—Có ba hạng người này, này các Tỷ-kheo, làm nhiều lợi ích cho người khác. Thế nào là ba?
Do người nào, này các Tỷ-kheo, có người được quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, người ấy là hạng người làm lợi ích nhiều cho người kia. Ðây là hạng người làm lợi ích nhiều cho người khác.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, do người nào, người khác rõ biết: “Ðây là khổ”, rõ biết: “Ðây là khổ tập”, rõ biết: “Ðây là khổ diệt”, rõ biết: “Ðây là con đường đưa đến khổ diệt”, người ấy là hạng người làm lợi ích nhiều cho người kia. Ðây là hạng người làm lợi ích nhiều cho người khác.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, do người nào, người khác đoạn trừ các lậu hoặc ngay trong hiện tại, với thắng trí tự mình chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Ðây là hạng người làm lợi ích nhiều cho người khác.
Ba hạng người này, này các Tỷ-kheo, làm lợi ích nhiều cho người khác. Ta nói rằng không có một người nào khác làm lợi ích nhiều hơn cho người bằng ba hạng người này. Ta nói rằng người này không thể khéo trả ơn cho ba hạng người kia, như đảnh lễ, đứng dậy, chắp tay, hành động thân thiện, bố thí các vật dụng như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, thuốc trị bệnh …
“Tayome, bhikkhave, puggalā puggalassa bahukārā.
Katame tayo?
Yaṁ, bhikkhave, puggalaṁ āgamma puggalo buddhaṁ saraṇaṁ gato hoti, dhammaṁ saraṇaṁ gato hoti, saṅghaṁ saraṇaṁ gato hoti;
ayaṁ, bhikkhave, puggalo imassa puggalassa bahukāro.
Puna caparaṁ, bhikkhave, yaṁ puggalaṁ āgamma puggalo ‘idaṁ dukkhan’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ dukkhasamudayo’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ dukkhanirodho’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti yathābhūtaṁ pajānāti;
ayaṁ, bhikkhave, puggalo imassa puggalassa bahukāro.
Puna caparaṁ, bhikkhave, yaṁ puggalaṁ āgamma puggalo āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharati;
ayaṁ, bhikkhave, puggalo imassa puggalassa bahukāro.
Ime kho, bhikkhave, tayo puggalā puggalassa bahukārā.
Imehi ca pana, bhikkhave, tīhi puggalehi imassa puggalassa natthañño puggalo bahukāroti vadāmi.
Imesaṁ pana, bhikkhave, tiṇṇaṁ puggalānaṁ iminā puggalena na suppatikāraṁ vadāmi, yadidaṁ abhivādanapaccuṭṭhānaañjalikammasāmīcikammacīvarapiṇḍapātasenāsanagilānapaccayabhesajjaparikkhārānuppadānenā”ti.
Catutthaṁ.
SC 1“Bhikkhus, these three persons are helpful to another person. What three?
SC 2(1) “The person through whom another has gone for refuge to the Buddha, the Dhamma, and the Saṅgha. This person is helpful to the other person.
SC 3(2) “Again, the person through whom another comes to understand as it really is: ‘This is suffering,’ and ‘This is the origin of suffering,’ and ‘This is the cessation of suffering,’ and ‘This is the way leading to the cessation of suffering.’ This person is helpful to the other person.
SC 4(3) “Again, the person through whom, with the destruction of the taints, another realizes for himself with direct knowledge, in this very life, the taintless liberation of mind, liberation by wisdom, and having entered upon it, dwells in it. This person is helpful to the other person.
SC 5“These three persons are helpful to another person.
SC 6“I say, bhikkhus, that there is no one more helpful to another person than these three persons. I say, too, that it is not easy to repay these three persons by paying homage to them, by rising up for them, by reverential salutation, by proper conduct, and by presenting them with robes, almsfood, lodging, and medicines and provisions for the sick.”
—Có ba hạng người này, này các Tỷ-kheo, làm nhiều lợi ích cho người khác. Thế nào là ba?
Do người nào, này các Tỷ-kheo, có người được quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, người ấy là hạng người làm lợi ích nhiều cho người kia. Ðây là hạng người làm lợi ích nhiều cho người khác.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, do người nào, người khác rõ biết: “Ðây là khổ”, rõ biết: “Ðây là khổ tập”, rõ biết: “Ðây là khổ diệt”, rõ biết: “Ðây là con đường đưa đến khổ diệt”, người ấy là hạng người làm lợi ích nhiều cho người kia. Ðây là hạng người làm lợi ích nhiều cho người khác.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, do người nào, người khác đoạn trừ các lậu hoặc ngay trong hiện tại, với thắng trí tự mình chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Ðây là hạng người làm lợi ích nhiều cho người khác.
Ba hạng người này, này các Tỷ-kheo, làm lợi ích nhiều cho người khác. Ta nói rằng không có một người nào khác làm lợi ích nhiều hơn cho người bằng ba hạng người này. Ta nói rằng người này không thể khéo trả ơn cho ba hạng người kia, như đảnh lễ, đứng dậy, chắp tay, hành động thân thiện, bố thí các vật dụng như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, thuốc trị bệnh …
“Tayome, bhikkhave, puggalā puggalassa bahukārā.
Katame tayo?
Yaṁ, bhikkhave, puggalaṁ āgamma puggalo buddhaṁ saraṇaṁ gato hoti, dhammaṁ saraṇaṁ gato hoti, saṅghaṁ saraṇaṁ gato hoti;
ayaṁ, bhikkhave, puggalo imassa puggalassa bahukāro.
Puna caparaṁ, bhikkhave, yaṁ puggalaṁ āgamma puggalo ‘idaṁ dukkhan’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ dukkhasamudayo’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ dukkhanirodho’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti yathābhūtaṁ pajānāti;
ayaṁ, bhikkhave, puggalo imassa puggalassa bahukāro.
Puna caparaṁ, bhikkhave, yaṁ puggalaṁ āgamma puggalo āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharati;
ayaṁ, bhikkhave, puggalo imassa puggalassa bahukāro.
Ime kho, bhikkhave, tayo puggalā puggalassa bahukārā.
Imehi ca pana, bhikkhave, tīhi puggalehi imassa puggalassa natthañño puggalo bahukāroti vadāmi.
Imesaṁ pana, bhikkhave, tiṇṇaṁ puggalānaṁ iminā puggalena na suppatikāraṁ vadāmi, yadidaṁ abhivādanapaccuṭṭhānaañjalikammasāmīcikammacīvarapiṇḍapātasenāsanagilānapaccayabhesajjaparikkhārānuppadānenā”ti.
Catutthaṁ.