TTC 1Tại đấy, Tôn giả Sàriputta gọi các Tỷ-kheo: “Này các Hiền giả Tỷ-kheo”.
—Thưa Hiền giả.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Sàriputta. Tôn giả Sàriputta nói như sau:
TTC 2—Này các Hiền giả, có tám hạng người này có mặt, hiện hữu ở đời. Thế nào là tám?
TTC 3Ở đây, này các Hiền giả, Tỷ-kheo trong khi sống nhàn tịnh, không có tinh tấn, khởi lên ước muốn có lợi dưỡng. Vị ấy hăng hái, phấn chấn, tinh tấn để được lợi dưỡng. Dầu cho vị ấy hăng hái, phấn chấn, tinh tấn để được lợi dưỡng, nhưng lợi dưỡng không đến. Do không được lợi dưỡng, vị ấy sầu muộn, than van, khóc lóc, đập ngực, rơi vào bất tỉnh. Này các Hiền giả, vị ấy được gọi là Tỷ-kheo sống ham muốn lợi dưỡng, hăng hái, phấn chấn, tinh tấn để được lợi dưỡng; không được lợi dưỡng, vị ấy sầu muộn, than khóc, bỏ rơi diệu pháp.
TTC 4Ở đây, này các Hiền giả, có Tỷ-kheo trong khi sống nhàn tịnh, không có tinh tấn, khởi lên ước muốn có lợi dưỡng. Vị ấy hăng hái, phấn chấn, tinh tấn để được lợi dưỡng. Do hăng hái, phấn chấn, tinh tấn để được lợi dưỡng, lợi dưỡng khởi lên. Với lợi dưỡng ấy, vị ấy đắm say, phóng dật, rơi vào tình trạng đắm say, phóng dật. Ðây gọi là Tỷ-kheo sống ham muốn lợi dưỡng, hăng hái, phấn chấn, tinh tấn để được lợi dưỡng; được lợi dưỡng, trở thành đắm say, phóng dật và bỏ rơi diệu pháp.
TTC 5Ở đây, này các Hiền giả, có Tỷ-kheo trong khi sống nhàn tịnh không có tinh tấn, khởi lên ước muốn có lợi dưỡng. Vị ấy không hăng hái, không phấn chấn, không tinh tấn để được lợi dưỡng. Do vị ấy không hăng hái, không phấn chấn, không tinh tấn, lợi dưỡng không khởi lên. Vị ấy do không được lợi dưỡng, nên sầu muộn, than van, khóc lóc, đập ngực, rơi vào bất tỉnh. Ðây gọi là Tỷ-kheo sống ham muốn lợi dưỡng, không hăng hái, không phấn chấn, không tinh tấn để được lợi dưỡng; không được lợi dưỡng, nên sầu muộn, than van và bỏ rơi diệu pháp.
TTC 6Ở đây, này các Hiền giả, có Tỷ-kheo trong khi sống nhàn tịnh, không có tinh tấn, khởi lên ước muốn có lợi dưỡng. Vị ấy không hăng hái, không phấn chấn, không tinh tấn để được lợi dưỡng. Dầu vị ấy không hăng hái, không phấn chấn, không tinh tấn để được lợi dưỡng, lợi dưỡng khởi lên. Với lợi dưỡng ấy, vị ấy đắm say phóng dật, rơi vào trạng thái đắm say, phóng dật. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là Tỷ-kheo sống ham muốn lợi dưỡng, không hăng hái, không phấn chấn, không tinh tấn để được lợi dưỡng; được lợi dưỡng, bị đắm say, bị phóng dật và bỏ rơi diệu pháp.
TTC 7Ở đây, này các Hiền giả, có Tỷ-kheo trong khi sống nhàn tịnh, không có tinh tấn, khởi lên ước muốn có lợi dưỡng. Vị ấy hăng hái, phấn chấn, tinh tấn để được lợi dưỡng. Dầu cho vị ấy hăng hái, phấn chấn, tinh tấn để được lợi dưỡng, lợi dưỡng không khởi lên. Vị ấy dầu không được lợi dưỡng, không sầu muộn, không than van, không khóc lóc, không đập ngực, không rơi vào bất tỉnh. Này các Hiền giả, đây gọi là Tỷ-kheo, sống ham muốn lợi dưỡng, hăng hái, phấn chấn, tinh tấn để được lợi dưỡng; không được lợi dưỡng, không sầu muộn, không than van, và không bỏ rơi diệu pháp.
