TTC 1—Sự nghèo khổ, này các Tỷ-kheo, có phải là một sự đau khổ cho người có tham dục ở đời?
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
—Khi một người khổ không có sở hữu, sống túng thiếu, phải mắc nợ, mắc nợ ấy, này các Tỷ-kheo, có phải là một sự đau khổ cho người có tham dục ở đời?
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
—Khi một người nghèo khổ không có sở hữu, sống túng thiếu, sau khi mắc nợ, phải chấp nhận tiền lời. Tiền lời, này các Tỷ-kheo, có phải là một sự đau khổ cho người có tham dục ở đời?
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
—Khi một người nghèo khổ, này các Tỷ-kheo, không có sở hữu, sống túng thiếu phải chấp nhận tiền lời, và khi thời hạn đến, không trả được tiền lời, người ta hối thúc, đốc thúc người ấy. Sự thối thúc, đốc thúc, này các Tỷ-kheo, có phải là một sự đau khổ cho người có tham dục ở đời?
—Thưa vâng, bạch thế Tôn.
—Khi một người nghèo khổ, này các Tỷ-kheo, không có sở hữu, sống túng thiếu, bị hối thúc, không trả được, người ta theo sát gót truy tìm người ấy. Bị theo sát gót, bị truy tìm, này các Tỷ-kheo, có phải là một sự đau khổ cho người có tham dục ở đời?
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
—Khi một người nghèo khổ, này các Tỷ-kheo, không có sở hữu, sống túng thiếu, bị theo sát gót, bị truy tìm, không trả nợ được, người ta bắt trói người ấy. Sự bắt trói, này các Tỷ-kheo, có phải là một sự đau khổ cho người có tham dục ở đời?
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
—Này các Tỷ-kheo, như vậy, nghèo khổ là một sự đau khổ cho người có tham dục ở đời; mắc nợ cũng là một sự đau khổ cho người có tham dục ở đời; tiền lời cũng là một sự đau khổ cho người có tham dục ở đời; bị hối thúc, đốc thúc cũng là một sự đau khổ cho người có tham dục ở đời; bị theo sát gót, bị truy tìm cũng là một sự đau khổ cho người có tham dục ở đời; bị bắt trói cũng là một sự đau khổ cho người có tham dục ở đời.
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ai không có lòng tin trong các thiện pháp, không có lòng hổ thẹn trong các thiện pháp, không có lòng sợ hãi trong các thiện pháp, không có tinh tấn trong các thiện pháp, không có trí tuệ trong các thiện pháp; người này, này các Tỷ-kheo, được gọi là người nghèo khổ, không có sở hữu, sống túng thiếu trong Luật của bậc Thánh.
TTC 2Nay chính người ấy, này các Tỷ-kheo, nghèo khổ, không có sở hữu, sống túng thiếu, không có lòng tin trong các thiện pháp, không có lòng hổ thẹn trong các thiện pháp, không có lòng sợ hãi trong các thiện pháp, không có tinh tấn trong các thiện pháp, không có trí tuệ trong các thiện pháp, làm ác hạnh về thân, làm ác hạnh về lời, làm ác hạnh về ý nghĩ. Ta gọi người ấy là người mắc nợ. Người ấy do nhân che giấu thân ác hạnh, khởi lên ác dục, muốn rằng: “Mong rằng không ai biết ta làm”, suy nghĩ rằng: “Mong rằng không ai biết ta làm”, nói rằng: “Mong rằng không ai biết ta làm”, cố gắng với tác động về thân, nghĩ rằng: “Mong rằng không ai biết ta làm”. Người ấy, do nhân che giấu ác hạnh về lời… ác hạnh về ý, khởi lên ác dục, muốn rằng: “Mong rằng không ai biết ta làm”, suy nghĩ rằng: “Mong rằng không ai biết ta làm”, Nói rằng : “Mong rằng không ai biết ta làm”, cố gắng với tác động về thân, nghĩ rằng: “Mong rằng không ai biết ta làm”. Ðây Ta gọi rằng: “Tiền lời gia tăng”. Và các đồng Phạm hạnh thuần thành nói về người ấy như sau: “Tôn giả này có làm như vậy, có sở hành như vậy”. Ðây Ta nói rằng, người ấy bị hối thúc, đốc thúc, rồi đi đến rừng hay đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, các ác bất thiện tầm, câu hữu với hối lỗi hiện hành. Ðây Ta gọi là bị theo sát gót, bị truy tìm.
