TTC 1Một thời, Tôn giả Nàrada trú ở Pàtaliputta tại khu vườn Kukkuta (Kê Viên). Lúc bấy giờ, hoàng hậu Bhaddà của vua Munda mệnh chung, được ái luyến thương yêu. Vì quá thương yêu hoàng hậu Bhaddà, vua không tắm rửa, không thoa dầu, không ăn uống, không lo các công việc, ngày đêm sầu muộn, ôm ấp thân của hoàng hậu Bhaddà. Rồi vua Munda bảo Piyaka, người giữ kho bạc:
—Này Piyaka, hãy đặt thân hoàng hậu Bhaddà vào trong một hòm sắt đựng đầy dầu, và đậy lại với một hòm bằng sắt khác; nhờ vậy chúng ta có thể thấy thân hoàng hậu Bhaddà lâu hơn.
—Thưa vâng, tâu Ðại vương.
Piyaka, người giữ kho bạc vâng đáp vua Munda, đặt thân hoàng hậu Bhaddà vào trong một hòm sắt đều đầy dầu, và đậy lại với một hòm bằng sắt khác. Rồi Piyaka, vị giữ kho bạc cho vua nghĩ như sau: “ Hoàng hậu Bhaddà của vua Munda này đã mệnh chung, được ái luyến thương yêu, vì quá thương yêu hoàng hậu Bhaddà, vua không tắm rửa, không thoa dầu, không ăn uống, không lo các công việc, ngày đêm sầu muộn, ôm ấp thân của hoàng hậu Bhaddà. Hãy để vua Munda đến yết kiến một vị Sa-môn hay Bà-la-môn, sau khi nghe pháp từ vị ấy, có thể bỏ được mũi tên sầu muộn”. Rồi Piyaka, người giữ kho bạc nghĩ như sau: “Có Tôn giả Nàrada này trú ở Pàtaliputta, tại khu vườn Kukkuta. Tiếng đồn tốt đẹp sau đây được truyền đi về Tôn giả Nàrada: “Bậc Hiền trí, thông minh, bậc trí giả, được nghe nhiều, khéo nói, thiện biện tài, bậc Trưởng lão, bậc A-la-hán”. Hãy để vua Munda đến yết kiến Tôn giả Nàrada. Sau khi nghe pháp từ vị ấy, vua có thể gạt bỏ mũi tên sầu muộn”. Rồi Piyaka, người giữ kho bạc đi đến vua Munda, sau khi đến, nói với vua Munda:
-Tâu Ðại vương, có Tôn giả Nàrada nay trú ở Pàtaliputta, tại khu vườn Kukkuta. Tiếng đồn tốt đẹp sau đây được truyền đi về Tôn giả Nàrada: “Bậc Hiền trí, thông minh, bậc trí giả, được nghe nhiều, khéo nói, thiện biện tài, bậc Trưởng lão, bậc A-la-hán”. Nếu Ðại vương yết kiến Tôn giả Nàrada, rất có thể, sau khi nghe pháp từ Tôn giả Nàrada, Ðại vương có thể gạt bỏ mũi tên sầu muộn.
—Vậy này Piyaka, hãy tin cho Tôn giả Nàrada được biết.
Rồi vua nghĩ: “Làm sao ta tự nghĩ, một người như ta, phải đến thăm như thế nào một Sa-môn hay Bà-la-môn sống ở trong quốc độ, từ trước chưa được ai biết?”
—Thưa vâng, tâu Ðại vương
Pijaka, người giữ kho bạc vâng đáp vua Munda; đi đến Tôn giả Nàrada, sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Nàrasa rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Piyaka, vị giữ kho bạc bạch Tôn giả Nàrada:
Hoàng hậu Bhaddà của vua Munda, thưa Tôn giả, đã mệnh chung, được ái luyến, thương yêu. Vì quá thương yêu hoàng hậu Bhaddà, nên vua không tắm, không thoa dầu, không ăn uống, không lo các công việc, ngày đêm sầu muộn, ôm ấp thân hoàng hậu Bhaddà. Lành thay, Nếu Tôn giả Nàrada thuyết pháp cho vua Munda như thế nào để vua Mundasau khi nghe pháp từ Tôn giả Nàrada, có thể gạt bỏ mũi tên sầu muộn.
—Này Piyaka, nay là thời để vua Munda làm những gì vua nghĩ là phải thời.
Rồi Piyaka, người giữ kho bạc, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Tôn giả Nàrada, thân bên hữu hướng về ngài rồi ra đi, và đi đến vua Munda; sau khi đến, thưa với vua Munda:
—Tâu Ðại vương, cơ hội đã được sắp đặt với Tôn giả Nàrada. Này Ðại vương hãy làm những gì Ðại vương nghĩ là phải thời.
—Vậy này Piyaka, hãy cho thắng các cỗ xe tốt đẹp.
—Thưa vâng, tâu Ðại vương.
Pikaka, người giữ kho bạc vâng đáp vua Munda, cho thắng các cỗ xe tốt đẹp, rồi thưa với vua Munda:
—Tâu Ðại vương, các cỗ xe tốt đẹp đã thắng xong. Nay Ðại vương hãy làm những gì Ðại vương nghĩ là phải thời.
TTC 2Rồi vua Munda leo lên cỗ xe tốt đẹp, cùng với các cỗ xe tốt đẹp khác đi đến khu vườn Kukkuta với uy nghi oai lực của nhà vua để yết kiến Tôn giả Nàrada. Vua đi xe xa cho đến đường đất xe có thể đi được, rồi xuống xe, đi bộ vào khu vườn. Rồi vua Munda đi đến Tôn giả Nàrada, sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Nàrada rồi ngồi xuống một bên. Rồi Tôn giả Nàrada nói với vua đang ngồi một bên.
—Thưa Ðại vương, có năm sự kiện này không thể có được bởi một Sa-môn, hay Bà-la-môn, bởi Ma hay Phạm thiên, hay bởi một ai ở đời. Thế nào là năm?
TTC 3Bị già và muốn không già, là một sự kiện không thể có được bởi một Sa-môn hay Bà-la-môn, bởi Ma hay Phạm thiên, hay bởi một ai ở đời. Bị bệnh và muốn không bệnh… bị chết và muốn không chết… bị hoại diệt và muốn không hoại diệt… bị hoại diệt và muốn không tiêu diệt, là một sự kiện không thể có được bởi một Sa-môn hay Bà-la-môn, bởi Ma hay Phạm thiên, hay bởi một ai ở đời.
TTC 4Với phàm phu không học, thưa Ðại vương, phải bị già và già đến; và khi già đến, kẻ ấy không suy tư: “Không phải chỉ một mình ta phải bị già và già đến. Nhưng đối với loài hữu tình, có đến, có đi, có diệt, có sanh, tất cả loài hữu tình đều phải bị già và già đến. Và nếu phải bị già và khi già đến, ta lại sầu, bi, than khóc, đập ngực, đi đến bất tỉnh, thời ăn uống, không làm ta ưa thích; thân ta trở thành xấu xí; các công việc không có xúc tiến, kẻ thù sẽ hoan hỷ; bạn bè sẽ lo buồn”. Kẻ ấy phải bị già, khi già đến, sầu, bi, than khóc, đập ngực, đi đến bất tỉnh.
Thưa Ðại Vương, đây gọi là kẻ phàm phu không học bị mũi tên sầu muộn tẩm thuốc độc bắn trùng, kẻ ấy tự làm mình ưu não.
