TTC 1Bấy giờ một Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì, đối với Thánh đệ tử có nghe nhiều, nghi ngờ không khởi lên đối với những vấn đề không được tuyên bố?
TTC 2—Này Tỷ-kheo, do kiến diệt, với vị Thánh đệ từ có nghe nhiều, nghi ngờ không khởi lên đối với những vấn đề không được tuyên bố: “Sau khi chết, Như Lai có tồn tại”, này Tỷ-kheo, là một tà kiến. “Sau khi chết, Như Lai không tồn tại”, này Tỷ-kheo, là một tà kiến. “Sau khi chết, Như Lai có tồn tại và không tồn tại”, này Tỷ-kheo, là một tà kiến. “Sau khi chết, Như Lai không có tồn tại và không không tồn tại”, này Tỷ-kheo, là một tà kiến. Này Tỷ-kheo, kẻ phàm phu không có nghe nhiều, không tuệ tri kiến, không tuệ tri kiến tập khởi, không tuệ tri kiến đoạn diệt, không tuệ tri con đường đưa đến kiến đoạn diệt; kiến ấy của người ấy tăng trưởng. Người ấy không thoát khỏi khổ”. Này Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử có nghe nhiều, tuệ tri kiến, tuệ tri kiến tập khởi, tuệ tri kiến đoạn diệt, tuệ tri con đường đưa đến kiến đoạn diệt; kiến của người ấy tiêu diệt. Người ấy giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng: “Người ấy thoát khỏi khổ”. Này Tỷ-kheo, do biết vậy, do thấy vậy, vị Thánh đệ tử có nghe nhiều không có tuyên bố: “Sau khi chết, Như Lai có tồn tại”, không có tuyên bố: “Sau khi chết, Như Lai không có tồn tại”, không có tuyên bố: “Sau khi chết, Như Lai có tồn tại và không tồn tại”, không có tuyên bố: “Sau khi chết, Như Lai không tồn tại và không không tồn tại”. Do biết vậy, do thấy vậy, này Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử có nghe nhiều có một thái độ không tuyên bố đối với những vấn đề không được tuyên bố. Do biết vậy, do thấy vậy, này Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử không có sợ hãi, không có rung động, không có chấn động, không rơi vào hoảng sợ đối với các vấn đề không được tuyên bố: “Sau khi chết, Như Lai có tồn tại”, này Tỷ-kheo, thuộc về khát ái, thuộc về tưởng, thuộc về tư duy, thuộc về lý luận, thuộc về chấp thủ, thuộc về truy hối. “Sau khi chết, Như Lai không tồn tại”, này Tỷ-kheo, thuộc về khát ái, thuộc về tưởng, thuộc về tư duy, thuộc về lý luận, thuộc về chấp thủ, thuộc về truy hối. “Sau khi chết, Như Lai có tồn tại và không tồn tại”, này Tỷ-kheo, thuộc về khát ái, thuộc về tưởng, thuộc về tư duy, thuộc về lý luận, thuộc về chấp thủ, thuộc về truy hối. “Sau khi chết, Như Lai không tồn tại và không không tồn tại”, này Tỷ-kheo, thuộc về khát ái, thuộc về tưởng, thuộc về tư duy, thuộc về lý luận, thuộc về chấp thủ, thuộc về truy hối. Này Tỷ-kheo, kẻ phàm phu nghe ít, không tuệ tri truy hối, không tuệ tri truy hối tập khởi, không tuệ tri truy hối đoạn diệt, không tuệ tri con đường đưa đến truy hối đoạn diệt. Truy hối của người ấy tăng trưởng. Người ấy không giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng: “Người ấy không thoát khỏi khổ”. Này Tỷ-kheo, Thánh đệ tử có nghe nhiều, tuệ tri truy hối, tuệ tri truy hối tập khởi, tuệ tri truy hối đoạn diệt, tuệ tri con đường đi đến truy hối đoạn diệt. Truy hối của vị ấy tiêu diệt. Vị ấy giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng: “Người ấy thoát khỏi khổ”. Do biết vậy, do thấy vậy, này Tỷ-kheo, Thánh đệ tử nghe nhiều, không tuyên bố: “Sau khi chết, Như Lai có tồn tại”, không tuyên bố: “Sau khi chết, Như Lai không tồn tại”, không tuyên bố: “Sau khi chết, Như Lai có tồn tại và không tồn tại”, không tuyên bố: “Sau khi chết, Như Lai không tồn tại và không không tồn tại”. Do biết vậy, do thấy vậy, này Tỷ-kheo, Thánh đệ tử không có sợ hãi, không có rung động, không có chấn động, không rơi vào hoảng sợ đối với các vấn đề không được tuyên bố. Này các Tỷ-kheo, đây là nhân, đây là duyên, đối với Thánh đệ tử có nghe nhiều, nghi ngờ không khởi lên đối với những vấn đề không được tuyên bố.