TTC 3Nay chính người ấy, này các Tỷ-kheo, nghèo khổ, không có sở hữu, sống túng thiếu, sau khi làm ác hạnh về thân, sau khi làm ác hạnh về lời, sau khi làm ác hạnh về ý, khi thân hoại mạng chung, bị trói buộc trong trói buộc của Ðịa ngục, bị trói buộc trong trói buộc của loài bàng sanh. Và này các Tỷ-kheo, Ta không thấy một trói buộc nào khác lại khắc nghiệt như vậy, lại ác liệt như vậy, lại làm chướng ngại như vậy cho sự chứng đắc vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, này các Tỷ-kheo, giống như sự trói buộc Ðịa ngục hay sự trói buộc các loài bàng sanh.
Nghèo khổ và mắc nợ,
Ðược gọi khổ ở đời!
Kẻ bần cùng mắc nợ,
Thọ dụng, bị tổn hại,
Rồi bị người truy lùng,
Cho đến bị trói buộc.
Trói buộc vậy là khổ,
Cho người cầu được dục.
Như vậy trong Luật Thánh,
Ai sống không lòng tin,
Không xấu hổ, sợ hãi,
Quyết định chọn ác nghiệp.
Sau khi làm ác hạnh,
Về thân, lời và ý.
Lại mong muốn được rằng:
“Chớ ai biết ta làm”.
Người ấy khéo che giấu,
Với thân, lời và ý,
Làm tăng trưởng ác nghiệp,
Tại đây, đó, làm nữa.
Người ác tuệ, ác nghiệp,
Biết việc ác mình làm,
Như kẻ nghèo mắc nợ,
Thọ dụng, bị tổn hại.
Những tư tưởng khổ đau
Sanh ra từ hối hận
Vẫn truy tìm người ấy,
Ở làng hoặc ở rừng.
Người ác nghiệp, ác tuệ,
Biết việc ác mình làm,
Hoặc rơi vào bàng sanh,
Hoặc bị trói Ðịa ngục.
Trói buộc này là khổ.
Bậc trí được giải thoát,
Ai tâm tịnh bố thí,
Với vật dụng đúng pháp,
Gieo cầu may hai đường,
Tín tại gia tìm cầu,
Hiện tại được hạnh phúc,
Ðời sau được an lạc.
Như vậy tại gia thí,
Tăng trưởng các công đức.
Như vậy trong Luật Thánh
Tín tâm được an trú.
Có xấu hổ, sợ hãi,
Có trí, bảo hộ giới,
Bậc ấy, trong Luật Thánh,
Ðược gọi: “Sống an lạc”.
Ðược lạc không vật chất,
An trú trên tánh xả.
Từ bỏ năm triền cái,
Thường siêng năng, tinh cần,
Chứng Thiền định, nhứt tâm,
Thận trọng, giữ chánh niệm.
Biết như thật là vậy,
Ðoạn diệt mọi kiết sử,
Hoàn toàn không chấp thủ,
Chơn chánh, tâm giải thoát,
Với chánh giải thoát ấy,
Nếu trí như vậy khởi:
“Bất động ta giải thoát,
Ðoạn diệt hữu kiết sử”.
Trí này, trí tối thượng,
Lạc này, lạc vô thượng,
Không sầu, không trần cấu,
Ðược an ổn, (giải thoát),
Trạng thái không nợ này,
Ðược xem là tối thượng.