TTC 8Ở đây, này các Hiền giả, có Tỷ-kheo trong khi sống nhàn tịnh, không có tinh tấn, khởi lên ước muốn có lợi dưỡng, vị ấy hăng hái, phấn chấn, tinh tấn để được lợi dưỡng. Do vị ấy hăng hái, phấn chấn, tinh tấn để được lợi dưỡng, lợi dưỡng khởi lên. Với lợi dưỡng ấy, vị ấy không đắm say, không phóng dật, vị ấy không có rơi vào đắm say, phóng dật. Này các Hiền giả, đây gọi là Tỷ-kheo sống ham muốn lợi dưỡng, hăng hái, phấn chấn, tinh tấn để được lợi dưỡng; được lợi dưỡng, không đắm say, không phóng dật, không bỏ rơi diệu pháp.
TTC 9Ở đây, này các Hiền giả, trong khi sống nhàn tịnh, không có tinh tấn, khởi lên ước muốn có lợi dưỡng. Vị ấy không hăng hái, không phấn chấn, không tinh tấn để được lợi dưỡng. Do vị ấy không hăng hái, không phấn chấn, không tinh tấn, lợi dưỡng không khởi lên. Vị ấy dầu không được lợi dưỡng, không sầu muộn, không than van, không khóc lóc, không đập ngực, không rơi vào bất tỉnh. Này các Hiền giả, đây gọi là Tỷ-kheo sống ước muốn lợi dưỡng, không hăng hái, không phấn chấn, không tinh tấn để được lợi dưỡng; không được lợi dưỡng, không sầu muộn, không than van, không bỏ rơi diệu pháp.
TTC 10Ở đây, này các Hiền giả, có Tỷ-kheo trong khi sống nhàn tịnh, không có tinh tấn, khởi lên ước muốn có lợi dưỡng. Vị ấy không hăng hái, không phấn chấn, không tinh tấn để được lợi dưỡng. Dầu cho vị ấy không hăng hái, không phấn chấn, không tinh tấn để được lợi dưỡng, lợi dưỡng khởi lên. Vị ấy, với lợi dưỡng ấy, không đắm say, không phóng dật, không rơi vào trạng thái đắm say phóng dật. Này các Hiền giả, đây gọi là Tỷ-kheo sống ham muốn lợi dưỡng, không hăng hái, không phấn chấn, không tinh tấn để được lợi dưỡng; được lợi dưỡng, không đắm say, không phóng dật, không bỏ rơi diệu pháp.
Này các Hiền giả, có tám hạng người này sống có mặt, hiện hữu ở đời.
Tatra kho āyasmā sāriputto bhikkhū āmantesi:
“āvuso bhikkhavo”ti.
“Āvuso”ti kho te bhikkhū āyasmato sāriputtassa paccassosuṁ.
Āyasmā sāriputto etadavoca:
“Aṭṭhime, āvuso, puggalā santo saṁvijjamānā lokasmiṁ.
Katame aṭṭha?
Idhāvuso, bhikkhuno pavivittassa viharato nirāyattavuttino icchā uppajjati lābhāya.
So uṭṭhahati, ghaṭati, vāyamati lābhāya.
Tassa uṭṭhahato, ghaṭato, vāyamato lābhāya lābho nuppajjati.
So tena alābhena socati kilamati paridevati, urattāḷiṁ kandati, sammohaṁ āpajjati.
Ayaṁ vuccatāvuso, ‘bhikkhu iccho viharati lābhāya, uṭṭhahati, ghaṭati, vāyamati lābhāya, na ca lābhī, socī ca paridevī ca, cuto ca saddhammā’.
Idha panāvuso, bhikkhuno pavivittassa viharato nirāyattavuttino icchā uppajjati lābhāya.
So uṭṭhahati, ghaṭati, vāyamati lābhāya.
