TTC 1Ở đây, Tôn giả Sàriputta gọi các Tỷ-kheo: “Này chư Hiền”.—“Thưa Hiền giả”. Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Sàriputta. Tôn giả Sàriputta nói như sau:
TTC 2—Này chư Hiền, con người cần phải được tìm hiểu trên hai phương diện: cần phải thân cận hay không cần phải thân cận. Y áo, này chư Hiền, cần phải tìm hiểu trên hai phương diện: cần được sử dụng hay không cần được sử dụng. Ðồ ăn khất thực, này chư Hiền, cần phải được tìm hiểu trên hai phương diện: cần được sử dụng hay không cần được sử dụng. Sàng tọa, này chư Hiền, cần phải được tìm hiểu trên hai phương diện: cần được sử dụng hay không cần được sử dụng. Làng và thị trấn, này chư Hiền, cần phải được tìm hiểu trên hai phương diện: cần được tìm đến hay không cần được tìm đến. Quốc độ, này chư Hiền, cần phải được tìm hiểu trên hai phương diện: cần được tìm đến hay không cần được tìm đến.
TTC 3Con người, này chư Hiền, cần phải được tìm hiểu trên hai phương diện: cần phải thân cận hay không cần phải thân cận được nói đến như vậy. Do duyên gì, được nói đến như vậy?
Ở đây, khi biết được về một người như sau: “Người này, nếu ta thân cận, thời các pháp bất thiện tăng trưởng, các pháp thiện bị đoạn giảm. Các vật dụng cần thiết cho đời sống xuất gia mà ta phải có như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh, những vật dụng ấy có được một cách khó khăn. Và vì mục đích gì ta xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Mục đích của Sa-môn hạnh ấy, không đi đến tu tập viên mãn”. Ðối với một người như vậy, này chư hiền, bất luận đêm hay ngày, không hỏi gì, cần phải bỏ đi, không được theo người ấy. Ở đây, khi biết được một người như sau: “Người này, nếu ta thân cận, thời các pháp bất thiện tăng trưởng, các pháp thiện bị đoạn giảm. Các vật dụng cần thiết cho đời sống xuất gia mà ta phải có như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh, những vật dụng ấy có được một cách không khó khăn. Và vì mục đích gì ta xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Mục đích của Sa-môn hạnh ấy, không đi đến tu tập viên mãn”. Ðối với một người như vậy, này chư Hiền, sau khi tính toán, không hỏi gì, cần phải bỏ đi, không được theo người ấy. Ở đây, khi biết được một người như sau: “Người này, nếu ta thân cận, thời các pháp bất thiện giảm thiểu, các pháp thiện tăng trưởng, những vật dụng cần thiết cho đời sống xuất gia mà ta phải có như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh, những vật dụng ấy có được một cách khó khăn. Và vì mục đích gì ta xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Mục đích của Sa-môn hạnh ấy, đi đến tu tập viên mãn”. Này chư Hiền, đối với một người như vậy, sau khi tính toán, cần phải theo người ấy, không được bỏ đi. Ở đây, sau khi biết được một người như sau: “Người này, nếu ta thân cận, thời các pháp bất thiện giảm thiểu, các pháp thiện tăng trưởng, những vật dụng cần thiết cho đời sống xuất gia mà ta phải có như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh, những vật dụng ấy có được một cách không khó khăn. Và vì mục đích gì ta xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Mục đích của Sa-môn hạnh ấy, đi đến tu tập viên mãn”. Này chư Hiền, đối với một người như vậy, cần phải theo cho đến trọn đời, không được bỏ đi, dầu có bị từ chối.
Này chư Hiền, một người cần phải được hiểu biết theo hai phương diện: cần được thân cận và không cần được thân cận đã được nói đến như vậy, chính do duyên này được nói đến.
TTC 4Y áo, này chư Hiền, cần phải được hiểu biết theo hai phương diện: cần được sử dụng hay không cần được sử dụng đã được nói đến như vậy. Do duyên gì được nói đến?
Ở đây, sau khi biết được về y như sau: “Nếu ta sử dụng y này, các pháp bất thiện tăng trưởng, các pháp thiện đoạn giảm; y như vậy không nên sử dụng”. Ở đây, sau khi biết được về y như sau: “Nếu ta sử dụng y này, các pháp bất thiện đoạn giảm, các pháp thiện tăng trưởng; y như vậy nên sử dụng”.