“Dāliddiyaṁ, bhikkhave, dukkhaṁ lokasmiṁ kāmabhogino”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Yampi, bhikkhave, daliddo assako anāḷhiko iṇaṁ ādiyati, iṇādānampi, bhikkhave, dukkhaṁ lokasmiṁ kāmabhogino”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Yampi, bhikkhave, daliddo assako anāḷhiko iṇaṁ ādiyitvā vaḍḍhiṁ paṭissuṇāti, vaḍḍhipi, bhikkhave, dukkhā lokasmiṁ kāmabhogino”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Yampi, bhikkhave, daliddo assako anāḷhiko vaḍḍhiṁ paṭissuṇitvā kālābhataṁ vaḍḍhiṁ na deti, codentipi naṁ;
codanāpi, bhikkhave, dukkhā lokasmiṁ kāmabhogino”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Yampi, bhikkhave, daliddo assako anāḷhiko codiyamāno na deti, anucarantipi naṁ;
anucariyāpi, bhikkhave, dukkhā lokasmiṁ kāmabhogino”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Yampi, bhikkhave, daliddo assako anāḷhiko anucariyamāno na deti, bandhantipi naṁ;
bandhanampi, bhikkhave, dukkhaṁ lokasmiṁ kāmabhogino”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Iti kho, bhikkhave, dāliddiyampi dukkhaṁ lokasmiṁ kāmabhogino, iṇādānampi dukkhaṁ lokasmiṁ kāmabhogino, vaḍḍhipi dukkhā lokasmiṁ kāmabhogino, codanāpi dukkhā lokasmiṁ kāmabhogino, anucariyāpi dukkhā lokasmiṁ kāmabhogino, bandhanampi dukkhaṁ lokasmiṁ kāmabhogino;
evamevaṁ kho, bhikkhave, yassa kassaci saddhā natthi kusalesu dhammesu, hirī natthi kusalesu dhammesu, ottappaṁ natthi kusalesu dhammesu, vīriyaṁ natthi kusalesu dhammesu, paññā natthi kusalesu dhammesu—
ayaṁ vuccati, bhikkhave, ariyassa vinaye daliddo assako anāḷhiko.
Sa kho so, bhikkhave, daliddo assako anāḷhiko saddhāya asati kusalesu dhammesu, hiriyā asati kusalesu dhammesu, ottappe asati kusalesu dhammesu, vīriye asati kusalesu dhammesu, paññāya asati kusalesu dhammesu, kāyena duccaritaṁ carati, vācāya duccaritaṁ carati, manasā duccaritaṁ carati.
Idamassa iṇādānasmiṁ vadāmi.
So tassa kāyaduccaritassa paṭicchādanahetu pāpikaṁ icchaṁ paṇidahati.
‘Mā maṁ jaññū’ti icchati, ‘mā maṁ jaññū’ti saṅkappati, ‘mā maṁ jaññū’ti vācaṁ bhāsati, ‘mā maṁ jaññū’ti kāyena parakkamati. So tassa vacīduccaritassa paṭicchādanahetu …pe… so tassa manoduccaritassa paṭicchādanahetu …pe… ‘mā maṁ jaññū’ti kāyena parakkamati.
Idamassa vaḍḍhiyā vadāmi.
Tamenaṁ pesalā sabrahmacārī evamāhaṁsu:
‘ayañca so āyasmā evaṅkārī evaṁsamācāro’ti.
Idamassa codanāya vadāmi.
Tamenaṁ araññagataṁ vā rukkhamūlagataṁ vā suññāgāragataṁ vā vippaṭisārasahagatā pāpakā akusalavitakkā samudācaranti.
Idamassa anucariyāya vadāmi.
Sa kho so, bhikkhave, daliddo assako anāḷhiko kāyena duccaritaṁ caritvā vācāya duccaritaṁ caritvā manasā duccaritaṁ caritvā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā nirayabandhane vā bajjhati tiracchānayonibandhane vā.
Nāhaṁ, bhikkhave, aññaṁ ekabandhanampi samanupassāmi evaṁdāruṇaṁ evaṅkaṭukaṁ evaṁantarāyakaraṁ anuttarassa yogakkhemassa adhigamāya, yathayidaṁ, bhikkhave, nirayabandhanaṁ vā tiracchānayonibandhanaṁ vāti.
Dāliddiyaṁ dukkhaṁ loke,
iṇādānañca vuccati;
Daliddo iṇamādāya,
bhuñjamāno vihaññati.
Tato anucaranti naṁ,
bandhanampi nigacchati;
Etañhi bandhanaṁ dukkhaṁ,
kāmalābhābhijappinaṁ.
Tatheva ariyavinaye,
saddhā yassa na vijjati;
Ahirīko anottappī,
pāpakammavinibbayo.
Kāyaduccaritaṁ katvā,
vacīduccaritāni ca;
Manoduccaritaṁ katvā,
‘mā maṁ jaññū’ti icchati.
So saṁsappati kāyena,
vācāya uda cetasā;
Pāpakammaṁ pavaḍḍhento,
tattha tattha punappunaṁ.
So pāpakammo dummedho,
jānaṁ dukkaṭamattano;
Daliddo iṇamādāya,
bhuñjamāno vihaññati.
