Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi nào tâm thụ động, như thật rõ biết: “Ðây là tâm ta thụ động”; khi nào tâm muội lược, như thật rõ biết: “Nội tâm ta muội lược”; khi nào tâm tán loạn, hướng ngoại”. Như thật rõ biết tâm ta tán loạn hướng ngoại. Vị ấy nhận thức được các thọ khởi lên, nhận thức được các thọ an trú, nhận thức được các thọ đi đến tiêu diệt; nhận thức được các tưởng khởi lên, nhận thức được các tưởng an trú, nhận thức được các tưởng tiêu diệt; nhận thức được các tầm khởi lên, nhận thức được các tầm an trú, nhận thức được các tầm tiêu diệt. Ðối với các pháp thích hợp hay không thích hợp, đối với các pháp hạ liệt hay thù thắng, đối với các pháp dự phần đen hay dự phần trắng, vị ấy khéo nắm giữ tướng, khéo tác ý, khéo thọ trì, khéo thể nhập với trí tuệ.
Thành tựu bảy pháp này, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo không bao lâu, với thắng trí tự mình chứng ngộ, chứng đạt và an trú bốn vô ngại giải.
TTC 3Thành tựu bảy pháp này, này các Tỷ-kheo, Sàriputta với thắng trí tự mình chứng ngộ, chứng đạt và an trú bốn vô ngại giải. Thế nào là bảy?
TTC 4Ở đây, này các Tỷ-kheo, Sàriputta khi nào tâm thụ động, như thật rõ biết: “Ðây là tâm ta thụ động”; khi nào tâm muội lược, như thật rõ biết: “Nội tâm ta muội lược”;… (như trên, số 2,… chứng đạt và an trú bốn vô ngại giải).
“Sattahi, bhikkhave, dhammehi samannāgato bhikkhu nacirasseva catasso paṭisambhidā sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja vihareyya.
Katamehi sattahi?
Idha, bhikkhave, bhikkhu ‘idaṁ me cetaso līnattan’ti yathābhūtaṁ pajānāti;
ajjhattaṁ saṅkhittaṁ vā cittaṁ ‘ajjhattaṁ me saṅkhittaṁ cittan’ti yathābhūtaṁ pajānāti;
bahiddhā vikkhittaṁ vā cittaṁ ‘bahiddhā me vikkhittaṁ cittan’ti yathābhūtaṁ pajānāti;
tassa viditā vedanā uppajjanti, viditā upaṭṭhahanti, viditā abbhatthaṁ gacchanti;
viditā saññā uppajjanti, viditā upaṭṭhahanti, viditā abbhatthaṁ gacchanti;
viditā vitakkā uppajjanti, viditā upaṭṭhahanti, viditā abbhatthaṁ gacchanti;
sappāyāsappāyesu kho panassa dhammesu hīnappaṇītesu kaṇhasukkasappaṭibhāgesu nimittaṁ suggahitaṁ hoti sumanasikataṁ sūpadhāritaṁ suppaṭividdhaṁ paññāya.
Imehi kho, bhikkhave, sattahi dhammehi samannāgato bhikkhu nacirasseva catasso paṭisambhidā sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja vihareyyā”ti.
Sattamaṁ.
“Mendicants, a mendicant with seven qualities will soon realize the four kinds of textual analysis and live having achieved them with their own insight.
What seven?
It’s when a mendicant truly understands: ‘This is mental sluggishness’.
They truly understand internally constricted mind as ‘internally constricted mind’.
They truly understand externally scattered mind as ‘externally scattered mind’.
They know feelings as they arise, as they remain, and as they go away.
They know perceptions as they arise, as they remain, and as they go away.
They know thoughts as they arise, as they remain, and as they go away.
The patterns of qualities—suitable or unsuitable, inferior or superior, or those on the side of dark or bright—are properly grasped, focused on, borne in mind, and penetrated with wisdom.
A mendicant with these seven qualities will soon realize the four kinds of textual analysis and live having achieved them with their own insight.”
TTC 1—Thành tựu bảy pháp, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không bao lâu, với thắng trí tự mình chứng ngộ, chứng đạt và an trú bốn vô ngại giải. Thế nào là bảy?
TTC 2Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi nào tâm thụ động, như thật rõ biết: “Ðây là tâm ta thụ động”; khi nào tâm muội lược, như thật rõ biết: “Nội tâm ta muội lược”; khi nào tâm tán loạn, hướng ngoại”. Như thật rõ biết tâm ta tán loạn hướng ngoại. Vị ấy nhận thức được các thọ khởi lên, nhận thức được các thọ an trú, nhận thức được các thọ đi đến tiêu diệt; nhận thức được các tưởng khởi lên, nhận thức được các tưởng an trú, nhận thức được các tưởng tiêu diệt; nhận thức được các tầm khởi lên, nhận thức được các tầm an trú, nhận thức được các tầm tiêu diệt. Ðối với các pháp thích hợp hay không thích hợp, đối với các pháp hạ liệt hay thù thắng, đối với các pháp dự phần đen hay dự phần trắng, vị ấy khéo nắm giữ tướng, khéo tác ý, khéo thọ trì, khéo thể nhập với trí tuệ.
Thành tựu bảy pháp này, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo không bao lâu, với thắng trí tự mình chứng ngộ, chứng đạt và an trú bốn vô ngại giải.
TTC 3Thành tựu bảy pháp này, này các Tỷ-kheo, Sàriputta với thắng trí tự mình chứng ngộ, chứng đạt và an trú bốn vô ngại giải. Thế nào là bảy?
TTC 4Ở đây, này các Tỷ-kheo, Sàriputta khi nào tâm thụ động, như thật rõ biết: “Ðây là tâm ta thụ động”; khi nào tâm muội lược, như thật rõ biết: “Nội tâm ta muội lược”;… (như trên, số 2,… chứng đạt và an trú bốn vô ngại giải).
“Sattahi, bhikkhave, dhammehi samannāgato bhikkhu nacirasseva catasso paṭisambhidā sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja vihareyya.
Katamehi sattahi?
Idha, bhikkhave, bhikkhu ‘idaṁ me cetaso līnattan’ti yathābhūtaṁ pajānāti;
ajjhattaṁ saṅkhittaṁ vā cittaṁ ‘ajjhattaṁ me saṅkhittaṁ cittan’ti yathābhūtaṁ pajānāti;
bahiddhā vikkhittaṁ vā cittaṁ ‘bahiddhā me vikkhittaṁ cittan’ti yathābhūtaṁ pajānāti;
tassa viditā vedanā uppajjanti, viditā upaṭṭhahanti, viditā abbhatthaṁ gacchanti;
viditā saññā uppajjanti, viditā upaṭṭhahanti, viditā abbhatthaṁ gacchanti;
viditā vitakkā uppajjanti, viditā upaṭṭhahanti, viditā abbhatthaṁ gacchanti;
sappāyāsappāyesu kho panassa dhammesu hīnappaṇītesu kaṇhasukkasappaṭibhāgesu nimittaṁ suggahitaṁ hoti sumanasikataṁ sūpadhāritaṁ suppaṭividdhaṁ paññāya.
Imehi kho, bhikkhave, sattahi dhammehi samannāgato bhikkhu nacirasseva catasso paṭisambhidā sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja vihareyyā”ti.
Sattamaṁ.