Này chư Hiền, y áo cần phải được hiểu biết theo hai phương diện: cần được sử dụng hay không cần được sử dụng, được nói đến như vậy, do duyên này được nói đến.
TTC 5Ðồ ăn khất thực, này chư Hiền, cần phải được hiểu biết theo hai phương diện: cần được sử dụng hay không cần được sử dụng đã được nói đến như vậy. Do duyên gì được nói đến?
Ở đây, sau khi biết được về đồ ăn khất thực như sau: “Nếu ta sử dụng đồ ăn khất thực này, các pháp bất thiện tăng trưởng, các pháp thiện đoạn giảm; đồ ăn khất thực như vậy không nên sử dụng”. Ở đây, sau khi biết được về đồ ăn khất thực như sau: “Nếu ta sử dụng đồ ăn khất thực này, các pháp bất thiện đoạn giảm, các pháp thiện tăng trưởng; đồ ăn khất thực như vậy nên sử dụng”.
Này chư Hiền, đồ ăn khất thực cần phải được hiểu biết theo hai phương diện: cần được sử dụng hay không cần được sử dụng đã được nói đến như vậy, do duyên này được nói đến.
TTC 6Sàng tọa, này chư Hiền, cần phải được hiểu biết theo hai phương diện: cần được sử dụng hay không cần được sử dụng đã được nói đến như vậy. Do duyên gì được nói đến?
Ở đây, sau khi biết được về sàng tọa như sau: “Nếu ta sử dụng sàng tọa này, các pháp bất thiện tăng trưởng, các pháp thiện đoạn giảm; sàng tọa như vậy không nên sử dụng”. Ở đây, sau khi biết được về sàng tọa như sau: “Nếu ta sử dụng sàng tọa này, các pháp bất thiện đoạn giảm, các pháp thiện tăng trưởng; sàng tọa như vậy nên sử dụng”.
Này chư Hiền, sàng tọa cần phải được hiểu biết theo hai phương diện: cần được sử dụng hay không cần được sử dụng được nói đến như vậy, do duyên này được nói đến.
TTC 7Làng, thị trấn, này chư Hiền, cần phải được hiểu biết theo hai phương diện: cần được tìm đến và không cần được tìm đến đã được nói đến như vậy. Do duyên gì được nói đến?
Ở đây, sau khi biết được về làng, thị trấn như sau: “Nếu ta tìm đến làng, thị trấn này, các pháp bất thiện tăng trưởng, các pháp thiện đoạn giảm; làng và thị trấn như vậy không nên được tìm đến”. Ở đây, sau khi biết được về làng, thị trấn như sau: “Nếu ta tìm đến làng, thị trấn, các pháp bất thiện đoạn giảm, các pháp thiện tăng trưởng; làng, thị trấn như vậy cần được tìm đến”.
Này chư Hiền, làng, thị trấn cần phải được hiểu biết theo hai phương diện: cần được tìm đến hay không cần được tìm đến, được nói đến như vậy, do duyên này được nói đến.
TTC 8Quốc độ, này chư Hiền, cần phải được hiểu biết theo hai phương diện: cần được tìm đến và không cần được tìm đến đã được nói như vậy. Do duyên gì được nói đến?
Ở đây, sau khi biết được về quốc độ như sau: “Nếu ta tìm đến quốc độ này, các pháp bất thiện tăng trưởng, các pháp thiện đoạn giảm; quốc độ như vậy không nên được tìm đến”. Ở đây, sau khi biết được về quốc độ như sau: “Nếu ta tìm đến quốc độ này, các pháp bất thiện đoạn giảm, các pháp thiện tăng trưởng; quốc độ như vậy nên được tìm đến”.
Này chư Hiền, quốc độ cần phải được hiểu biết theo hai phương diện: nên được tìm đến hay không nên được tìm đến, được nói đến như vậy, do duyên này được nói đến.
Tatra kho āyasmā sāriputto bhikkhū āmantesi …pe… āyasmā sāriputto etadavoca:
“Puggalopi, āvuso, duvidhena veditabbo—
sevitabbopi asevitabbopi.