Atha kho aññataro bhikkhu yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho so bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca:
“ko nu kho, bhante, hetu ko paccayo yena sutavato ariyasāvakassa vicikicchā nuppajjati abyākatavatthūsū”ti?
“Diṭṭhinirodhā kho, bhikkhu, sutavato ariyasāvakassa vicikicchā nuppajjati abyākatavatthūsu.
‘Hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti kho, bhikkhu, diṭṭhigatametaṁ;
‘na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti kho, bhikkhu, diṭṭhigatametaṁ;
‘hoti ca na ca hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti kho, bhikkhu, diṭṭhigatametaṁ;
‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti kho, bhikkhu, diṭṭhigatametaṁ.
Assutavā, bhikkhu, puthujjano diṭṭhiṁ nappajānāti, diṭṭhisamudayaṁ nappajānāti, diṭṭhinirodhaṁ nappajānāti, diṭṭhinirodhagāminiṁ paṭipadaṁ nappajānāti.
Tassa sā diṭṭhi pavaḍḍhati, so na parimuccati jātiyā jarāya maraṇena sokehi paridevehi dukkhehi domanassehi upāyāsehi. ‘Na parimuccati dukkhasmā’ti vadāmi.
Sutavā ca kho, bhikkhu, ariyasāvako diṭṭhiṁ pajānāti, diṭṭhisamudayaṁ pajānāti, diṭṭhinirodhaṁ pajānāti, diṭṭhinirodhagāminiṁ paṭipadaṁ pajānāti.
Tassa sā diṭṭhi nirujjhati, so parimuccati jātiyā jarāya maraṇena sokehi paridevehi dukkhehi domanassehi upāyāsehi. ‘Parimuccati dukkhasmā’ti vadāmi.
Evaṁ jānaṁ kho, bhikkhu, sutavā ariyasāvako evaṁ passaṁ ‘hoti tathāgato paraṁ maraṇā’tipi na byākaroti;
‘na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’tipi na byākaroti;
‘hoti ca na ca hoti tathāgato paraṁ maraṇā’tipi na byākaroti;
‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’tipi na byākaroti.
Evaṁ jānaṁ kho, bhikkhu, sutavā ariyasāvako evaṁ passaṁ evaṁ abyākaraṇadhammo hoti abyākatavatthūsu.
Evaṁ jānaṁ kho, bhikkhu, sutavā ariyasāvako evaṁ passaṁ na chambhati, na kampati, na vedhati, na santāsaṁ āpajjati abyākatavatthūsu.
‘Hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti kho, bhikkhu, taṇhāgatametaṁ …pe…
saññāgatametaṁ …pe…
maññitametaṁ …pe…
papañcitametaṁ …pe…
upādānagatametaṁ …pe…
‘hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti kho, bhikkhu, vippaṭisāro eso;
‘na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti kho, bhikkhu, vippaṭisāro eso;
‘hoti ca na ca hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti kho, bhikkhu, vippaṭisāro eso;
‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti kho, bhikkhu, vippaṭisāro eso.
Assutavā, bhikkhu, puthujjano vippaṭisāraṁ nappajānāti, vippaṭisārasamudayaṁ nappajānāti, vippaṭisāranirodhaṁ nappajānāti, vippaṭisāranirodhagāminiṁ paṭipadaṁ nappajānāti.
Tassa so vippaṭisāro pavaḍḍhati, so na parimuccati jātiyā jarāya maraṇena sokehi paridevehi dukkhehi domanassehi upāyāsehi. ‘Na parimuccati dukkhasmā’ti vadāmi.
Sutavā ca kho, bhikkhu, ariyasāvako vippaṭisāraṁ pajānāti, vippaṭisārasamudayaṁ pajānāti, vippaṭisāranirodhaṁ pajānāti, vippaṭisāranirodhagāminiṁ paṭipadaṁ pajānāti.
Tassa so vippaṭisāro nirujjhati, so parimuccati jātiyā …pe… ‘… dukkhasmā’ti vadāmi.
Evaṁ jānaṁ kho, bhikkhu, sutavā ariyasāvako evaṁ passaṁ ‘hoti tathāgato paraṁ maraṇā’tipi na byākaroti …pe…
‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’tipi na byākaroti.
Evaṁ jānaṁ kho, bhikkhu, sutavā ariyasāvako evaṁ passaṁ evaṁ abyākaraṇadhammo hoti abyākatavatthūsu.