Tassa uṭṭhahato ghaṭato vāyamato lābhāya lābho uppajjati.
So tena lābhena majjati pamajjati pamādamāpajjati.
Ayaṁ vuccatāvuso, ‘bhikkhu iccho viharati lābhāya, uṭṭhahati ghaṭati vāyamati lābhāya, lābhī ca, madī ca pamādī ca, cuto ca saddhammā’.
Idha panāvuso, bhikkhuno pavivittassa viharato nirāyattavuttino icchā uppajjati lābhāya.
So na uṭṭhahati, na ghaṭati, na vāyamati lābhāya.
Tassa anuṭṭhahato, aghaṭato, avāyamato lābhāya lābho nuppajjati.
So tena alābhena socati kilamati paridevati, urattāḷiṁ kandati, sammohaṁ āpajjati.
Ayaṁ vuccatāvuso, ‘bhikkhu iccho viharati lābhāya, na uṭṭhahati, na ghaṭati, na vāyamati lābhāya, na ca lābhī, socī ca paridevī ca, cuto ca saddhammā’.
Idha panāvuso, bhikkhuno pavivittassa viharato nirāyattavuttino icchā uppajjati lābhāya.
So na uṭṭhahati, na ghaṭati, na vāyamati lābhāya.
Tassa anuṭṭhahato, aghaṭato, avāyamato lābhāya lābho uppajjati.
So tena lābhena majjati pamajjati pamādamāpajjati.
Ayaṁ vuccatāvuso, ‘bhikkhu iccho viharati lābhāya, na uṭṭhahati na ghaṭati na vāyamati lābhāya, lābhī ca, madī ca pamādī ca, cuto ca saddhammā’.
Idha panāvuso, bhikkhuno pavivittassa viharato nirāyattavuttino icchā uppajjati lābhāya.
So uṭṭhahati, ghaṭati, vāyamati lābhāya.
Tassa uṭṭhahato, ghaṭato, vāyamato lābhāya, lābho nuppajjati.
So tena alābhena na socati na kilamati na paridevati, na urattāḷiṁ kandati, na sammohaṁ āpajjati.
Ayaṁ vuccatāvuso, ‘bhikkhu iccho viharati lābhāya, uṭṭhahati ghaṭati vāyamati lābhāya, na ca lābhī, na ca socī na ca paridevī, accuto ca saddhammā’.
Idha panāvuso, bhikkhuno pavivittassa viharato nirāyattavuttino icchā uppajjati lābhāya.
So uṭṭhahati, ghaṭati, vāyamati lābhāya.
Tassa uṭṭhahato, ghaṭato, vāyamato lābhāya, lābho uppajjati.
So tena lābhena na majjati na pamajjati na pamādamāpajjati.
Ayaṁ vuccatāvuso, ‘bhikkhu iccho viharati lābhāya, uṭṭhahati, ghaṭati, vāyamati lābhāya, lābhī ca, na ca madī na ca pamādī, accuto ca saddhammā’.
Idha panāvuso, bhikkhuno pavivittassa viharato nirāyattavuttino icchā uppajjati lābhāya.
So na uṭṭhahati, na ghaṭati, na vāyamati lābhāya.
Tassa anuṭṭhahato, aghaṭato, avāyamato lābhāya, lābho nuppajjati.
So tena alābhena na socati na kilamati na paridevati, na urattāḷiṁ kandati, na sammohaṁ āpajjati.
Ayaṁ vuccatāvuso, ‘bhikkhu iccho viharati lābhāya, na uṭṭhahati, na ghaṭati, na vāyamati lābhāya, na ca lābhī, na ca socī na ca paridevī, accuto ca saddhammā’.
Idha panāvuso, bhikkhuno pavivittassa viharato nirāyattavuttino icchā uppajjati lābhāya.
So na uṭṭhahati, na ghaṭati, na vāyamati lābhāya.
Tassa anuṭṭhahato, aghaṭato, avāyamato lābhāya, lābho uppajjati.
So tena lābhena na majjati na pamajjati na pamādamāpajjati.