Cīvarampi, āvuso, duvidhena veditabbaṁ—
sevitabbampi asevitabbampi.
Piṇḍapātopi, āvuso, duvidhena veditabbo—
sevitabbopi asevitabbopi.
Senāsanampi, āvuso, duvidhena veditabbaṁ—
sevitabbampi asevitabbampi.
Gāmanigamopi, āvuso, duvidhena veditabbo—
sevitabbopi asevitabbopi.
Janapadapadesopi, āvuso, duvidhena veditabbo—
sevitabbopi asevitabbopi.
‘Puggalopi, āvuso, duvidhena veditabbo—
sevitabbopi asevitabbopī’ti,
iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
Tattha yaṁ jaññā puggalaṁ:
‘imaṁ kho me puggalaṁ sevato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyanti;
ye ca kho me pabbajitena jīvitaparikkhārā samudānetabbā cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānapaccayabhesajjaparikkhārā te ca kasirena samudāgacchanti;
yassa camhi atthāya agārasmā anagāriyaṁ pabbajito so ca me sāmaññattho na bhāvanāpāripūriṁ gacchatī’ti, tenāvuso, puggalena so puggalo rattibhāgaṁ vā divasabhāgaṁ vā saṅkhāpi anāpucchā pakkamitabbaṁ nānubandhitabbo.
Tattha yaṁ jaññā puggalaṁ:
‘imaṁ kho me puggalaṁ sevato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyanti;
ye ca kho me pabbajitena jīvitaparikkhārā samudānetabbā cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānapaccayabhesajjaparikkhārā te ca appakasirena samudāgacchanti;
yassa camhi atthāya agārasmā anagāriyaṁ pabbajito so ca me sāmaññattho na bhāvanāpāripūriṁ gacchatī’ti, tenāvuso, puggalena so puggalo saṅkhāpi anāpucchā pakkamitabbaṁ nānubandhitabbo.
Tattha yaṁ jaññā puggalaṁ:
‘imaṁ kho me puggalaṁ sevato akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhanti;
ye ca kho me pabbajitena jīvitaparikkhārā samudānetabbā cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānapaccayabhesajjaparikkhārā te ca kasirena samudāgacchanti;
yassa camhi atthāya agārasmā anagāriyaṁ pabbajito so ca me sāmaññattho bhāvanāpāripūriṁ gacchatī’ti, tenāvuso, puggalena so puggalo saṅkhāpi anubandhitabbo na pakkamitabbaṁ.
Tattha yaṁ jaññā puggalaṁ:
‘imaṁ kho me puggalaṁ sevato akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhanti;
ye ca kho me pabbajitena jīvitaparikkhārā samudānetabbā cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānapaccayabhesajjaparikkhārā te ca appakasirena samudāgacchanti;
yassa camhi atthāya agārasmā anagāriyaṁ pabbajito so ca me sāmaññattho bhāvanāpāripūriṁ gacchatī’ti, tenāvuso, puggalena so puggalo yāvajīvaṁ anubandhitabbo na pakkamitabbaṁ api panujjamānena.
‘Puggalopi, āvuso, duvidhena veditabbo—
sevitabbopi asevitabbopī’ti,
iti yaṁ taṁ vuttaṁ, idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
‘Cīvarampi, āvuso, duvidhena veditabbaṁ—
sevitabbampi asevitabbampī’ti,
iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
Tattha yaṁ jaññā cīvaraṁ:
‘idaṁ kho me cīvaraṁ sevato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyantī’ti, evarūpaṁ cīvaraṁ na sevitabbaṁ.
Tattha yaṁ jaññā cīvaraṁ:
‘idaṁ kho me cīvaraṁ sevato akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhantī’ti, evarūpaṁ cīvaraṁ sevitabbaṁ.
‘Cīvarampi, āvuso, duvidhena veditabbaṁ—
sevitabbampi asevitabbampī’ti,
iti yaṁ taṁ vuttaṁ, idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
‘Piṇḍapātopi, āvuso, duvidhena veditabbo—
sevitabbopi asevitabbopī’ti,
iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
Tattha yaṁ jaññā piṇḍapātaṁ:
‘imaṁ kho me piṇḍapātaṁ sevato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyantī’ti, evarūpo piṇḍapāto na sevitabbo.