Tato anucaranti naṁ,
saṅkappā mānasā dukhā;
Gāme vā yadi vāraññe,
yassa vippaṭisārajā.
So pāpakammo dummedho,
jānaṁ dukkaṭamattano;
Yonimaññataraṁ gantvā,
niraye vāpi bajjhati.
Etañhi bandhanaṁ dukkhaṁ,
yamhā dhīro pamuccati;
Dhammaladdhehi bhogehi,
dadaṁ cittaṁ pasādayaṁ.
Ubhayattha kaṭaggāho,
saddhassa gharamesino;
Diṭṭhadhammahitatthāya,
samparāyasukhāya ca;
Evametaṁ gahaṭṭhānaṁ,
cāgo puññaṁ pavaḍḍhati.
Tatheva ariyavinaye,
saddhā yassa patiṭṭhitā;
Hirīmano ca ottappī,
paññavā sīlasaṁvuto.
Eso kho ariyavinaye,
‘sukhajīvī’ti vuccati;
Nirāmisaṁ sukhaṁ laddhā,
upekkhaṁ adhitiṭṭhati.
Pañca nīvaraṇe hitvā,
niccaṁ āraddhavīriyo;
Jhānāni upasampajja,
ekodi nipako sato.
Evaṁ ñatvā yathābhūtaṁ,
sabbasaṁyojanakkhaye;
Sabbaso anupādāya,
sammā cittaṁ vimuccati.
Tassa sammā vimuttassa,
ñāṇañce hoti tādino;
‘Akuppā me vimuttī’ti,
bhavasaṁyojanakkhaye.
Etaṁ kho paramaṁ ñāṇaṁ,
etaṁ sukhamanuttaraṁ;
Asokaṁ virajaṁ khemaṁ,
etaṁ ānaṇyamuttaman”ti.
Tatiyaṁ.
“Monks, for one who partakes of sensuality, poverty is suffering in the world.”
“Yes, lord.”
“And a poor, destitute, penniless person gets into debt. For one who partakes of sensuality, getting into debt is suffering in the world.”
“Yes, lord.”
“And a poor, destitute, penniless person, having gotten into debt, owes interest payments. For one who partakes of sensuality, interest payment is suffering in the world.”
“Yes, lord.”
“And when a poor, destitute, penniless person owing interest payments does not pay interest on time, they serve him notice. For one who partakes of sensuality, being served notice is suffering in the world.”
“Yes, lord.”
“And when a poor, destitute, penniless person, being served notice, does not pay, they hound him. For one who partakes of sensuality, being hounded is suffering in the world.”
“Yes, lord.”
“And when a poor, destitute, penniless person, being hounded, does not pay, he is put into bondage. For one who partakes of sensuality, bondage is suffering in the world.”
“Yes, lord.”
“Thus, monks, poverty is suffering in the world for one who partakes of sensuality. Getting into debt is suffering in the world for one who partakes of sensuality. Interest payment is suffering in the world for one who partakes of sensuality. Being served notice is suffering in the world for one who partakes of sensuality. Being hounded is suffering in the world for one who partakes of sensuality. Bondage is suffering in the world for one who partakes of sensuality.
“In the same way, monks, whoever has no conviction with regard to skillful mental qualities, no sense of conscience with regard to skillful mental qualities, no sense of concern with regard to skillful mental qualities, no persistence with regard to skillful mental qualities, no discernment with regard to skillful mental qualities is, in the discipline of a noble one, said to be poor, destitute, & penniless.
“He—poor, destitute, & penniless, having no conviction with regard to skillful mental qualities, no sense of conscience… no sense of concern… no persistence… no discernment with regard to skillful mental qualities—engages in misconduct by way of the body, misconduct by way of speech, misconduct by way of the mind. For him, I tell you, this is getting into debt.
“For the purpose of concealing his bodily misconduct, he formulates evil desires: He desires, ‘May they not know about me.’ He resolves, ‘May they not know about me.’ He speaks, [thinking,] ‘May they not know about me.’ He makes an effort with his body, [thinking,] ‘May they not know about me.’ For the purpose of concealing his verbal misconduct… For the purpose of concealing his mental misconduct, he formulates evil desires: He desires, ‘May they not know about me.’ He resolves, ‘May they not know about me.’ He speaks, [thinking,] ‘May they not know about me.’ He makes an effort with his body, [thinking,] ‘May they not know about me.’ For him, I tell you, this is interest payment.