TTC 5Lại nữa, thưa Ðại vương, với kẻ phàm phu không học, phải bị bệnh và bệnh đến… phải bị chết và chết đến… phải bị hoại diệt và hoại diệt đến… phải bị tiêu diệt và tiêu diệt đến; khi tiêu diệt đến, kẻ ấy không suy tư: “Không phải chỉ một mình ta phải bị tiêu diệt và tiêu diệt đến. Nhưng đối với các loài hữu tình có đến, có đi, có diệt, có sanh, tất cả loài hữu tình đều phải bị tiêu diệt và tiêu diệt đến. Và nếu phải bị tiêu diệt, khi tiêu diệt đến, ta lại sầu, bi, than khóc, đập ngực, đi đến bất tỉnh, thời ăn uống không làm ta ưa thích; thân ta trở thành xấu xí; các công việc không có xúc tiến; kẻ thù sẽ hoan hỷ, bạn bè sẽ lo buồn”. Kẻ ấy phải bị tiêu diệt, khi tiêu diệt đến, sầu, bi than khóc, đập ngực, đi đến bất tỉnh.
Thưa Ðại vương, đây gọi là kẻ phàm phu không học bị mũi tên sầu muộn tẩm thuốc độc bắn trúng, kẻ ấy tự làm mình ưu não.
TTC 6Với vị Thánh đệ tử có học, thưa Ðại vương, bị già đến; và già đến; khi già đến, vị ấy có suy tư: “Không phải chỉ một mình ta phải bị già và già đến. Nhưng đối với các loài hữu tình có đến, có đi; có diệt, có sanh, tất cả các loài hữu tình đều phải bị già và già đến. Và nếu phải bị già và khi già đến, ta lại sầu, bi, than khóc, đập ngực, đi đến bất tỉnh, thời ăn uống không làm ta ưa thích; thân ta trở thành xấu xí; các công việc không có xúc tiến; kẻ thù sẽ hoan hỷ; bạn bè sẽ lo buồn”. Vị ấy phải bị già, khi già đến, không sầu, không bi, không than khóc, không đập ngực, không đi đến bất tỉnh.
Thưa Ðại vương, đây gọi là vị Thánh đệ tử có học, được nhổ lên là mũi tên sầu muộn có tẩm thuốc độc, mà kẻ phàm phu không học bị bắn trúng, tự làm mình ưu não. Không sầu muộn, không bị tên bắn trúng, vị Thánh đệ tử tự làm mình được hoàn toàn tịch tịnh.
TTC 7Lại nữa, thưa Ðại vương, với vị Thánh đệ tử có học phải bị bệnh và bệnh đến… phải bị chết và chết đến… phải bị hoại diệt và hoại diệt đến… phải bị tiêu diệt và tiêu diệt đến; khi tiêu diệt đến, vị ấy có suy tư: “Không phải chỉ một mình ta phải bị tiêu diệt và tiêu diệt đến. Nhưng đối với các loài hữu tình, có đến, có đi, có diệt, có sanh, tất cả các loài hữu tình đều phải bị tiêu diệt và tiêu diệt đến. Và nếu phải bị tiêu diệt và khi tiêu diệt đến, ta lại sầu, bi, than khóc, đập ngực, đi đến bất tỉnh, thời ăn uống không làm ta ưa thích, thân ta trở thành xấu xí; các công việc không có xúc tiến; kẻ thù sẽ hoan hỷ; bạn bè sẽ lo buồn”. Vị ấy phải bị tiêu diệt, khi tiêu diệt đến không sầu, không bi, không than khóc, không đập ngực, không đi đến bất tỉnh.
Thưa Ðại vương, đây gọi là vị Thánh đệ tử có học, được nhổ lên là mũi tên sầu muộn có tẩm thuốc độc mà kẻ phàm phu không học bị bắn trúng, tự làm mình ưu não. Không sầu muộn, không bị tên bắn, vị Thánh đệ tử tự làm mình được hoàn toàn tịch tịnh.
Các pháp này, thưa Ðại vương, là năm sự kiện không thể có được bởi Sa-môn hay Bà-la-môn, bởi Ma hay Phạm thiên, hay bởi một ai ở đời.
Không sầu, không than khóc,
Lợi ích được thật ít,
Biết nó sầu, nó khổ,
Kẻ địch tự vui sướng.
Do vậy, bậc Hiền trí,
Giữa các sự bất hạnh,
Không hoảng hốt run sợ,
Biết phân tích lợi ích.
Kẻ địch bị khổ não,
Thấy sắc diện không đổi,
Với tụ niệm văn chú,
Với lời thật khéo nói,
Với bố thí chơn chánh,
Với truyền thống khéo giữ,
Chỗ nào được lợi ích,
Chỗ ấy gắng tinh cần.
Nếu biết lợi không được,
Cả ta và người khác,
Không sầu, biết chịu đựng,
Mong vị ấy nghĩ rằng:
Nay ta phải làm gì?
Phải kiên trì thế nào?
TTC 8Sau khi được nghe như vậy, vua Munda thưa với Tôn giả Nàrada:
—Thưa Tôn giả, pháp thoại này tên gì?
—Thưa Ðại vương, pháp thoại này tên là “Nhổ lên mũi tên sầu muộn”.
—Thật vậy, thưa Tôn giả, được nhổ lên là mũi tên sầu muộn! Khi con nghe pháp thoại này, mũi tên sầu muộn đã được đoạn tận.
Rồi vua Munda bảo Piyaka, vị gìn giữ kho bạc:
—Này Piyaka, hãy cho thiêu đốt thân của hoàng hậu Bhaddà, rồi xây tháp cho hoàng hậu. Bắt đầu từ hôm sau, chúng ta sẽ tắm rửa, sẽ thoa dầu, sẽ ăn cơm, sẽ lo làm các công việc.
Ekaṁ samayaṁ āyasmā nārado pāṭaliputte viharati kukkuṭārāme.
Tena kho pana samayena muṇḍassa rañño bhaddā devī kālaṅkatā hoti piyā manāpā.
So bhaddāya deviyā kālaṅkatāya piyāya manāpāya neva nhāyati na vilimpati na bhattaṁ bhuñjati na kammantaṁ payojeti—
rattindivaṁ bhaddāya deviyā sarīre ajjhomucchito.
Atha kho muṇḍo rājā piyakaṁ kosārakkhaṁ āmantesi:
“tena hi, samma piyaka, bhaddāya deviyā sarīraṁ āyasāya teladoṇiyā pakkhipitvā aññissā āyasāya doṇiyā paṭikujjatha, yathā mayaṁ bhaddāya deviyā sarīraṁ cirataraṁ passeyyāmā”ti.
“Evaṁ, devā”ti kho piyako kosārakkho muṇḍassa rañño paṭissutvā bhaddāya deviyā sarīraṁ āyasāya teladoṇiyā pakkhipitvā aññissā āyasāya doṇiyā paṭikujji.
Atha kho piyakassa kosārakkhassa etadahosi:
“imassa kho muṇḍassa rañño bhaddā devī kālaṅkatā piyā manāpā.
So bhaddāya deviyā kālaṅkatāya piyāya manāpāya neva nhāyati na vilimpati na bhattaṁ bhuñjati na kammantaṁ payojeti—
rattindivaṁ bhaddāya deviyā sarīre ajjhomucchito.