Ayaṁ vuccatāvuso, ‘bhikkhu iccho viharati lābhāya, na uṭṭhahati, na ghaṭati, na vāyamati lābhāya, lābhī ca, na ca madī na ca pamādī, accuto ca saddhammā’.
Ime kho, āvuso, aṭṭha puggalā santo saṁvijjamānā lokasmin”ti.
Sattamaṁ.
There Sāriputta addressed the mendicants:
“Reverends, mendicants!”
“Reverend,” they replied.
Sāriputta said this:
“Reverends, these eight individuals are found in the world.
What eight?
First, when a mendicant stays secluded, living independently, a desire arises for material things.
They try hard, strive, and make an effort to get them.
But material things don’t come to them.
And so they sorrow and wail and lament, beating their breast and falling into confusion because they don’t get those material things.
This is called a mendicant who lives desiring material things. They try hard, strive, and make an effort to get them. But when they do not acquire material things, they sorrow and lament. They’ve fallen from the true teaching.
Next, when a mendicant stays secluded, living independently, a desire arises for material things.
They try hard, strive, and make an effort to get them.
And material things do come to them.
And so they become indulgent and fall into negligence regarding those material things.
This is called a mendicant who lives desiring material things. They try hard, strive, and make an effort to get them. And when they acquire material things, they become intoxicated and negligent. They’ve fallen from the true teaching.
Next, when a mendicant stays secluded, living independently, a desire arises for material things.
They don’t try hard, strive, and make an effort to get them.
And material things don’t come to them.
And so they sorrow and wail and lament, beating their breast and falling into confusion because they don’t get those material things.
This is called a mendicant who lives desiring material things. They don’t try hard, strive, and make an effort to get them. But when they do not acquire material things, they sorrow and lament. They’ve fallen from the true teaching.
Next, when a mendicant stays secluded, living independently, a desire arises for material things.
They don’t try hard, strive, and make an effort to get them.
But material things do come to them.
And so they become indulgent and fall into negligence regarding those material things.
This is called a mendicant who lives desiring material things. They don’t try hard, strive, and make an effort to get them. But when they acquire material things, they become intoxicated and negligent. They’ve fallen from the true teaching.
Next, when a mendicant stays secluded, living independently, a desire arises for material things.
They try hard, strive, and make an effort to get them.
But material things don’t come to them.
But they don’t sorrow and wail and lament, beating their breast and falling into confusion because they don’t get those material things.
This is called a mendicant who lives desiring material things. They try hard, strive, and make an effort to get them. But when they do not acquire material things, they don’t sorrow and lament. They haven’t fallen from the true teaching.
Next, when a mendicant stays secluded, living independently, a desire arises for material things.
They try hard, strive, and make an effort to get them.
And material things do come to them.
But they don’t become indulgent and fall into negligence regarding those material things.
This is called a mendicant who lives desiring material things. They try hard, strive, and make an effort to get them. But when they acquire material things, they don’t become intoxicated and negligent. They haven’t fallen from the true teaching.
Next, when a mendicant stays secluded, living independently, a desire arises for material things.
They don’t try hard, strive, and make an effort to get them.
And material things don’t come to them.
But they don’t sorrow and wail and lament, beating their breast and falling into confusion because they don’t get those material things.
This is called a mendicant who lives desiring material things. They don’t try hard, strive, and make an effort to get them. And when they do not acquire material things, they don’t sorrow and lament. They haven’t fallen from the true teaching.
Next, when a mendicant stays secluded, living independently, a desire arises for material things.
They don’t try hard, strive, and make an effort to get them.
But material things do come to them.
But they don’t become indulgent and fall into negligence regarding those material things.
This is called a mendicant who lives desiring material things. They don’t try hard, strive, and make an effort to get them. And when they acquire material things, they don’t become intoxicated and negligent. They haven’t fallen from the true teaching.
These eight individuals are found in the world.”
TTC 1Tại đấy, Tôn giả Sàriputta gọi các Tỷ-kheo: “Này các Hiền giả Tỷ-kheo”.
—Thưa Hiền giả.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Sàriputta. Tôn giả Sàriputta nói như sau:
TTC 2—Này các Hiền giả, có tám hạng người này có mặt, hiện hữu ở đời. Thế nào là tám?