Evaṁ jānaṁ kho, bhikkhu, sutavā ariyasāvako evaṁ passaṁ na chambhati, na kampati, na vedhati, na santāsaṁ āpajjati abyākatavatthūsu.
Ayaṁ kho, bhikkhu, hetu ayaṁ paccayo yena sutavato ariyasāvakassa vicikicchā nuppajjati abyākatavatthūsū”ti.
Paṭhamaṁ.
Then a certain monk went to the Blessed One and, on arrival, having bowed down to him, sat to one side. As he was sitting there, he said to the Blessed One, “Lord, what is the cause, what is the reason, why uncertainty doesn’t arise in an instructed disciple of the noble ones over the undeclared issues?”
“Because of the cessation of views, monk, uncertainty doesn’t arise in an instructed disciple of the noble ones over the undeclared issues. The view-standpoint, ‘The Tathagata exists after death,’ the view-standpoint, ‘The Tathagata doesn’t exist after death,’ the view-standpoint, ‘The Tathagata both does and doesn’t exist after death,’ the view-standpoint, ‘The Tathagata neither does nor doesn’t exist after death’: The uninstructed run-of-the-mill person doesn’t discern view, doesn’t discern the origination of view, doesn’t discern the cessation of view, doesn’t discern the path of practice leading to the cessation of view, and so for him that view grows. He is not freed from birth, aging, & death; from sorrows, lamentations, pains, distresses, and despairs. He is not freed, I tell you, from suffering & stress. But the instructed disciple of the noble ones discerns view, discerns the origination of view, discerns the cessation of view, discerns the path of practice leading to the cessation of view, and so for him that view ceases. He is freed from birth, aging, & death; from sorrows, lamentations, pains, distresses, and despairs. He is freed, I tell you, from suffering & stress.
“Thus knowing, thus seeing, the instructed disciple of the noble ones doesn’t declare that ‘The Tathagata exists after death,’ doesn’t declare that ‘The Tathagata doesn’t exist after death,’ doesn’t declare that ‘The Tathagata both does and doesn’t exist after death,’ doesn’t declare that ‘The Tathagata neither does nor doesn’t exist after death.’ Thus knowing, thus seeing, he is thus of a nature not to declare the undeclared issues. Thus knowing, thus seeing, he isn’t paralyzed, doesn’t quake, doesn’t shiver or shake over the undeclared issues.
“‘The Tathagata exists after death’—this craving-standpoint, this perception-standpoint, this product of conceiving, this product of elaboration, this clinging-standpoint: That’s anguish. ‘The Tathagata doesn’t exist after death’: That’s anguish. ‘The Tathagata both does and doesn’t exist after death’: That’s anguish. ‘The Tathagata neither does nor doesn’t exist after death’: That’s anguish.
The uninstructed run-of-the-mill person doesn’t discern anguish, doesn’t discern the origination of anguish, doesn’t discern the cessation of anguish, doesn’t discern the path of practice leading to the cessation of anguish, and so for him that anguish grows. He is not freed from birth, aging, & death; from sorrows, lamentations, pains, distresses, and despairs. He is not freed, I tell you, from suffering & stress. But the instructed disciple of the noble ones discerns anguish, discerns the origination of anguish, discerns the cessation of anguish, discerns the path of practice leading to the cessation of anguish, and so for him that anguish ceases. He is freed from birth, aging, & death; from sorrows, lamentations, pains, distresses, and despairs. He is freed, I tell you, from suffering & stress.
“Thus knowing, thus seeing, the instructed disciple of the noble ones doesn’t declare that ‘The Tathagata exists after death,’ doesn’t declare that ‘The Tathagata doesn’t exist after death,’ doesn’t declare that ‘The Tathagata both does and doesn’t after death,’ doesn’t declare that ‘The Tathagata neither does nor doesn’t exist after death.’ Thus knowing, thus seeing, he is thus of a nature not to declare the undeclared issues. Thus knowing, thus seeing, he isn’t paralyzed, doesn’t quake, doesn’t shiver or shake over the undeclared issues.”
TTC 1Bấy giờ một Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì, đối với Thánh đệ tử có nghe nhiều, nghi ngờ không khởi lên đối với những vấn đề không được tuyên bố?