Kaṁ nu kho muṇḍo rājā samaṇaṁ vā brāhmaṇaṁ vā payirupāseyya, yassa dhammaṁ sutvā sokasallaṁ pajaheyyā”ti.
Atha kho piyakassa kosārakkhassa etadahosi:
“ayaṁ kho āyasmā nārado pāṭaliputte viharati kukkuṭārāme.
Taṁ kho panāyasmantaṁ nāradaṁ evaṁ kalyāṇo kittisaddo abbhuggato:
‘paṇḍito viyatto medhāvī bahussuto cittakathī kalyāṇapaṭibhāno vuddho ceva arahā ca’.
Yannūna muṇḍo rājā āyasmantaṁ nāradaṁ payirupāseyya, appeva nāma muṇḍo rājā āyasmato nāradassa dhammaṁ sutvā sokasallaṁ pajaheyyā”ti.
Atha kho piyako kosārakkho yena muṇḍo rājā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā muṇḍaṁ rājānaṁ etadavoca:
“ayaṁ kho, deva, āyasmā nārado pāṭaliputte viharati kukkuṭārāme.
Taṁ kho panāyasmantaṁ nāradaṁ evaṁ kalyāṇo kittisaddo abbhuggato:
‘paṇḍito viyatto medhāvī bahussuto cittakathī kalyāṇapaṭibhāno vuddho ceva arahā ca’.
Yadi pana devo āyasmantaṁ nāradaṁ payirupāseyya, appeva nāma devo āyasmato nāradassa dhammaṁ sutvā sokasallaṁ pajaheyyā”ti.
“Tena hi, samma piyaka, āyasmantaṁ nāradaṁ paṭivedehi.
Kathañhi nāma mādiso samaṇaṁ vā brāhmaṇaṁ vā vijite vasantaṁ pubbe appaṭisaṁvidito upasaṅkamitabbaṁ maññeyyā”ti.
“Evaṁ, devā”ti kho piyako kosārakkho muṇḍassa rañño paṭissutvā yenāyasmā nārado tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ nāradaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho piyako kosārakkho āyasmantaṁ nāradaṁ etadavoca:
“Imassa, bhante, muṇḍassa rañño bhaddā devī kālaṅkatā piyā manāpā.
So bhaddāya deviyā kālaṅkatāya piyāya manāpāya neva nhāyati na vilimpati na bhattaṁ bhuñjati na kammantaṁ payojeti—
rattindivaṁ bhaddāya deviyā sarīre ajjhomucchito.
Sādhu, bhante, āyasmā nārado muṇḍassa rañño tathā dhammaṁ desetu yathā muṇḍo rājā āyasmato nāradassa dhammaṁ sutvā sokasallaṁ pajaheyyā”ti.
“Yassadāni, piyaka, muṇḍo rājā kālaṁ maññatī”ti.
Atha kho piyako kosārakkho uṭṭhāyāsanā āyasmantaṁ nāradaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā yena muṇḍo rājā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā muṇḍaṁ rājānaṁ etadavoca:
“katāvakāso kho, deva, āyasmatā nāradena.
Yassadāni devo kālaṁ maññatī”ti.
“Tena hi, samma piyaka, bhadrāni bhadrāni yānāni yojāpehī”ti.
“Evaṁ, devā”ti kho piyako kosārakkho muṇḍassa rañño paṭissutvā bhadrāni bhadrāni yānāni yojāpetvā muṇḍaṁ rājānaṁ etadavoca:
“yuttāni kho te, deva, bhadrāni bhadrāni yānāni.
Yassadāni devo kālaṁ maññatī”ti.
Atha kho muṇḍo rājā bhadraṁ yānaṁ abhiruhitvā bhadrehi bhadrehi yānehi yena kukkuṭārāmo tena pāyāsi mahaccā rājānubhāvena āyasmantaṁ nāradaṁ dassanāya.
Yāvatikā yānassa bhūmi yānena gantvā, yānā paccorohitvā pattikova ārāmaṁ pāvisi.
Atha kho muṇḍo rājā yena āyasmā nārado tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ nāradaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho muṇḍaṁ rājānaṁ āyasmā nārado etadavoca:
“Pañcimāni, mahārāja, alabbhanīyāni ṭhānāni samaṇena vā brāhmaṇena vā devena vā mārena vā brahmunā vā kenaci vā lokasmiṁ.
Katamāni pañca?
‘Jarādhammaṁ mā jīrī’ti alabbhanīyaṁ ṭhānaṁ samaṇena vā brāhmaṇena vā devena vā mārena vā brahmunā vā kenaci vā lokasmiṁ.
‘Byādhidhammaṁ mā byādhīyī’ti …pe… ‘maraṇadhammaṁ mā mīyī’ti … ‘khayadhammaṁ mā khīyī’ti … ‘nassanadhammaṁ mā nassī’ti alabbhanīyaṁ ṭhānaṁ samaṇena vā brāhmaṇena vā devena vā mārena vā brahmunā vā kenaci vā lokasmiṁ.
Assutavato, mahārāja, puthujjanassa jarādhammaṁ jīrati.
So jarādhamme jiṇṇe na iti paṭisañcikkhati:
‘na kho mayhevekassa jarādhammaṁ jīrati, atha kho yāvatā sattānaṁ āgati gati cuti upapatti sabbesaṁ sattānaṁ jarādhammaṁ jīrati.
Ahañceva kho pana jarādhamme jiṇṇe soceyyaṁ kilameyyaṁ parideveyyaṁ, urattāḷiṁ kandeyyaṁ, sammohaṁ āpajjeyyaṁ, bhattampi me nacchādeyya, kāyepi dubbaṇṇiyaṁ okkameyya, kammantāpi nappavatteyyuṁ, amittāpi attamanā assu, mittāpi dummanā assū’ti.
So jarādhamme jiṇṇe socati kilamati paridevati, urattāḷiṁ kandati, sammohaṁ āpajjati.
Ayaṁ vuccati, mahārāja:
‘assutavā puthujjano viddho savisena sokasallena attānaṁyeva paritāpeti’.
Puna caparaṁ, mahārāja, assutavato puthujjanassa byādhidhammaṁ byādhīyati …pe… maraṇadhammaṁ mīyati … khayadhammaṁ khīyati … nassanadhammaṁ nassati.
So nassanadhamme naṭṭhe na iti paṭisañcikkhati:
‘na kho mayhevekassa nassanadhammaṁ nassati, atha kho yāvatā sattānaṁ āgati gati cuti upapatti sabbesaṁ sattānaṁ nassanadhammaṁ nassati.
Ahañceva kho pana nassanadhamme naṭṭhe soceyyaṁ kilameyyaṁ parideveyyaṁ, urattāḷiṁ kandeyyaṁ, sammohaṁ āpajjeyyaṁ, bhattampi me nacchādeyya, kāyepi dubbaṇṇiyaṁ okkameyya, kammantāpi nappavatteyyuṁ, amittāpi attamanā assu, mittāpi dummanā assū’ti.
So nassanadhamme naṭṭhe socati kilamati paridevati, urattāḷiṁ kandati, sammohaṁ āpajjati.
Ayaṁ vuccati, mahārāja:
‘assutavā puthujjano viddho savisena sokasallena attānaṁyeva paritāpeti’.
Sutavato ca kho, mahārāja, ariyasāvakassa jarādhammaṁ jīrati.