“And then his well-behaved companions in the holy life say about him, ‘This venerable one acts in this way, behaves in this way.’ For him, I tell you, this is being served notice.
“And then, when he has gone to the wilderness, to the foot of a tree, or to an empty dwelling, he is beset with evil, unskillful thoughts accompanied by remorse. For him, I tell you, this is being hounded.
“He—poor, destitute, & penniless, having engaged in misconduct by way of the body, misconduct by way of speech, & misconduct by way of the mind—on the break-up of the body, after death, is bound by the bond of hell or the bond of the animal womb. And I can imagine no one other bond so tormenting, so painful, so obstructive to the unexcelled rest from bondage, as the bond of hell or the bond of the animal womb.”
Poverty is called
suffering in the world;
so, too, is getting into debt.
A poor person, in debt,
partaking of sensuality, suffers hardship.
Then they hound him
and put him into bondage:
the painful
bond for one longing to gain
sensual pleasures.
Now, anyone with no conviction
in the discipline of a noble one
—no sense of conscience,
no sense of concern—
contemplating evil actions,
doing wrong by way of body,
wrong by way of speech,
& wrong by way of the mind,
wants: ‘May they not know about me.’
He creeps along in body,
speech, or mind,
piling up evil actions,
here & there,
again & again.
He, with evil actions,
his wisdom weak,
knowing his own wrong-doing, is
a poor person, in debt.
Partaking of sensuality,
he suffers hardship.
Then they hound him—
painful mental resolves
born of remorse—
at home or in the wilderness.
He, with evil actions,
his wisdom weak,
knowing his own wrong-doing,
goes to an animal womb
or is bound in hell:
the painful bond
from which the enlightened
are freed.
But one with confidence,
living at home,
making gifts of his belongings,
righteously-gained,
wins both goals:
advantage in the here-&-now,
& happiness in the world beyond.
The liberality of this householder
piles up merit.
Now, anyone with conviction
firmly established
in the discipline of a noble one—
with a sense of conscience,
a sense of concern,
discerning
& restrained by virtue—is, in the discipline of a noble one,
said to be living in ease.
Gaining a pleasure not of the flesh,
he determines on equanimity:
abandoning the five hindrances
—persistence constantly aroused—
entering the jhanas:
unified,
mindful, &
wise.
Knowing this
as it actually is
in the total ending of all fetters,
through everywhere
not-clinging,
his mind is rightly released.
In him, Such, rightly released,
there is the knowledge,
in the total ending
of the fetters of becoming:
‘My release
is unshakable.’
That is the highest knowledge
that,the happiness unexcelled.
Sorrowless,
dustless,
at rest,
that
is release from debt.
TTC 1—Sự nghèo khổ, này các Tỷ-kheo, có phải là một sự đau khổ cho người có tham dục ở đời?
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
—Khi một người khổ không có sở hữu, sống túng thiếu, phải mắc nợ, mắc nợ ấy, này các Tỷ-kheo, có phải là một sự đau khổ cho người có tham dục ở đời?
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
—Khi một người nghèo khổ không có sở hữu, sống túng thiếu, sau khi mắc nợ, phải chấp nhận tiền lời. Tiền lời, này các Tỷ-kheo, có phải là một sự đau khổ cho người có tham dục ở đời?
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
—Khi một người nghèo khổ, này các Tỷ-kheo, không có sở hữu, sống túng thiếu phải chấp nhận tiền lời, và khi thời hạn đến, không trả được tiền lời, người ta hối thúc, đốc thúc người ấy. Sự thối thúc, đốc thúc, này các Tỷ-kheo, có phải là một sự đau khổ cho người có tham dục ở đời?
—Thưa vâng, bạch thế Tôn.
—Khi một người nghèo khổ, này các Tỷ-kheo, không có sở hữu, sống túng thiếu, bị hối thúc, không trả được, người ta theo sát gót truy tìm người ấy. Bị theo sát gót, bị truy tìm, này các Tỷ-kheo, có phải là một sự đau khổ cho người có tham dục ở đời?
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
—Khi một người nghèo khổ, này các Tỷ-kheo, không có sở hữu, sống túng thiếu, bị theo sát gót, bị truy tìm, không trả nợ được, người ta bắt trói người ấy. Sự bắt trói, này các Tỷ-kheo, có phải là một sự đau khổ cho người có tham dục ở đời?