TTC 3Ở đây, này các Hiền giả, Tỷ-kheo trong khi sống nhàn tịnh, không có tinh tấn, khởi lên ước muốn có lợi dưỡng. Vị ấy hăng hái, phấn chấn, tinh tấn để được lợi dưỡng. Dầu cho vị ấy hăng hái, phấn chấn, tinh tấn để được lợi dưỡng, nhưng lợi dưỡng không đến. Do không được lợi dưỡng, vị ấy sầu muộn, than van, khóc lóc, đập ngực, rơi vào bất tỉnh. Này các Hiền giả, vị ấy được gọi là Tỷ-kheo sống ham muốn lợi dưỡng, hăng hái, phấn chấn, tinh tấn để được lợi dưỡng; không được lợi dưỡng, vị ấy sầu muộn, than khóc, bỏ rơi diệu pháp.
TTC 4Ở đây, này các Hiền giả, có Tỷ-kheo trong khi sống nhàn tịnh, không có tinh tấn, khởi lên ước muốn có lợi dưỡng. Vị ấy hăng hái, phấn chấn, tinh tấn để được lợi dưỡng. Do hăng hái, phấn chấn, tinh tấn để được lợi dưỡng, lợi dưỡng khởi lên. Với lợi dưỡng ấy, vị ấy đắm say, phóng dật, rơi vào tình trạng đắm say, phóng dật. Ðây gọi là Tỷ-kheo sống ham muốn lợi dưỡng, hăng hái, phấn chấn, tinh tấn để được lợi dưỡng; được lợi dưỡng, trở thành đắm say, phóng dật và bỏ rơi diệu pháp.
TTC 5Ở đây, này các Hiền giả, có Tỷ-kheo trong khi sống nhàn tịnh không có tinh tấn, khởi lên ước muốn có lợi dưỡng. Vị ấy không hăng hái, không phấn chấn, không tinh tấn để được lợi dưỡng. Do vị ấy không hăng hái, không phấn chấn, không tinh tấn, lợi dưỡng không khởi lên. Vị ấy do không được lợi dưỡng, nên sầu muộn, than van, khóc lóc, đập ngực, rơi vào bất tỉnh. Ðây gọi là Tỷ-kheo sống ham muốn lợi dưỡng, không hăng hái, không phấn chấn, không tinh tấn để được lợi dưỡng; không được lợi dưỡng, nên sầu muộn, than van và bỏ rơi diệu pháp.
TTC 6Ở đây, này các Hiền giả, có Tỷ-kheo trong khi sống nhàn tịnh, không có tinh tấn, khởi lên ước muốn có lợi dưỡng. Vị ấy không hăng hái, không phấn chấn, không tinh tấn để được lợi dưỡng. Dầu vị ấy không hăng hái, không phấn chấn, không tinh tấn để được lợi dưỡng, lợi dưỡng khởi lên. Với lợi dưỡng ấy, vị ấy đắm say phóng dật, rơi vào trạng thái đắm say, phóng dật. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là Tỷ-kheo sống ham muốn lợi dưỡng, không hăng hái, không phấn chấn, không tinh tấn để được lợi dưỡng; được lợi dưỡng, bị đắm say, bị phóng dật và bỏ rơi diệu pháp.
TTC 7Ở đây, này các Hiền giả, có Tỷ-kheo trong khi sống nhàn tịnh, không có tinh tấn, khởi lên ước muốn có lợi dưỡng. Vị ấy hăng hái, phấn chấn, tinh tấn để được lợi dưỡng. Dầu cho vị ấy hăng hái, phấn chấn, tinh tấn để được lợi dưỡng, lợi dưỡng không khởi lên. Vị ấy dầu không được lợi dưỡng, không sầu muộn, không than van, không khóc lóc, không đập ngực, không rơi vào bất tỉnh. Này các Hiền giả, đây gọi là Tỷ-kheo, sống ham muốn lợi dưỡng, hăng hái, phấn chấn, tinh tấn để được lợi dưỡng; không được lợi dưỡng, không sầu muộn, không than van, và không bỏ rơi diệu pháp.