So jarādhamme jiṇṇe iti paṭisañcikkhati:
‘na kho mayhevekassa jarādhammaṁ jīrati, atha kho yāvatā sattānaṁ āgati gati cuti upapatti sabbesaṁ sattānaṁ jarādhammaṁ jīrati.
Ahañceva kho pana jarādhamme jiṇṇe soceyyaṁ kilameyyaṁ parideveyyaṁ, urattāḷiṁ kandeyyaṁ, sammohaṁ āpajjeyyaṁ, bhattampi me nacchādeyya, kāyepi dubbaṇṇiyaṁ okkameyya, kammantāpi nappavatteyyuṁ, amittāpi attamanā assu, mittāpi dummanā assū’ti.
So jarādhamme jiṇṇe na socati na kilamati na paridevati, na urattāḷiṁ kandati, na sammohaṁ āpajjati.
Ayaṁ vuccati, mahārāja:
‘sutavā ariyasāvako abbuhi savisaṁ sokasallaṁ, yena viddho assutavā puthujjano attānaṁyeva paritāpeti.
Asoko visallo ariyasāvako attānaṁyeva parinibbāpeti’.
Puna caparaṁ, mahārāja, sutavato ariyasāvakassa byādhidhammaṁ byādhīyati …pe… maraṇadhammaṁ mīyati … khayadhammaṁ khīyati … nassanadhammaṁ nassati.
So nassanadhamme naṭṭhe iti paṭisañcikkhati:
‘na kho mayhevekassa nassanadhammaṁ nassati, atha kho yāvatā sattānaṁ āgati gati cuti upapatti sabbesaṁ sattānaṁ nassanadhammaṁ nassati.
Ahañceva kho pana nassanadhamme naṭṭhe soceyyaṁ kilameyyaṁ parideveyyaṁ, urattāḷiṁ kandeyyaṁ, sammohaṁ āpajjeyyaṁ, bhattampi me nacchādeyya, kāyepi dubbaṇṇiyaṁ okkameyya, kammantāpi nappavatteyyuṁ, amittāpi attamanā assu, mittāpi dummanā assū’ti.
So nassanadhamme naṭṭhe na socati na kilamati na paridevati, na urattāḷiṁ kandati, na sammohaṁ āpajjati.
Ayaṁ vuccati, mahārāja:
‘sutavā ariyasāvako abbuhi savisaṁ sokasallaṁ, yena viddho assutavā puthujjano attānaṁyeva paritāpeti.
Asoko visallo ariyasāvako attānaṁyeva parinibbāpeti’.
Imāni kho, mahārāja, pañca alabbhanīyāni ṭhānāni samaṇena vā brāhmaṇena vā devena vā mārena vā brahmunā vā kenaci vā lokasminti.
Na socanāya paridevanāya,
Atthodha labbhā api appakopi;
Socantamenaṁ dukhitaṁ viditvā,
Paccatthikā attamanā bhavanti.
Yato ca kho paṇḍito āpadāsu,
Na vedhatī atthavinicchayaññū;
Paccatthikāssa dukhitā bhavanti,
Disvā mukhaṁ avikāraṁ purāṇaṁ.
Jappena mantena subhāsitena,
Anuppadānena paveṇiyā vā;
Yathā yathā yattha labhetha atthaṁ,
Tathā tathā tattha parakkameyya.
Sace pajāneyya alabbhaneyyo,
Mayāva aññena vā esa attho;
Asocamāno adhivāsayeyya,
Kammaṁ daḷhaṁ kinti karomi dānī”ti.
Evaṁ vutte, muṇḍo rājā āyasmantaṁ nāradaṁ etadavoca:
“ko nāmo ayaṁ, bhante, dhammapariyāyo”ti?
“Sokasallaharaṇo nāma ayaṁ, mahārāja, dhammapariyāyo”ti.
“Taggha, bhante, sokasallaharaṇo.
Imañhi me, bhante, dhammapariyāyaṁ sutvā sokasallaṁ pahīnan”ti.
Atha kho muṇḍo rājā piyakaṁ kosārakkhaṁ āmantesi:
“tena hi, samma piyaka, bhaddāya deviyā sarīraṁ jhāpetha; thūpañcassā karotha.
Ajjatagge dāni mayaṁ nhāyissāma ceva vilimpissāma bhattañca bhuñjissāma kammante ca payojessāmā”ti.
Dasamaṁ.
Muṇḍarājavaggo pañcamo.
Tassuddānaṁ
Ādiyo sappuriso iṭṭhā,
manāpadāyībhisandaṁ;
Sampadā ca dhanaṁ ṭhānaṁ,
kosalo nāradena cāti.
Paṭhamo paṇṇāsako samatto.
SC 1On one occasion the Venerable Nārada was dwelling at Pāṭaliputta at the Cock’s Park. Now on that occasion King Muṇḍa’s wife Queen Bhaddā, who had been dear and beloved to him, had died. Since her death, he did not bathe, anoint himself, eat his meals, or undertake his work. Day and night, he remained brooding over Queen Bhaddā’s body. Then King Muṇḍa addressed his treasurer, Piyaka: “Well then, friend Piyaka, an.iii.58 immerse Queen Bhaddā’s body in an iron vat filled with oil and enclose it in another iron vat so that we can see Queen Bhaddā’s body still longer.”
SC 2“Yes, sire,” the treasurer Piyaka replied. Then he immersed Queen Bhaddā’s body in an iron vat filled with oil and enclosed it in another iron vat.
SC 3Then it occurred to the treasurer Piyaka: “King Muṇḍa’s wife Queen Bhaddā has died, and she was dear and beloved to him. Since her death, he does not bathe, anoint himself, eat his meals, or undertake his work. Day and night, he remains brooding over the queen’s body. What ascetic or brahmin can King Muṇḍa visit, so that, having heard his Dhamma, he might abandon the dart of sorrow?”
SC 4Then it occurred to Piyaka: “The Venerable Nārada is dwelling at Pāṭaliputta, in the Cock’s Park. Now a good report about this Venerable Nārada has circulated thus: ‘He is wise, competent, intelligent, learned, an artful speaker, eloquent, mature, and an arahant.’ Suppose King Muṇḍa would visit the Venerable Nārada: perhaps if he hears the Venerable Nārada’s Dhamma, he would abandon the dart of sorrow.”
SC 5Then the treasurer Piyaka approached King Muṇḍa and said to him: “Sire, the Venerable Nārada is dwelling at Pāṭaliputta, in the Cock’s Park. Now a good report about this Venerable Nārada has circulated thus: ‘He is wise … and an arahant.’ Your majesty should visit the Venerable Nārada. Perhaps, when you hear the Venerable Nārada’s Dhamma, you would abandon the dart of sorrow.” The king said: “Well then, friend Piyaka, an.iii.59 inform the Venerable Nārada. For how can one like me think of approaching an ascetic or brahmin living in his realm without first informing him?”
SC 6“Yes, sire,” Piyaka replied. Then he went to the Venerable Nārada, paid homage to him, sat down to one side, and said: “Bhante, King Muṇḍa’s wife Queen Bhaddā, who was dear and beloved to him, has died. Since the queen’s death, he does not bathe, anoint himself, eat his meals, or undertake his work. Day and night, he remains brooding over the queen’s body. It would be good, Bhante, if the Venerable Nārada would teach the Dhamma to King Muṇḍa in such a way that he can abandon the dart of sorrow.”