TTC 2—Này Tỷ-kheo, do kiến diệt, với vị Thánh đệ từ có nghe nhiều, nghi ngờ không khởi lên đối với những vấn đề không được tuyên bố: “Sau khi chết, Như Lai có tồn tại”, này Tỷ-kheo, là một tà kiến. “Sau khi chết, Như Lai không tồn tại”, này Tỷ-kheo, là một tà kiến. “Sau khi chết, Như Lai có tồn tại và không tồn tại”, này Tỷ-kheo, là một tà kiến. “Sau khi chết, Như Lai không có tồn tại và không không tồn tại”, này Tỷ-kheo, là một tà kiến. Này Tỷ-kheo, kẻ phàm phu không có nghe nhiều, không tuệ tri kiến, không tuệ tri kiến tập khởi, không tuệ tri kiến đoạn diệt, không tuệ tri con đường đưa đến kiến đoạn diệt; kiến ấy của người ấy tăng trưởng. Người ấy không thoát khỏi khổ”. Này Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử có nghe nhiều, tuệ tri kiến, tuệ tri kiến tập khởi, tuệ tri kiến đoạn diệt, tuệ tri con đường đưa đến kiến đoạn diệt; kiến của người ấy tiêu diệt. Người ấy giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng: “Người ấy thoát khỏi khổ”. Này Tỷ-kheo, do biết vậy, do thấy vậy, vị Thánh đệ tử có nghe nhiều không có tuyên bố: “Sau khi chết, Như Lai có tồn tại”, không có tuyên bố: “Sau khi chết, Như Lai không có tồn tại”, không có tuyên bố: “Sau khi chết, Như Lai có tồn tại và không tồn tại”, không có tuyên bố: “Sau khi chết, Như Lai không tồn tại và không không tồn tại”. Do biết vậy, do thấy vậy, này Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử có nghe nhiều có một thái độ không tuyên bố đối với những vấn đề không được tuyên bố. Do biết vậy, do thấy vậy, này Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử không có sợ hãi, không có rung động, không có chấn động, không rơi vào hoảng sợ đối với các vấn đề không được tuyên bố: “Sau khi chết, Như Lai có tồn tại”, này Tỷ-kheo, thuộc về khát ái, thuộc về tưởng, thuộc về tư duy, thuộc về lý luận, thuộc về chấp thủ, thuộc về truy hối. “Sau khi chết, Như Lai không tồn tại”, này Tỷ-kheo, thuộc về khát ái, thuộc về tưởng, thuộc về tư duy, thuộc về lý luận, thuộc về chấp thủ, thuộc về truy hối. “Sau khi chết, Như Lai có tồn tại và không tồn tại”, này Tỷ-kheo, thuộc về khát ái, thuộc về tưởng, thuộc về tư duy, thuộc về lý luận, thuộc về chấp thủ, thuộc về truy hối. “Sau khi chết, Như Lai không tồn tại và không không tồn tại”, này Tỷ-kheo, thuộc về khát ái, thuộc về tưởng, thuộc về tư duy, thuộc về lý luận, thuộc về chấp thủ, thuộc về truy hối. Này Tỷ-kheo, kẻ phàm phu nghe ít, không tuệ tri truy hối, không tuệ tri truy hối tập khởi, không tuệ tri truy hối đoạn diệt, không tuệ tri con đường đưa đến truy hối đoạn diệt. Truy hối của người ấy tăng trưởng. Người ấy không giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng: “Người ấy không thoát khỏi khổ”. Này Tỷ-kheo, Thánh đệ tử có nghe nhiều, tuệ tri truy hối, tuệ tri truy hối tập khởi, tuệ tri truy hối đoạn diệt, tuệ tri con đường đi đến truy hối đoạn diệt. Truy hối của vị ấy tiêu diệt. Vị ấy giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng: “Người ấy thoát khỏi khổ”. Do biết vậy, do thấy vậy, này Tỷ-kheo, Thánh đệ tử nghe nhiều, không tuyên bố: “Sau khi chết, Như Lai có tồn tại”, không tuyên bố: “Sau khi chết, Như Lai không tồn tại”, không tuyên bố: “Sau khi chết, Như Lai có tồn tại và không tồn tại”, không tuyên bố: “Sau khi chết, Như Lai không tồn tại và không không tồn tại”. Do biết vậy, do thấy vậy, này Tỷ-kheo, Thánh đệ tử không có sợ hãi, không có rung động, không có chấn động, không rơi vào hoảng sợ đối với các vấn đề không được tuyên bố. Này các Tỷ-kheo, đây là nhân, đây là duyên, đối với Thánh đệ tử có nghe nhiều, nghi ngờ không khởi lên đối với những vấn đề không được tuyên bố.
Atha kho aññataro bhikkhu yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho so bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca:
“ko nu kho, bhante, hetu ko paccayo yena sutavato ariyasāvakassa vicikicchā nuppajjati abyākatavatthūsū”ti?