TTC 8Ở đây, này các Hiền giả, có Tỷ-kheo trong khi sống nhàn tịnh, không có tinh tấn, khởi lên ước muốn có lợi dưỡng, vị ấy hăng hái, phấn chấn, tinh tấn để được lợi dưỡng. Do vị ấy hăng hái, phấn chấn, tinh tấn để được lợi dưỡng, lợi dưỡng khởi lên. Với lợi dưỡng ấy, vị ấy không đắm say, không phóng dật, vị ấy không có rơi vào đắm say, phóng dật. Này các Hiền giả, đây gọi là Tỷ-kheo sống ham muốn lợi dưỡng, hăng hái, phấn chấn, tinh tấn để được lợi dưỡng; được lợi dưỡng, không đắm say, không phóng dật, không bỏ rơi diệu pháp.
TTC 9Ở đây, này các Hiền giả, trong khi sống nhàn tịnh, không có tinh tấn, khởi lên ước muốn có lợi dưỡng. Vị ấy không hăng hái, không phấn chấn, không tinh tấn để được lợi dưỡng. Do vị ấy không hăng hái, không phấn chấn, không tinh tấn, lợi dưỡng không khởi lên. Vị ấy dầu không được lợi dưỡng, không sầu muộn, không than van, không khóc lóc, không đập ngực, không rơi vào bất tỉnh. Này các Hiền giả, đây gọi là Tỷ-kheo sống ước muốn lợi dưỡng, không hăng hái, không phấn chấn, không tinh tấn để được lợi dưỡng; không được lợi dưỡng, không sầu muộn, không than van, không bỏ rơi diệu pháp.
TTC 10Ở đây, này các Hiền giả, có Tỷ-kheo trong khi sống nhàn tịnh, không có tinh tấn, khởi lên ước muốn có lợi dưỡng. Vị ấy không hăng hái, không phấn chấn, không tinh tấn để được lợi dưỡng. Dầu cho vị ấy không hăng hái, không phấn chấn, không tinh tấn để được lợi dưỡng, lợi dưỡng khởi lên. Vị ấy, với lợi dưỡng ấy, không đắm say, không phóng dật, không rơi vào trạng thái đắm say phóng dật. Này các Hiền giả, đây gọi là Tỷ-kheo sống ham muốn lợi dưỡng, không hăng hái, không phấn chấn, không tinh tấn để được lợi dưỡng; được lợi dưỡng, không đắm say, không phóng dật, không bỏ rơi diệu pháp.
Này các Hiền giả, có tám hạng người này sống có mặt, hiện hữu ở đời.
Tatra kho āyasmā sāriputto bhikkhū āmantesi:
“āvuso bhikkhavo”ti.
“Āvuso”ti kho te bhikkhū āyasmato sāriputtassa paccassosuṁ.
Āyasmā sāriputto etadavoca:
“Aṭṭhime, āvuso, puggalā santo saṁvijjamānā lokasmiṁ.
Katame aṭṭha?
Idhāvuso, bhikkhuno pavivittassa viharato nirāyattavuttino icchā uppajjati lābhāya.
So uṭṭhahati, ghaṭati, vāyamati lābhāya.
Tassa uṭṭhahato, ghaṭato, vāyamato lābhāya lābho nuppajjati.
So tena alābhena socati kilamati paridevati, urattāḷiṁ kandati, sammohaṁ āpajjati.
Ayaṁ vuccatāvuso, ‘bhikkhu iccho viharati lābhāya, uṭṭhahati, ghaṭati, vāyamati lābhāya, na ca lābhī, socī ca paridevī ca, cuto ca saddhammā’.
Idha panāvuso, bhikkhuno pavivittassa viharato nirāyattavuttino icchā uppajjati lābhāya.
So uṭṭhahati, ghaṭati, vāyamati lābhāya.
Tassa uṭṭhahato ghaṭato vāyamato lābhāya lābho uppajjati.
So tena lābhena majjati pamajjati pamādamāpajjati.
Ayaṁ vuccatāvuso, ‘bhikkhu iccho viharati lābhāya, uṭṭhahati ghaṭati vāyamati lābhāya, lābhī ca, madī ca pamādī ca, cuto ca saddhammā’.