Tattha yaṁ jaññā piṇḍapātaṁ:
‘imaṁ kho me piṇḍapātaṁ sevato akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhantī’ti, evarūpo piṇḍapāto sevitabbo.
‘Piṇḍapātopi, āvuso, duvidhena veditabbo—
sevitabbopi asevitabbopī’ti,
iti yaṁ taṁ vuttaṁ, idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
‘Senāsanampi, āvuso, duvidhena veditabbaṁ—
sevitabbampi asevitabbampī’ti,
iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
Tattha yaṁ jaññā senāsanaṁ:
‘idaṁ kho me senāsanaṁ sevato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyantī’ti, evarūpaṁ senāsanaṁ na sevitabbaṁ.
Tattha yaṁ jaññā senāsanaṁ:
‘idaṁ kho me senāsanaṁ sevato akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhantī’ti, evarūpaṁ senāsanaṁ sevitabbaṁ.
‘Senāsanampi, āvuso, duvidhena veditabbaṁ—
sevitabbampi asevitabbampī’ti,
iti yaṁ taṁ vuttaṁ, idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
‘Gāmanigamopi, āvuso, duvidhena veditabbo—
sevitabbopi asevitabbopī’ti,
iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
Tattha yaṁ jaññā gāmanigamaṁ:
‘imaṁ kho me gāmanigamaṁ sevato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyantī’ti, evarūpo gāmanigamo na sevitabbo.
Tattha yaṁ jaññā gāmanigamaṁ:
‘imaṁ kho me gāmanigamaṁ sevato akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhantī’ti, evarūpo gāmanigamo sevitabbo.
‘Gāmanigamopi, āvuso, duvidhena veditabbo—
sevitabbopi asevitabbopī’ti,
iti yaṁ taṁ vuttaṁ, idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
‘Janapadapadesopi, āvuso, duvidhena veditabbo—
sevitabbopi asevitabbopī’ti,
iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
Tattha yaṁ jaññā janapadapadesaṁ:
‘imaṁ kho me janapadapadesaṁ sevato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyantī’ti, evarūpo janapadapadeso na sevitabbo.
Tattha yaṁ jaññā janapadapadesaṁ:
‘imaṁ kho me janapadapadesaṁ sevato akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhantī’ti, evarūpo janapadapadeso sevitabbo.
‘Janapadapadesopi, āvuso, duvidhena veditabbo—
sevitabbopi asevitabbopī’ti,
iti yaṁ taṁ vuttaṁ, idametaṁ paṭicca vuttan”ti.
Chaṭṭhaṁ.
There Sāriputta addressed the mendicants:
“Reverends, you should distinguish two two kinds of individual:
those you should associate with, and those you shouldn’t associate with.
You should distinguish two kinds of robes:
those you should wear, and those you shouldn’t wear.
You should distinguish two kinds of almsfood:
that which you should eat, and that which you shouldn’t eat.
You should distinguish two kinds of lodging:
those you should frequent, and those you shouldn’t frequent.
You should distinguish two kinds of village or town:
those you should frequent, and those you shouldn’t frequent.
You should distinguish two kinds of country:
those you should frequent, and those you shouldn’t frequent.
You should distinguish two two kinds of individual:
those you should associate with, and those you shouldn’t associate with.’
That’s what I said, but why did I say it?
Well, should you know of an individual:
‘When I associate with this individual, unskillful qualities grow, and skillful qualities decline.
And the necessities of life that a renunciate requires—robes, almsfood, lodgings, and medicines and supplies for the sick—are hard to come by.
And the goal of the ascetic life for which I went forth from the lay life to homelessness is not being fully developed.’ In this case you should leave that individual at that very time of the day or night, without asking. You shouldn’t follow them.
Whereas, should you know of an individual:
‘When I associate with this individual, unskillful qualities grow, and skillful qualities decline.
But the necessities of life that a renunciate requires—robes, almsfood, lodgings, and medicines and supplies for the sick—are easy to come by.
However, the goal of the ascetic life for which I went forth from the lay life to homelessness is not being fully developed.’ In this case you should leave that individual after reflecting, without asking. You shouldn’t follow them.
Well, should you know of an individual:
‘When I associate with this individual, unskillful qualities decline, and skillful qualities grow.