“Then let King Muṇḍa come at his own convenience.”
SC 7Then the treasurer Piyaka rose from his seat, paid homage to the Venerable Nārada, circumambulated him keeping the right side toward him, and went to King Muṇḍa. He told the king: “Sire, the Venerable Nārada has given his consent. You may go at your own convenience.”
SC 8“Well then, friend Piyaka, get the finest carriages harnessed!”
SC 9“Yes, sire,” Piyaka replied, and after he had gotten the finest carriages harnessed he told King Muṇḍa: “Sire, the finest carriages have been harnessed. You may go at your own convenience.”
SC 10Then King Muṇḍa mounted a fine carriage, and along with the other carriages he set out in full royal splendor for the Cock’s Park to see the Venerable Nārada. He went by carriage as far as the ground was suitable for a carriage, and then he dismounted from his carriage and entered the park on foot. He approached the Venerable Nārada, paid homage to him, and sat down to one side. an.iii.60 The Venerable Nārada then said to him:
SC 11“Great king, there are these five situations that are unobtainable by an ascetic or a brahmin, by a deva, Māra, or Brahmā, or by anyone in the world. What five? (1) ‘May what is subject to old age not grow old!’: this is a situation that is unobtainable by an ascetic or a brahmin, by a deva, Māra, or Brahmā, or by anyone in the world. (2) ‘May what is subject to illness not fall ill!’: this is a situation that is unobtainable by an ascetic … or by anyone in the world. (3) ‘May what is subject to death not die!’: this is a situation that is unobtainable by an ascetic … or by anyone in the world. (4) ‘May what is subject to destruction not be destroyed!’: this is a situation that is unobtainable by an ascetic … or by anyone in the world. (5) ‘May what is subject to loss not be lost!’: this is a situation that is unobtainable by an ascetic or a brahmin, by a deva, Māra, or Brahmā, or by anyone in the world….
SC 12The sequel is identical to 5:48, including the verses. [61–62]
SC 13When this was said, King Muṇḍa asked the Venerable Nārada: “Bhante, what is the name of this exposition of the Dhamma?”
SC 14“Great king, this exposition of the Dhamma is named the extraction of the dart of sorrow.”
SC 15“Surely, Bhante, it is the extraction of the dart of sorrow! Surely, it is the extraction of the dart of sorrow! For having heard this exposition of the Dhamma, I have abandoned the dart of sorrow.”
SC 16Then King Muṇḍa said to the treasurer Piyaka: “Well then, friend Piyaka, have Queen Bhaddā’s body cremated and build a memorial mound for her. From today on, I will bathe and anoint myself and eat my meals and undertake my work.” an.iii.63
TTC 1Một thời, Tôn giả Nàrada trú ở Pàtaliputta tại khu vườn Kukkuta (Kê Viên). Lúc bấy giờ, hoàng hậu Bhaddà của vua Munda mệnh chung, được ái luyến thương yêu. Vì quá thương yêu hoàng hậu Bhaddà, vua không tắm rửa, không thoa dầu, không ăn uống, không lo các công việc, ngày đêm sầu muộn, ôm ấp thân của hoàng hậu Bhaddà. Rồi vua Munda bảo Piyaka, người giữ kho bạc:
—Này Piyaka, hãy đặt thân hoàng hậu Bhaddà vào trong một hòm sắt đựng đầy dầu, và đậy lại với một hòm bằng sắt khác; nhờ vậy chúng ta có thể thấy thân hoàng hậu Bhaddà lâu hơn.
—Thưa vâng, tâu Ðại vương.
Piyaka, người giữ kho bạc vâng đáp vua Munda, đặt thân hoàng hậu Bhaddà vào trong một hòm sắt đều đầy dầu, và đậy lại với một hòm bằng sắt khác. Rồi Piyaka, vị giữ kho bạc cho vua nghĩ như sau: “ Hoàng hậu Bhaddà của vua Munda này đã mệnh chung, được ái luyến thương yêu, vì quá thương yêu hoàng hậu Bhaddà, vua không tắm rửa, không thoa dầu, không ăn uống, không lo các công việc, ngày đêm sầu muộn, ôm ấp thân của hoàng hậu Bhaddà. Hãy để vua Munda đến yết kiến một vị Sa-môn hay Bà-la-môn, sau khi nghe pháp từ vị ấy, có thể bỏ được mũi tên sầu muộn”. Rồi Piyaka, người giữ kho bạc nghĩ như sau: “Có Tôn giả Nàrada này trú ở Pàtaliputta, tại khu vườn Kukkuta. Tiếng đồn tốt đẹp sau đây được truyền đi về Tôn giả Nàrada: “Bậc Hiền trí, thông minh, bậc trí giả, được nghe nhiều, khéo nói, thiện biện tài, bậc Trưởng lão, bậc A-la-hán”. Hãy để vua Munda đến yết kiến Tôn giả Nàrada. Sau khi nghe pháp từ vị ấy, vua có thể gạt bỏ mũi tên sầu muộn”. Rồi Piyaka, người giữ kho bạc đi đến vua Munda, sau khi đến, nói với vua Munda:
-Tâu Ðại vương, có Tôn giả Nàrada nay trú ở Pàtaliputta, tại khu vườn Kukkuta. Tiếng đồn tốt đẹp sau đây được truyền đi về Tôn giả Nàrada: “Bậc Hiền trí, thông minh, bậc trí giả, được nghe nhiều, khéo nói, thiện biện tài, bậc Trưởng lão, bậc A-la-hán”. Nếu Ðại vương yết kiến Tôn giả Nàrada, rất có thể, sau khi nghe pháp từ Tôn giả Nàrada, Ðại vương có thể gạt bỏ mũi tên sầu muộn.
—Vậy này Piyaka, hãy tin cho Tôn giả Nàrada được biết.
Rồi vua nghĩ: “Làm sao ta tự nghĩ, một người như ta, phải đến thăm như thế nào một Sa-môn hay Bà-la-môn sống ở trong quốc độ, từ trước chưa được ai biết?”
—Thưa vâng, tâu Ðại vương
Pijaka, người giữ kho bạc vâng đáp vua Munda; đi đến Tôn giả Nàrada, sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Nàrasa rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Piyaka, vị giữ kho bạc bạch Tôn giả Nàrada:
Hoàng hậu Bhaddà của vua Munda, thưa Tôn giả, đã mệnh chung, được ái luyến, thương yêu. Vì quá thương yêu hoàng hậu Bhaddà, nên vua không tắm, không thoa dầu, không ăn uống, không lo các công việc, ngày đêm sầu muộn, ôm ấp thân hoàng hậu Bhaddà. Lành thay, Nếu Tôn giả Nàrada thuyết pháp cho vua Munda như thế nào để vua Mundasau khi nghe pháp từ Tôn giả Nàrada, có thể gạt bỏ mũi tên sầu muộn.
—Này Piyaka, nay là thời để vua Munda làm những gì vua nghĩ là phải thời.
Rồi Piyaka, người giữ kho bạc, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Tôn giả Nàrada, thân bên hữu hướng về ngài rồi ra đi, và đi đến vua Munda; sau khi đến, thưa với vua Munda:
—Tâu Ðại vương, cơ hội đã được sắp đặt với Tôn giả Nàrada. Này Ðại vương hãy làm những gì Ðại vương nghĩ là phải thời.