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
—Này các Tỷ-kheo, như vậy, nghèo khổ là một sự đau khổ cho người có tham dục ở đời; mắc nợ cũng là một sự đau khổ cho người có tham dục ở đời; tiền lời cũng là một sự đau khổ cho người có tham dục ở đời; bị hối thúc, đốc thúc cũng là một sự đau khổ cho người có tham dục ở đời; bị theo sát gót, bị truy tìm cũng là một sự đau khổ cho người có tham dục ở đời; bị bắt trói cũng là một sự đau khổ cho người có tham dục ở đời.
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ai không có lòng tin trong các thiện pháp, không có lòng hổ thẹn trong các thiện pháp, không có lòng sợ hãi trong các thiện pháp, không có tinh tấn trong các thiện pháp, không có trí tuệ trong các thiện pháp; người này, này các Tỷ-kheo, được gọi là người nghèo khổ, không có sở hữu, sống túng thiếu trong Luật của bậc Thánh.
TTC 2Nay chính người ấy, này các Tỷ-kheo, nghèo khổ, không có sở hữu, sống túng thiếu, không có lòng tin trong các thiện pháp, không có lòng hổ thẹn trong các thiện pháp, không có lòng sợ hãi trong các thiện pháp, không có tinh tấn trong các thiện pháp, không có trí tuệ trong các thiện pháp, làm ác hạnh về thân, làm ác hạnh về lời, làm ác hạnh về ý nghĩ. Ta gọi người ấy là người mắc nợ. Người ấy do nhân che giấu thân ác hạnh, khởi lên ác dục, muốn rằng: “Mong rằng không ai biết ta làm”, suy nghĩ rằng: “Mong rằng không ai biết ta làm”, nói rằng: “Mong rằng không ai biết ta làm”, cố gắng với tác động về thân, nghĩ rằng: “Mong rằng không ai biết ta làm”. Người ấy, do nhân che giấu ác hạnh về lời… ác hạnh về ý, khởi lên ác dục, muốn rằng: “Mong rằng không ai biết ta làm”, suy nghĩ rằng: “Mong rằng không ai biết ta làm”, Nói rằng : “Mong rằng không ai biết ta làm”, cố gắng với tác động về thân, nghĩ rằng: “Mong rằng không ai biết ta làm”. Ðây Ta gọi rằng: “Tiền lời gia tăng”. Và các đồng Phạm hạnh thuần thành nói về người ấy như sau: “Tôn giả này có làm như vậy, có sở hành như vậy”. Ðây Ta nói rằng, người ấy bị hối thúc, đốc thúc, rồi đi đến rừng hay đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, các ác bất thiện tầm, câu hữu với hối lỗi hiện hành. Ðây Ta gọi là bị theo sát gót, bị truy tìm.
TTC 3Nay chính người ấy, này các Tỷ-kheo, nghèo khổ, không có sở hữu, sống túng thiếu, sau khi làm ác hạnh về thân, sau khi làm ác hạnh về lời, sau khi làm ác hạnh về ý, khi thân hoại mạng chung, bị trói buộc trong trói buộc của Ðịa ngục, bị trói buộc trong trói buộc của loài bàng sanh. Và này các Tỷ-kheo, Ta không thấy một trói buộc nào khác lại khắc nghiệt như vậy, lại ác liệt như vậy, lại làm chướng ngại như vậy cho sự chứng đắc vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, này các Tỷ-kheo, giống như sự trói buộc Ðịa ngục hay sự trói buộc các loài bàng sanh.
Nghèo khổ và mắc nợ,
Ðược gọi khổ ở đời!
Kẻ bần cùng mắc nợ,
Thọ dụng, bị tổn hại,
Rồi bị người truy lùng,
Cho đến bị trói buộc.
Trói buộc vậy là khổ,
Cho người cầu được dục.
Như vậy trong Luật Thánh,
Ai sống không lòng tin,
Không xấu hổ, sợ hãi,
Quyết định chọn ác nghiệp.
Sau khi làm ác hạnh,
Về thân, lời và ý.
Lại mong muốn được rằng:
“Chớ ai biết ta làm”.
Người ấy khéo che giấu,
Với thân, lời và ý,
Làm tăng trưởng ác nghiệp,
Tại đây, đó, làm nữa.
Người ác tuệ, ác nghiệp,
Biết việc ác mình làm,
Như kẻ nghèo mắc nợ,
Thọ dụng, bị tổn hại.