And the necessities of life that a renunciate requires—robes, almsfood, lodgings, and medicines and supplies for the sick—are hard to come by.
But the goal of the ascetic life for which I went forth from the lay life to homelessness is being fully developed.’ In this case you should follow that individual after appraisal. You shouldn’t leave them.
Whereas, should you know of an individual:
‘When I associate with this individual, unskillful qualities decline, and skillful qualities grow.
And the necessities of life that a renunciate requires—robes, almsfood, lodgings, and medicines and supplies for the sick—are easy to come by.
And the goal of the ascetic life for which I went forth from the lay life to homelessness is being fully developed.’ In this case you should follow that individual. You shouldn’t leave them, even if they send you away.
‘You should distinguish two kinds of individual:
those you should associate with, and those you shouldn’t associate with.’
That’s what I said, and this is why I said it.
‘You should distinguish two kinds of robes:
those you should wear, and those you shouldn’t wear.’
That’s what I said, but why did I say it?
Well, should you know of a robe:
‘When I wear this robe, unskillful qualities grow, and skillful qualities decline.’ You should not wear that kind of robe.
Whereas, should you know of a robe:
‘When I wear this robe, unskillful qualities decline, and skillful qualities grow.’ You should wear that kind of robe.
‘You should distinguish two kinds of robes:
those you should wear, and those you shouldn’t wear.’
That’s what I said, and this is why I said it.
‘You should distinguish two kinds of almsfood:
that which you should eat, and that which you shouldn’t eat.’
That’s what I said, but why did I say it?
Well, should you know of almsfood:
‘When I eat this almsfood, unskillful qualities grow, and skillful qualities decline.’ You should not eat that kind of almsfood.
Whereas, should you know of almsfood:
‘When I eat this almsfood, unskillful qualities decline, and skillful qualities grow.’ You should eat that kind of almsfood.
‘You should distinguish two kinds of almsfood:
that which you should eat, and that which you shouldn’t eat.’
That’s what I said, and this is why I said it.
‘You should distinguish two kinds of lodging:
those you should frequent, and those you shouldn’t frequent.’
That’s what I said, but why did I say it?
Well, should you know of a lodging:
‘When I frequent this lodging, unskillful qualities grow, and skillful qualities decline.’ You should not frequent that kind of lodging.
Whereas, should you know of a lodging:
‘When I frequent this lodging, unskillful qualities decline, and skillful qualities grow.’ You should frequent that kind of lodging.
‘You should distinguish two kinds of lodging:
those you should frequent, and those you shouldn’t frequent.’
That’s what I said, and this is why I said it.
‘You should distinguish two kinds of village or town:
those you should frequent, and those you shouldn’t frequent.’
That’s what I said, but why did I say it?
Well, should you know of a village or town:
‘When I frequent this village or town, unskillful qualities grow, and skillful qualities decline.’ You should not frequent that kind of village or town.
Whereas, should you know of a village or town:
‘When I frequent this village or town, unskillful qualities decline, and skillful qualities grow.’ You should frequent that kind of village or town.
‘You should distinguish two kinds of village or town:
those you should frequent, and those you shouldn’t frequent.’
That’s what I said, and this is why I said it.
‘You should distinguish two kinds of country:
those you should frequent, and those you shouldn’t frequent.’
That’s what I said, but why did I say it?
Well, should you know of a country:
‘When I frequent this country, unskillful qualities grow, and skillful qualities decline.’ You should not frequent that kind of country.
Whereas, should you know of a country:
‘When I frequent this country, unskillful qualities decline, and skillful qualities grow.’ You should frequent that kind of country.
‘You should distinguish two kinds of country:
those you should frequent, and those you shouldn’t frequent.’
That’s what I said, and this is why I said it.”