“Diṭṭhinirodhā kho, bhikkhu, sutavato ariyasāvakassa vicikicchā nuppajjati abyākatavatthūsu.
‘Hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti kho, bhikkhu, diṭṭhigatametaṁ;
‘na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti kho, bhikkhu, diṭṭhigatametaṁ;
‘hoti ca na ca hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti kho, bhikkhu, diṭṭhigatametaṁ;
‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti kho, bhikkhu, diṭṭhigatametaṁ.
Assutavā, bhikkhu, puthujjano diṭṭhiṁ nappajānāti, diṭṭhisamudayaṁ nappajānāti, diṭṭhinirodhaṁ nappajānāti, diṭṭhinirodhagāminiṁ paṭipadaṁ nappajānāti.
Tassa sā diṭṭhi pavaḍḍhati, so na parimuccati jātiyā jarāya maraṇena sokehi paridevehi dukkhehi domanassehi upāyāsehi. ‘Na parimuccati dukkhasmā’ti vadāmi.
Sutavā ca kho, bhikkhu, ariyasāvako diṭṭhiṁ pajānāti, diṭṭhisamudayaṁ pajānāti, diṭṭhinirodhaṁ pajānāti, diṭṭhinirodhagāminiṁ paṭipadaṁ pajānāti.
Tassa sā diṭṭhi nirujjhati, so parimuccati jātiyā jarāya maraṇena sokehi paridevehi dukkhehi domanassehi upāyāsehi. ‘Parimuccati dukkhasmā’ti vadāmi.
Evaṁ jānaṁ kho, bhikkhu, sutavā ariyasāvako evaṁ passaṁ ‘hoti tathāgato paraṁ maraṇā’tipi na byākaroti;
‘na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’tipi na byākaroti;
‘hoti ca na ca hoti tathāgato paraṁ maraṇā’tipi na byākaroti;
‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’tipi na byākaroti.
Evaṁ jānaṁ kho, bhikkhu, sutavā ariyasāvako evaṁ passaṁ evaṁ abyākaraṇadhammo hoti abyākatavatthūsu.
Evaṁ jānaṁ kho, bhikkhu, sutavā ariyasāvako evaṁ passaṁ na chambhati, na kampati, na vedhati, na santāsaṁ āpajjati abyākatavatthūsu.
‘Hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti kho, bhikkhu, taṇhāgatametaṁ …pe…
saññāgatametaṁ …pe…
maññitametaṁ …pe…
papañcitametaṁ …pe…
upādānagatametaṁ …pe…
‘hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti kho, bhikkhu, vippaṭisāro eso;
‘na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti kho, bhikkhu, vippaṭisāro eso;
‘hoti ca na ca hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti kho, bhikkhu, vippaṭisāro eso;
‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti kho, bhikkhu, vippaṭisāro eso.
Assutavā, bhikkhu, puthujjano vippaṭisāraṁ nappajānāti, vippaṭisārasamudayaṁ nappajānāti, vippaṭisāranirodhaṁ nappajānāti, vippaṭisāranirodhagāminiṁ paṭipadaṁ nappajānāti.
Tassa so vippaṭisāro pavaḍḍhati, so na parimuccati jātiyā jarāya maraṇena sokehi paridevehi dukkhehi domanassehi upāyāsehi. ‘Na parimuccati dukkhasmā’ti vadāmi.
Sutavā ca kho, bhikkhu, ariyasāvako vippaṭisāraṁ pajānāti, vippaṭisārasamudayaṁ pajānāti, vippaṭisāranirodhaṁ pajānāti, vippaṭisāranirodhagāminiṁ paṭipadaṁ pajānāti.
Tassa so vippaṭisāro nirujjhati, so parimuccati jātiyā …pe… ‘… dukkhasmā’ti vadāmi.
Evaṁ jānaṁ kho, bhikkhu, sutavā ariyasāvako evaṁ passaṁ ‘hoti tathāgato paraṁ maraṇā’tipi na byākaroti …pe…
‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’tipi na byākaroti.
Evaṁ jānaṁ kho, bhikkhu, sutavā ariyasāvako evaṁ passaṁ evaṁ abyākaraṇadhammo hoti abyākatavatthūsu.
Evaṁ jānaṁ kho, bhikkhu, sutavā ariyasāvako evaṁ passaṁ na chambhati, na kampati, na vedhati, na santāsaṁ āpajjati abyākatavatthūsu.
Ayaṁ kho, bhikkhu, hetu ayaṁ paccayo yena sutavato ariyasāvakassa vicikicchā nuppajjati abyākatavatthūsū”ti.
Paṭhamaṁ.