—Vậy này Piyaka, hãy cho thắng các cỗ xe tốt đẹp.
—Thưa vâng, tâu Ðại vương.
Pikaka, người giữ kho bạc vâng đáp vua Munda, cho thắng các cỗ xe tốt đẹp, rồi thưa với vua Munda:
—Tâu Ðại vương, các cỗ xe tốt đẹp đã thắng xong. Nay Ðại vương hãy làm những gì Ðại vương nghĩ là phải thời.
TTC 2Rồi vua Munda leo lên cỗ xe tốt đẹp, cùng với các cỗ xe tốt đẹp khác đi đến khu vườn Kukkuta với uy nghi oai lực của nhà vua để yết kiến Tôn giả Nàrada. Vua đi xe xa cho đến đường đất xe có thể đi được, rồi xuống xe, đi bộ vào khu vườn. Rồi vua Munda đi đến Tôn giả Nàrada, sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Nàrada rồi ngồi xuống một bên. Rồi Tôn giả Nàrada nói với vua đang ngồi một bên.
—Thưa Ðại vương, có năm sự kiện này không thể có được bởi một Sa-môn, hay Bà-la-môn, bởi Ma hay Phạm thiên, hay bởi một ai ở đời. Thế nào là năm?
TTC 3Bị già và muốn không già, là một sự kiện không thể có được bởi một Sa-môn hay Bà-la-môn, bởi Ma hay Phạm thiên, hay bởi một ai ở đời. Bị bệnh và muốn không bệnh… bị chết và muốn không chết… bị hoại diệt và muốn không hoại diệt… bị hoại diệt và muốn không tiêu diệt, là một sự kiện không thể có được bởi một Sa-môn hay Bà-la-môn, bởi Ma hay Phạm thiên, hay bởi một ai ở đời.
TTC 4Với phàm phu không học, thưa Ðại vương, phải bị già và già đến; và khi già đến, kẻ ấy không suy tư: “Không phải chỉ một mình ta phải bị già và già đến. Nhưng đối với loài hữu tình, có đến, có đi, có diệt, có sanh, tất cả loài hữu tình đều phải bị già và già đến. Và nếu phải bị già và khi già đến, ta lại sầu, bi, than khóc, đập ngực, đi đến bất tỉnh, thời ăn uống, không làm ta ưa thích; thân ta trở thành xấu xí; các công việc không có xúc tiến, kẻ thù sẽ hoan hỷ; bạn bè sẽ lo buồn”. Kẻ ấy phải bị già, khi già đến, sầu, bi, than khóc, đập ngực, đi đến bất tỉnh.
Thưa Ðại Vương, đây gọi là kẻ phàm phu không học bị mũi tên sầu muộn tẩm thuốc độc bắn trùng, kẻ ấy tự làm mình ưu não.
TTC 5Lại nữa, thưa Ðại vương, với kẻ phàm phu không học, phải bị bệnh và bệnh đến… phải bị chết và chết đến… phải bị hoại diệt và hoại diệt đến… phải bị tiêu diệt và tiêu diệt đến; khi tiêu diệt đến, kẻ ấy không suy tư: “Không phải chỉ một mình ta phải bị tiêu diệt và tiêu diệt đến. Nhưng đối với các loài hữu tình có đến, có đi, có diệt, có sanh, tất cả loài hữu tình đều phải bị tiêu diệt và tiêu diệt đến. Và nếu phải bị tiêu diệt, khi tiêu diệt đến, ta lại sầu, bi, than khóc, đập ngực, đi đến bất tỉnh, thời ăn uống không làm ta ưa thích; thân ta trở thành xấu xí; các công việc không có xúc tiến; kẻ thù sẽ hoan hỷ, bạn bè sẽ lo buồn”. Kẻ ấy phải bị tiêu diệt, khi tiêu diệt đến, sầu, bi than khóc, đập ngực, đi đến bất tỉnh.
Thưa Ðại vương, đây gọi là kẻ phàm phu không học bị mũi tên sầu muộn tẩm thuốc độc bắn trúng, kẻ ấy tự làm mình ưu não.
TTC 6Với vị Thánh đệ tử có học, thưa Ðại vương, bị già đến; và già đến; khi già đến, vị ấy có suy tư: “Không phải chỉ một mình ta phải bị già và già đến. Nhưng đối với các loài hữu tình có đến, có đi; có diệt, có sanh, tất cả các loài hữu tình đều phải bị già và già đến. Và nếu phải bị già và khi già đến, ta lại sầu, bi, than khóc, đập ngực, đi đến bất tỉnh, thời ăn uống không làm ta ưa thích; thân ta trở thành xấu xí; các công việc không có xúc tiến; kẻ thù sẽ hoan hỷ; bạn bè sẽ lo buồn”. Vị ấy phải bị già, khi già đến, không sầu, không bi, không than khóc, không đập ngực, không đi đến bất tỉnh.
Thưa Ðại vương, đây gọi là vị Thánh đệ tử có học, được nhổ lên là mũi tên sầu muộn có tẩm thuốc độc, mà kẻ phàm phu không học bị bắn trúng, tự làm mình ưu não. Không sầu muộn, không bị tên bắn trúng, vị Thánh đệ tử tự làm mình được hoàn toàn tịch tịnh.
TTC 7Lại nữa, thưa Ðại vương, với vị Thánh đệ tử có học phải bị bệnh và bệnh đến… phải bị chết và chết đến… phải bị hoại diệt và hoại diệt đến… phải bị tiêu diệt và tiêu diệt đến; khi tiêu diệt đến, vị ấy có suy tư: “Không phải chỉ một mình ta phải bị tiêu diệt và tiêu diệt đến. Nhưng đối với các loài hữu tình, có đến, có đi, có diệt, có sanh, tất cả các loài hữu tình đều phải bị tiêu diệt và tiêu diệt đến. Và nếu phải bị tiêu diệt và khi tiêu diệt đến, ta lại sầu, bi, than khóc, đập ngực, đi đến bất tỉnh, thời ăn uống không làm ta ưa thích, thân ta trở thành xấu xí; các công việc không có xúc tiến; kẻ thù sẽ hoan hỷ; bạn bè sẽ lo buồn”. Vị ấy phải bị tiêu diệt, khi tiêu diệt đến không sầu, không bi, không than khóc, không đập ngực, không đi đến bất tỉnh.
Thưa Ðại vương, đây gọi là vị Thánh đệ tử có học, được nhổ lên là mũi tên sầu muộn có tẩm thuốc độc mà kẻ phàm phu không học bị bắn trúng, tự làm mình ưu não. Không sầu muộn, không bị tên bắn, vị Thánh đệ tử tự làm mình được hoàn toàn tịch tịnh.
Các pháp này, thưa Ðại vương, là năm sự kiện không thể có được bởi Sa-môn hay Bà-la-môn, bởi Ma hay Phạm thiên, hay bởi một ai ở đời.
Không sầu, không than khóc,
Lợi ích được thật ít,
Biết nó sầu, nó khổ,
Kẻ địch tự vui sướng.
Do vậy, bậc Hiền trí,
Giữa các sự bất hạnh,
Không hoảng hốt run sợ,
Biết phân tích lợi ích.
Kẻ địch bị khổ não,
Thấy sắc diện không đổi,
Với tụ niệm văn chú,
Với lời thật khéo nói,
Với bố thí chơn chánh,
Với truyền thống khéo giữ,
Chỗ nào được lợi ích,
Chỗ ấy gắng tinh cần.