TTC 1Ở đây, Tôn giả Sàriputta gọi các Tỷ-kheo: “Này chư Hiền”.—“Thưa Hiền giả”. Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Sàriputta. Tôn giả Sàriputta nói như sau:
TTC 2—Này chư Hiền, con người cần phải được tìm hiểu trên hai phương diện: cần phải thân cận hay không cần phải thân cận. Y áo, này chư Hiền, cần phải tìm hiểu trên hai phương diện: cần được sử dụng hay không cần được sử dụng. Ðồ ăn khất thực, này chư Hiền, cần phải được tìm hiểu trên hai phương diện: cần được sử dụng hay không cần được sử dụng. Sàng tọa, này chư Hiền, cần phải được tìm hiểu trên hai phương diện: cần được sử dụng hay không cần được sử dụng. Làng và thị trấn, này chư Hiền, cần phải được tìm hiểu trên hai phương diện: cần được tìm đến hay không cần được tìm đến. Quốc độ, này chư Hiền, cần phải được tìm hiểu trên hai phương diện: cần được tìm đến hay không cần được tìm đến.
TTC 3Con người, này chư Hiền, cần phải được tìm hiểu trên hai phương diện: cần phải thân cận hay không cần phải thân cận được nói đến như vậy. Do duyên gì, được nói đến như vậy?
Ở đây, khi biết được về một người như sau: “Người này, nếu ta thân cận, thời các pháp bất thiện tăng trưởng, các pháp thiện bị đoạn giảm. Các vật dụng cần thiết cho đời sống xuất gia mà ta phải có như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh, những vật dụng ấy có được một cách khó khăn. Và vì mục đích gì ta xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Mục đích của Sa-môn hạnh ấy, không đi đến tu tập viên mãn”. Ðối với một người như vậy, này chư hiền, bất luận đêm hay ngày, không hỏi gì, cần phải bỏ đi, không được theo người ấy. Ở đây, khi biết được một người như sau: “Người này, nếu ta thân cận, thời các pháp bất thiện tăng trưởng, các pháp thiện bị đoạn giảm. Các vật dụng cần thiết cho đời sống xuất gia mà ta phải có như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh, những vật dụng ấy có được một cách không khó khăn. Và vì mục đích gì ta xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Mục đích của Sa-môn hạnh ấy, không đi đến tu tập viên mãn”. Ðối với một người như vậy, này chư Hiền, sau khi tính toán, không hỏi gì, cần phải bỏ đi, không được theo người ấy. Ở đây, khi biết được một người như sau: “Người này, nếu ta thân cận, thời các pháp bất thiện giảm thiểu, các pháp thiện tăng trưởng, những vật dụng cần thiết cho đời sống xuất gia mà ta phải có như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh, những vật dụng ấy có được một cách khó khăn. Và vì mục đích gì ta xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Mục đích của Sa-môn hạnh ấy, đi đến tu tập viên mãn”. Này chư Hiền, đối với một người như vậy, sau khi tính toán, cần phải theo người ấy, không được bỏ đi. Ở đây, sau khi biết được một người như sau: “Người này, nếu ta thân cận, thời các pháp bất thiện giảm thiểu, các pháp thiện tăng trưởng, những vật dụng cần thiết cho đời sống xuất gia mà ta phải có như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh, những vật dụng ấy có được một cách không khó khăn. Và vì mục đích gì ta xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Mục đích của Sa-môn hạnh ấy, đi đến tu tập viên mãn”. Này chư Hiền, đối với một người như vậy, cần phải theo cho đến trọn đời, không được bỏ đi, dầu có bị từ chối.
Này chư Hiền, một người cần phải được hiểu biết theo hai phương diện: cần được thân cận và không cần được thân cận đã được nói đến như vậy, chính do duyên này được nói đến.
TTC 4Y áo, này chư Hiền, cần phải được hiểu biết theo hai phương diện: cần được sử dụng hay không cần được sử dụng đã được nói đến như vậy. Do duyên gì được nói đến?
Ở đây, sau khi biết được về y như sau: “Nếu ta sử dụng y này, các pháp bất thiện tăng trưởng, các pháp thiện đoạn giảm; y như vậy không nên sử dụng”. Ở đây, sau khi biết được về y như sau: “Nếu ta sử dụng y này, các pháp bất thiện đoạn giảm, các pháp thiện tăng trưởng; y như vậy nên sử dụng”.
Này chư Hiền, y áo cần phải được hiểu biết theo hai phương diện: cần được sử dụng hay không cần được sử dụng, được nói đến như vậy, do duyên này được nói đến.
TTC 5Ðồ ăn khất thực, này chư Hiền, cần phải được hiểu biết theo hai phương diện: cần được sử dụng hay không cần được sử dụng đã được nói đến như vậy. Do duyên gì được nói đến?