Idha panāvuso, bhikkhuno pavivittassa viharato nirāyattavuttino icchā uppajjati lābhāya.
So na uṭṭhahati, na ghaṭati, na vāyamati lābhāya.
Tassa anuṭṭhahato, aghaṭato, avāyamato lābhāya lābho nuppajjati.
So tena alābhena socati kilamati paridevati, urattāḷiṁ kandati, sammohaṁ āpajjati.
Ayaṁ vuccatāvuso, ‘bhikkhu iccho viharati lābhāya, na uṭṭhahati, na ghaṭati, na vāyamati lābhāya, na ca lābhī, socī ca paridevī ca, cuto ca saddhammā’.
Idha panāvuso, bhikkhuno pavivittassa viharato nirāyattavuttino icchā uppajjati lābhāya.
So na uṭṭhahati, na ghaṭati, na vāyamati lābhāya.
Tassa anuṭṭhahato, aghaṭato, avāyamato lābhāya lābho uppajjati.
So tena lābhena majjati pamajjati pamādamāpajjati.
Ayaṁ vuccatāvuso, ‘bhikkhu iccho viharati lābhāya, na uṭṭhahati na ghaṭati na vāyamati lābhāya, lābhī ca, madī ca pamādī ca, cuto ca saddhammā’.
Idha panāvuso, bhikkhuno pavivittassa viharato nirāyattavuttino icchā uppajjati lābhāya.
So uṭṭhahati, ghaṭati, vāyamati lābhāya.
Tassa uṭṭhahato, ghaṭato, vāyamato lābhāya, lābho nuppajjati.
So tena alābhena na socati na kilamati na paridevati, na urattāḷiṁ kandati, na sammohaṁ āpajjati.
Ayaṁ vuccatāvuso, ‘bhikkhu iccho viharati lābhāya, uṭṭhahati ghaṭati vāyamati lābhāya, na ca lābhī, na ca socī na ca paridevī, accuto ca saddhammā’.
Idha panāvuso, bhikkhuno pavivittassa viharato nirāyattavuttino icchā uppajjati lābhāya.
So uṭṭhahati, ghaṭati, vāyamati lābhāya.
Tassa uṭṭhahato, ghaṭato, vāyamato lābhāya, lābho uppajjati.
So tena lābhena na majjati na pamajjati na pamādamāpajjati.
Ayaṁ vuccatāvuso, ‘bhikkhu iccho viharati lābhāya, uṭṭhahati, ghaṭati, vāyamati lābhāya, lābhī ca, na ca madī na ca pamādī, accuto ca saddhammā’.
Idha panāvuso, bhikkhuno pavivittassa viharato nirāyattavuttino icchā uppajjati lābhāya.
So na uṭṭhahati, na ghaṭati, na vāyamati lābhāya.
Tassa anuṭṭhahato, aghaṭato, avāyamato lābhāya, lābho nuppajjati.
So tena alābhena na socati na kilamati na paridevati, na urattāḷiṁ kandati, na sammohaṁ āpajjati.
Ayaṁ vuccatāvuso, ‘bhikkhu iccho viharati lābhāya, na uṭṭhahati, na ghaṭati, na vāyamati lābhāya, na ca lābhī, na ca socī na ca paridevī, accuto ca saddhammā’.
Idha panāvuso, bhikkhuno pavivittassa viharato nirāyattavuttino icchā uppajjati lābhāya.
So na uṭṭhahati, na ghaṭati, na vāyamati lābhāya.
Tassa anuṭṭhahato, aghaṭato, avāyamato lābhāya, lābho uppajjati.
So tena lābhena na majjati na pamajjati na pamādamāpajjati.
Ayaṁ vuccatāvuso, ‘bhikkhu iccho viharati lābhāya, na uṭṭhahati, na ghaṭati, na vāyamati lābhāya, lābhī ca, na ca madī na ca pamādī, accuto ca saddhammā’.
Ime kho, āvuso, aṭṭha puggalā santo saṁvijjamānā lokasmin”ti.
Sattamaṁ.