Những tư tưởng khổ đau
Sanh ra từ hối hận
Vẫn truy tìm người ấy,
Ở làng hoặc ở rừng.
Người ác nghiệp, ác tuệ,
Biết việc ác mình làm,
Hoặc rơi vào bàng sanh,
Hoặc bị trói Ðịa ngục.
Trói buộc này là khổ.
Bậc trí được giải thoát,
Ai tâm tịnh bố thí,
Với vật dụng đúng pháp,
Gieo cầu may hai đường,
Tín tại gia tìm cầu,
Hiện tại được hạnh phúc,
Ðời sau được an lạc.
Như vậy tại gia thí,
Tăng trưởng các công đức.
Như vậy trong Luật Thánh
Tín tâm được an trú.
Có xấu hổ, sợ hãi,
Có trí, bảo hộ giới,
Bậc ấy, trong Luật Thánh,
Ðược gọi: “Sống an lạc”.
Ðược lạc không vật chất,
An trú trên tánh xả.
Từ bỏ năm triền cái,
Thường siêng năng, tinh cần,
Chứng Thiền định, nhứt tâm,
Thận trọng, giữ chánh niệm.
Biết như thật là vậy,
Ðoạn diệt mọi kiết sử,
Hoàn toàn không chấp thủ,
Chơn chánh, tâm giải thoát,
Với chánh giải thoát ấy,
Nếu trí như vậy khởi:
“Bất động ta giải thoát,
Ðoạn diệt hữu kiết sử”.
Trí này, trí tối thượng,
Lạc này, lạc vô thượng,
Không sầu, không trần cấu,
Ðược an ổn, (giải thoát),
Trạng thái không nợ này,
Ðược xem là tối thượng.
“Dāliddiyaṁ, bhikkhave, dukkhaṁ lokasmiṁ kāmabhogino”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Yampi, bhikkhave, daliddo assako anāḷhiko iṇaṁ ādiyati, iṇādānampi, bhikkhave, dukkhaṁ lokasmiṁ kāmabhogino”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Yampi, bhikkhave, daliddo assako anāḷhiko iṇaṁ ādiyitvā vaḍḍhiṁ paṭissuṇāti, vaḍḍhipi, bhikkhave, dukkhā lokasmiṁ kāmabhogino”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Yampi, bhikkhave, daliddo assako anāḷhiko vaḍḍhiṁ paṭissuṇitvā kālābhataṁ vaḍḍhiṁ na deti, codentipi naṁ;
codanāpi, bhikkhave, dukkhā lokasmiṁ kāmabhogino”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Yampi, bhikkhave, daliddo assako anāḷhiko codiyamāno na deti, anucarantipi naṁ;
anucariyāpi, bhikkhave, dukkhā lokasmiṁ kāmabhogino”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Yampi, bhikkhave, daliddo assako anāḷhiko anucariyamāno na deti, bandhantipi naṁ;
bandhanampi, bhikkhave, dukkhaṁ lokasmiṁ kāmabhogino”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Iti kho, bhikkhave, dāliddiyampi dukkhaṁ lokasmiṁ kāmabhogino, iṇādānampi dukkhaṁ lokasmiṁ kāmabhogino, vaḍḍhipi dukkhā lokasmiṁ kāmabhogino, codanāpi dukkhā lokasmiṁ kāmabhogino, anucariyāpi dukkhā lokasmiṁ kāmabhogino, bandhanampi dukkhaṁ lokasmiṁ kāmabhogino;
evamevaṁ kho, bhikkhave, yassa kassaci saddhā natthi kusalesu dhammesu, hirī natthi kusalesu dhammesu, ottappaṁ natthi kusalesu dhammesu, vīriyaṁ natthi kusalesu dhammesu, paññā natthi kusalesu dhammesu—
ayaṁ vuccati, bhikkhave, ariyassa vinaye daliddo assako anāḷhiko.
Sa kho so, bhikkhave, daliddo assako anāḷhiko saddhāya asati kusalesu dhammesu, hiriyā asati kusalesu dhammesu, ottappe asati kusalesu dhammesu, vīriye asati kusalesu dhammesu, paññāya asati kusalesu dhammesu, kāyena duccaritaṁ carati, vācāya duccaritaṁ carati, manasā duccaritaṁ carati.
Idamassa iṇādānasmiṁ vadāmi.
So tassa kāyaduccaritassa paṭicchādanahetu pāpikaṁ icchaṁ paṇidahati.