Nếu biết lợi không được,
Cả ta và người khác,
Không sầu, biết chịu đựng,
Mong vị ấy nghĩ rằng:
Nay ta phải làm gì?
Phải kiên trì thế nào?
TTC 8Sau khi được nghe như vậy, vua Munda thưa với Tôn giả Nàrada:
—Thưa Tôn giả, pháp thoại này tên gì?
—Thưa Ðại vương, pháp thoại này tên là “Nhổ lên mũi tên sầu muộn”.
—Thật vậy, thưa Tôn giả, được nhổ lên là mũi tên sầu muộn! Khi con nghe pháp thoại này, mũi tên sầu muộn đã được đoạn tận.
Rồi vua Munda bảo Piyaka, vị gìn giữ kho bạc:
—Này Piyaka, hãy cho thiêu đốt thân của hoàng hậu Bhaddà, rồi xây tháp cho hoàng hậu. Bắt đầu từ hôm sau, chúng ta sẽ tắm rửa, sẽ thoa dầu, sẽ ăn cơm, sẽ lo làm các công việc.
Ekaṁ samayaṁ āyasmā nārado pāṭaliputte viharati kukkuṭārāme.
Tena kho pana samayena muṇḍassa rañño bhaddā devī kālaṅkatā hoti piyā manāpā.
So bhaddāya deviyā kālaṅkatāya piyāya manāpāya neva nhāyati na vilimpati na bhattaṁ bhuñjati na kammantaṁ payojeti—
rattindivaṁ bhaddāya deviyā sarīre ajjhomucchito.
Atha kho muṇḍo rājā piyakaṁ kosārakkhaṁ āmantesi:
“tena hi, samma piyaka, bhaddāya deviyā sarīraṁ āyasāya teladoṇiyā pakkhipitvā aññissā āyasāya doṇiyā paṭikujjatha, yathā mayaṁ bhaddāya deviyā sarīraṁ cirataraṁ passeyyāmā”ti.
“Evaṁ, devā”ti kho piyako kosārakkho muṇḍassa rañño paṭissutvā bhaddāya deviyā sarīraṁ āyasāya teladoṇiyā pakkhipitvā aññissā āyasāya doṇiyā paṭikujji.
Atha kho piyakassa kosārakkhassa etadahosi:
“imassa kho muṇḍassa rañño bhaddā devī kālaṅkatā piyā manāpā.
So bhaddāya deviyā kālaṅkatāya piyāya manāpāya neva nhāyati na vilimpati na bhattaṁ bhuñjati na kammantaṁ payojeti—
rattindivaṁ bhaddāya deviyā sarīre ajjhomucchito.
Kaṁ nu kho muṇḍo rājā samaṇaṁ vā brāhmaṇaṁ vā payirupāseyya, yassa dhammaṁ sutvā sokasallaṁ pajaheyyā”ti.
Atha kho piyakassa kosārakkhassa etadahosi:
“ayaṁ kho āyasmā nārado pāṭaliputte viharati kukkuṭārāme.
Taṁ kho panāyasmantaṁ nāradaṁ evaṁ kalyāṇo kittisaddo abbhuggato:
‘paṇḍito viyatto medhāvī bahussuto cittakathī kalyāṇapaṭibhāno vuddho ceva arahā ca’.
Yannūna muṇḍo rājā āyasmantaṁ nāradaṁ payirupāseyya, appeva nāma muṇḍo rājā āyasmato nāradassa dhammaṁ sutvā sokasallaṁ pajaheyyā”ti.
Atha kho piyako kosārakkho yena muṇḍo rājā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā muṇḍaṁ rājānaṁ etadavoca:
“ayaṁ kho, deva, āyasmā nārado pāṭaliputte viharati kukkuṭārāme.
Taṁ kho panāyasmantaṁ nāradaṁ evaṁ kalyāṇo kittisaddo abbhuggato:
‘paṇḍito viyatto medhāvī bahussuto cittakathī kalyāṇapaṭibhāno vuddho ceva arahā ca’.
Yadi pana devo āyasmantaṁ nāradaṁ payirupāseyya, appeva nāma devo āyasmato nāradassa dhammaṁ sutvā sokasallaṁ pajaheyyā”ti.
“Tena hi, samma piyaka, āyasmantaṁ nāradaṁ paṭivedehi.
Kathañhi nāma mādiso samaṇaṁ vā brāhmaṇaṁ vā vijite vasantaṁ pubbe appaṭisaṁvidito upasaṅkamitabbaṁ maññeyyā”ti.
“Evaṁ, devā”ti kho piyako kosārakkho muṇḍassa rañño paṭissutvā yenāyasmā nārado tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ nāradaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho piyako kosārakkho āyasmantaṁ nāradaṁ etadavoca:
“Imassa, bhante, muṇḍassa rañño bhaddā devī kālaṅkatā piyā manāpā.
So bhaddāya deviyā kālaṅkatāya piyāya manāpāya neva nhāyati na vilimpati na bhattaṁ bhuñjati na kammantaṁ payojeti—
rattindivaṁ bhaddāya deviyā sarīre ajjhomucchito.
Sādhu, bhante, āyasmā nārado muṇḍassa rañño tathā dhammaṁ desetu yathā muṇḍo rājā āyasmato nāradassa dhammaṁ sutvā sokasallaṁ pajaheyyā”ti.
“Yassadāni, piyaka, muṇḍo rājā kālaṁ maññatī”ti.
Atha kho piyako kosārakkho uṭṭhāyāsanā āyasmantaṁ nāradaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā yena muṇḍo rājā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā muṇḍaṁ rājānaṁ etadavoca:
“katāvakāso kho, deva, āyasmatā nāradena.
Yassadāni devo kālaṁ maññatī”ti.
“Tena hi, samma piyaka, bhadrāni bhadrāni yānāni yojāpehī”ti.
“Evaṁ, devā”ti kho piyako kosārakkho muṇḍassa rañño paṭissutvā bhadrāni bhadrāni yānāni yojāpetvā muṇḍaṁ rājānaṁ etadavoca:
“yuttāni kho te, deva, bhadrāni bhadrāni yānāni.
Yassadāni devo kālaṁ maññatī”ti.
Atha kho muṇḍo rājā bhadraṁ yānaṁ abhiruhitvā bhadrehi bhadrehi yānehi yena kukkuṭārāmo tena pāyāsi mahaccā rājānubhāvena āyasmantaṁ nāradaṁ dassanāya.
Yāvatikā yānassa bhūmi yānena gantvā, yānā paccorohitvā pattikova ārāmaṁ pāvisi.
Atha kho muṇḍo rājā yena āyasmā nārado tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ nāradaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho muṇḍaṁ rājānaṁ āyasmā nārado etadavoca:
“Pañcimāni, mahārāja, alabbhanīyāni ṭhānāni samaṇena vā brāhmaṇena vā devena vā mārena vā brahmunā vā kenaci vā lokasmiṁ.
Katamāni pañca?
‘Jarādhammaṁ mā jīrī’ti alabbhanīyaṁ ṭhānaṁ samaṇena vā brāhmaṇena vā devena vā mārena vā brahmunā vā kenaci vā lokasmiṁ.
