TTC 1—Có năm nghịch tội này, này các Tỷ-kheo, đưa đến đọa xứ, đưa đến địa ngục, không có thể chữa trị. Thế nào là năm?
TTC 2Ðoạt mạng mẹ, đoạt mạng cha, đoạt mạng vị A-la-hán, với ác tâm làm Như Lai chảy máu, phá hòa hợp Tăng.
Này các Tỷ-kheo, năm pháp ngũ nghịch này, đưa đến đọa xứ, đưa đến địa ngục, không thể chữa trị.
“Pañcime, bhikkhave, āpāyikā nerayikā parikuppā atekicchā.
Katame pañca?
Mātā jīvitā voropitā hoti, pitā jīvitā voropito hoti, arahaṁ jīvitā voropito hoti, tathāgatassa duṭṭhena cittena lohitaṁ uppāditaṁ hoti, saṅgho bhinno hoti.
Ime kho, bhikkhave, pañca āpāyikā nerayikā parikuppā atekicchā”ti.
Navamaṁ.
“There are these five inhabitants of the states of deprivation, inhabitants of hell, who are in agony & incurable. Which five? One who has killed his/her mother, one who has killed his/her father, one who has killed an arahant, one who—with a corrupted mind—has caused the blood of a Tathagata to flow, and one who has caused a split in the Sangha. These are the five inhabitants of the states of deprivation, inhabitants of hell, who are in agony & incurable.”
TTC 1—Có năm nghịch tội này, này các Tỷ-kheo, đưa đến đọa xứ, đưa đến địa ngục, không có thể chữa trị. Thế nào là năm?
TTC 2Ðoạt mạng mẹ, đoạt mạng cha, đoạt mạng vị A-la-hán, với ác tâm làm Như Lai chảy máu, phá hòa hợp Tăng.
Này các Tỷ-kheo, năm pháp ngũ nghịch này, đưa đến đọa xứ, đưa đến địa ngục, không thể chữa trị.
“Pañcime, bhikkhave, āpāyikā nerayikā parikuppā atekicchā.
Katame pañca?
Mātā jīvitā voropitā hoti, pitā jīvitā voropito hoti, arahaṁ jīvitā voropito hoti, tathāgatassa duṭṭhena cittena lohitaṁ uppāditaṁ hoti, saṅgho bhinno hoti.
Ime kho, bhikkhave, pañca āpāyikā nerayikā parikuppā atekicchā”ti.
Navamaṁ.