‘Mā maṁ jaññū’ti icchati, ‘mā maṁ jaññū’ti saṅkappati, ‘mā maṁ jaññū’ti vācaṁ bhāsati, ‘mā maṁ jaññū’ti kāyena parakkamati. So tassa vacīduccaritassa paṭicchādanahetu …pe… so tassa manoduccaritassa paṭicchādanahetu …pe… ‘mā maṁ jaññū’ti kāyena parakkamati.
Idamassa vaḍḍhiyā vadāmi.
Tamenaṁ pesalā sabrahmacārī evamāhaṁsu:
‘ayañca so āyasmā evaṅkārī evaṁsamācāro’ti.
Idamassa codanāya vadāmi.
Tamenaṁ araññagataṁ vā rukkhamūlagataṁ vā suññāgāragataṁ vā vippaṭisārasahagatā pāpakā akusalavitakkā samudācaranti.
Idamassa anucariyāya vadāmi.
Sa kho so, bhikkhave, daliddo assako anāḷhiko kāyena duccaritaṁ caritvā vācāya duccaritaṁ caritvā manasā duccaritaṁ caritvā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā nirayabandhane vā bajjhati tiracchānayonibandhane vā.
Nāhaṁ, bhikkhave, aññaṁ ekabandhanampi samanupassāmi evaṁdāruṇaṁ evaṅkaṭukaṁ evaṁantarāyakaraṁ anuttarassa yogakkhemassa adhigamāya, yathayidaṁ, bhikkhave, nirayabandhanaṁ vā tiracchānayonibandhanaṁ vāti.
Dāliddiyaṁ dukkhaṁ loke,
iṇādānañca vuccati;
Daliddo iṇamādāya,
bhuñjamāno vihaññati.
Tato anucaranti naṁ,
bandhanampi nigacchati;
Etañhi bandhanaṁ dukkhaṁ,
kāmalābhābhijappinaṁ.
Tatheva ariyavinaye,
saddhā yassa na vijjati;
Ahirīko anottappī,
pāpakammavinibbayo.
Kāyaduccaritaṁ katvā,
vacīduccaritāni ca;
Manoduccaritaṁ katvā,
‘mā maṁ jaññū’ti icchati.
So saṁsappati kāyena,
vācāya uda cetasā;
Pāpakammaṁ pavaḍḍhento,
tattha tattha punappunaṁ.
So pāpakammo dummedho,
jānaṁ dukkaṭamattano;
Daliddo iṇamādāya,
bhuñjamāno vihaññati.
Tato anucaranti naṁ,
saṅkappā mānasā dukhā;
Gāme vā yadi vāraññe,
yassa vippaṭisārajā.
So pāpakammo dummedho,
jānaṁ dukkaṭamattano;
Yonimaññataraṁ gantvā,
niraye vāpi bajjhati.
Etañhi bandhanaṁ dukkhaṁ,
yamhā dhīro pamuccati;
Dhammaladdhehi bhogehi,
dadaṁ cittaṁ pasādayaṁ.
Ubhayattha kaṭaggāho,
saddhassa gharamesino;
Diṭṭhadhammahitatthāya,
samparāyasukhāya ca;
Evametaṁ gahaṭṭhānaṁ,
cāgo puññaṁ pavaḍḍhati.
Tatheva ariyavinaye,
saddhā yassa patiṭṭhitā;
Hirīmano ca ottappī,
paññavā sīlasaṁvuto.
Eso kho ariyavinaye,
‘sukhajīvī’ti vuccati;
Nirāmisaṁ sukhaṁ laddhā,
upekkhaṁ adhitiṭṭhati.
Pañca nīvaraṇe hitvā,
niccaṁ āraddhavīriyo;
Jhānāni upasampajja,
ekodi nipako sato.
Evaṁ ñatvā yathābhūtaṁ,
sabbasaṁyojanakkhaye;
Sabbaso anupādāya,
sammā cittaṁ vimuccati.
Tassa sammā vimuttassa,
ñāṇañce hoti tādino;
‘Akuppā me vimuttī’ti,
bhavasaṁyojanakkhaye.
Etaṁ kho paramaṁ ñāṇaṁ,
etaṁ sukhamanuttaraṁ;
Asokaṁ virajaṁ khemaṁ,
etaṁ ānaṇyamuttaman”ti.
Tatiyaṁ.