‘Byādhidhammaṁ mā byādhīyī’ti …pe… ‘maraṇadhammaṁ mā mīyī’ti … ‘khayadhammaṁ mā khīyī’ti … ‘nassanadhammaṁ mā nassī’ti alabbhanīyaṁ ṭhānaṁ samaṇena vā brāhmaṇena vā devena vā mārena vā brahmunā vā kenaci vā lokasmiṁ.
Assutavato, mahārāja, puthujjanassa jarādhammaṁ jīrati.
So jarādhamme jiṇṇe na iti paṭisañcikkhati:
‘na kho mayhevekassa jarādhammaṁ jīrati, atha kho yāvatā sattānaṁ āgati gati cuti upapatti sabbesaṁ sattānaṁ jarādhammaṁ jīrati.
Ahañceva kho pana jarādhamme jiṇṇe soceyyaṁ kilameyyaṁ parideveyyaṁ, urattāḷiṁ kandeyyaṁ, sammohaṁ āpajjeyyaṁ, bhattampi me nacchādeyya, kāyepi dubbaṇṇiyaṁ okkameyya, kammantāpi nappavatteyyuṁ, amittāpi attamanā assu, mittāpi dummanā assū’ti.
So jarādhamme jiṇṇe socati kilamati paridevati, urattāḷiṁ kandati, sammohaṁ āpajjati.
Ayaṁ vuccati, mahārāja:
‘assutavā puthujjano viddho savisena sokasallena attānaṁyeva paritāpeti’.
Puna caparaṁ, mahārāja, assutavato puthujjanassa byādhidhammaṁ byādhīyati …pe… maraṇadhammaṁ mīyati … khayadhammaṁ khīyati … nassanadhammaṁ nassati.
So nassanadhamme naṭṭhe na iti paṭisañcikkhati:
‘na kho mayhevekassa nassanadhammaṁ nassati, atha kho yāvatā sattānaṁ āgati gati cuti upapatti sabbesaṁ sattānaṁ nassanadhammaṁ nassati.
Ahañceva kho pana nassanadhamme naṭṭhe soceyyaṁ kilameyyaṁ parideveyyaṁ, urattāḷiṁ kandeyyaṁ, sammohaṁ āpajjeyyaṁ, bhattampi me nacchādeyya, kāyepi dubbaṇṇiyaṁ okkameyya, kammantāpi nappavatteyyuṁ, amittāpi attamanā assu, mittāpi dummanā assū’ti.
So nassanadhamme naṭṭhe socati kilamati paridevati, urattāḷiṁ kandati, sammohaṁ āpajjati.
Ayaṁ vuccati, mahārāja:
‘assutavā puthujjano viddho savisena sokasallena attānaṁyeva paritāpeti’.
Sutavato ca kho, mahārāja, ariyasāvakassa jarādhammaṁ jīrati.
So jarādhamme jiṇṇe iti paṭisañcikkhati:
‘na kho mayhevekassa jarādhammaṁ jīrati, atha kho yāvatā sattānaṁ āgati gati cuti upapatti sabbesaṁ sattānaṁ jarādhammaṁ jīrati.
Ahañceva kho pana jarādhamme jiṇṇe soceyyaṁ kilameyyaṁ parideveyyaṁ, urattāḷiṁ kandeyyaṁ, sammohaṁ āpajjeyyaṁ, bhattampi me nacchādeyya, kāyepi dubbaṇṇiyaṁ okkameyya, kammantāpi nappavatteyyuṁ, amittāpi attamanā assu, mittāpi dummanā assū’ti.
So jarādhamme jiṇṇe na socati na kilamati na paridevati, na urattāḷiṁ kandati, na sammohaṁ āpajjati.
Ayaṁ vuccati, mahārāja:
‘sutavā ariyasāvako abbuhi savisaṁ sokasallaṁ, yena viddho assutavā puthujjano attānaṁyeva paritāpeti.
Asoko visallo ariyasāvako attānaṁyeva parinibbāpeti’.
Puna caparaṁ, mahārāja, sutavato ariyasāvakassa byādhidhammaṁ byādhīyati …pe… maraṇadhammaṁ mīyati … khayadhammaṁ khīyati … nassanadhammaṁ nassati.
So nassanadhamme naṭṭhe iti paṭisañcikkhati:
‘na kho mayhevekassa nassanadhammaṁ nassati, atha kho yāvatā sattānaṁ āgati gati cuti upapatti sabbesaṁ sattānaṁ nassanadhammaṁ nassati.
Ahañceva kho pana nassanadhamme naṭṭhe soceyyaṁ kilameyyaṁ parideveyyaṁ, urattāḷiṁ kandeyyaṁ, sammohaṁ āpajjeyyaṁ, bhattampi me nacchādeyya, kāyepi dubbaṇṇiyaṁ okkameyya, kammantāpi nappavatteyyuṁ, amittāpi attamanā assu, mittāpi dummanā assū’ti.
So nassanadhamme naṭṭhe na socati na kilamati na paridevati, na urattāḷiṁ kandati, na sammohaṁ āpajjati.
Ayaṁ vuccati, mahārāja:
‘sutavā ariyasāvako abbuhi savisaṁ sokasallaṁ, yena viddho assutavā puthujjano attānaṁyeva paritāpeti.
Asoko visallo ariyasāvako attānaṁyeva parinibbāpeti’.
Imāni kho, mahārāja, pañca alabbhanīyāni ṭhānāni samaṇena vā brāhmaṇena vā devena vā mārena vā brahmunā vā kenaci vā lokasminti.
Na socanāya paridevanāya,
Atthodha labbhā api appakopi;
Socantamenaṁ dukhitaṁ viditvā,
Paccatthikā attamanā bhavanti.
Yato ca kho paṇḍito āpadāsu,
Na vedhatī atthavinicchayaññū;
Paccatthikāssa dukhitā bhavanti,
Disvā mukhaṁ avikāraṁ purāṇaṁ.
Jappena mantena subhāsitena,
Anuppadānena paveṇiyā vā;
Yathā yathā yattha labhetha atthaṁ,
Tathā tathā tattha parakkameyya.
Sace pajāneyya alabbhaneyyo,
Mayāva aññena vā esa attho;
Asocamāno adhivāsayeyya,
Kammaṁ daḷhaṁ kinti karomi dānī”ti.
Evaṁ vutte, muṇḍo rājā āyasmantaṁ nāradaṁ etadavoca:
“ko nāmo ayaṁ, bhante, dhammapariyāyo”ti?
“Sokasallaharaṇo nāma ayaṁ, mahārāja, dhammapariyāyo”ti.
“Taggha, bhante, sokasallaharaṇo.
Imañhi me, bhante, dhammapariyāyaṁ sutvā sokasallaṁ pahīnan”ti.
Atha kho muṇḍo rājā piyakaṁ kosārakkhaṁ āmantesi:
“tena hi, samma piyaka, bhaddāya deviyā sarīraṁ jhāpetha; thūpañcassā karotha.
Ajjatagge dāni mayaṁ nhāyissāma ceva vilimpissāma bhattañca bhuñjissāma kammante ca payojessāmā”ti.
Dasamaṁ.
Muṇḍarājavaggo pañcamo.
Tassuddānaṁ
Ādiyo sappuriso iṭṭhā,
manāpadāyībhisandaṁ;
Sampadā ca dhanaṁ ṭhānaṁ,
kosalo nāradena cāti.
Paṭhamo paṇṇāsako samatto.