Ở đây, sau khi biết được về đồ ăn khất thực như sau: “Nếu ta sử dụng đồ ăn khất thực này, các pháp bất thiện tăng trưởng, các pháp thiện đoạn giảm; đồ ăn khất thực như vậy không nên sử dụng”. Ở đây, sau khi biết được về đồ ăn khất thực như sau: “Nếu ta sử dụng đồ ăn khất thực này, các pháp bất thiện đoạn giảm, các pháp thiện tăng trưởng; đồ ăn khất thực như vậy nên sử dụng”.
Này chư Hiền, đồ ăn khất thực cần phải được hiểu biết theo hai phương diện: cần được sử dụng hay không cần được sử dụng đã được nói đến như vậy, do duyên này được nói đến.
TTC 6Sàng tọa, này chư Hiền, cần phải được hiểu biết theo hai phương diện: cần được sử dụng hay không cần được sử dụng đã được nói đến như vậy. Do duyên gì được nói đến?
Ở đây, sau khi biết được về sàng tọa như sau: “Nếu ta sử dụng sàng tọa này, các pháp bất thiện tăng trưởng, các pháp thiện đoạn giảm; sàng tọa như vậy không nên sử dụng”. Ở đây, sau khi biết được về sàng tọa như sau: “Nếu ta sử dụng sàng tọa này, các pháp bất thiện đoạn giảm, các pháp thiện tăng trưởng; sàng tọa như vậy nên sử dụng”.
Này chư Hiền, sàng tọa cần phải được hiểu biết theo hai phương diện: cần được sử dụng hay không cần được sử dụng được nói đến như vậy, do duyên này được nói đến.
TTC 7Làng, thị trấn, này chư Hiền, cần phải được hiểu biết theo hai phương diện: cần được tìm đến và không cần được tìm đến đã được nói đến như vậy. Do duyên gì được nói đến?
Ở đây, sau khi biết được về làng, thị trấn như sau: “Nếu ta tìm đến làng, thị trấn này, các pháp bất thiện tăng trưởng, các pháp thiện đoạn giảm; làng và thị trấn như vậy không nên được tìm đến”. Ở đây, sau khi biết được về làng, thị trấn như sau: “Nếu ta tìm đến làng, thị trấn, các pháp bất thiện đoạn giảm, các pháp thiện tăng trưởng; làng, thị trấn như vậy cần được tìm đến”.
Này chư Hiền, làng, thị trấn cần phải được hiểu biết theo hai phương diện: cần được tìm đến hay không cần được tìm đến, được nói đến như vậy, do duyên này được nói đến.
TTC 8Quốc độ, này chư Hiền, cần phải được hiểu biết theo hai phương diện: cần được tìm đến và không cần được tìm đến đã được nói như vậy. Do duyên gì được nói đến?
Ở đây, sau khi biết được về quốc độ như sau: “Nếu ta tìm đến quốc độ này, các pháp bất thiện tăng trưởng, các pháp thiện đoạn giảm; quốc độ như vậy không nên được tìm đến”. Ở đây, sau khi biết được về quốc độ như sau: “Nếu ta tìm đến quốc độ này, các pháp bất thiện đoạn giảm, các pháp thiện tăng trưởng; quốc độ như vậy nên được tìm đến”.
Này chư Hiền, quốc độ cần phải được hiểu biết theo hai phương diện: nên được tìm đến hay không nên được tìm đến, được nói đến như vậy, do duyên này được nói đến.
Tatra kho āyasmā sāriputto bhikkhū āmantesi …pe… āyasmā sāriputto etadavoca:
“Puggalopi, āvuso, duvidhena veditabbo—
sevitabbopi asevitabbopi.
Cīvarampi, āvuso, duvidhena veditabbaṁ—
sevitabbampi asevitabbampi.
Piṇḍapātopi, āvuso, duvidhena veditabbo—
sevitabbopi asevitabbopi.
Senāsanampi, āvuso, duvidhena veditabbaṁ—
sevitabbampi asevitabbampi.
Gāmanigamopi, āvuso, duvidhena veditabbo—
sevitabbopi asevitabbopi.
Janapadapadesopi, āvuso, duvidhena veditabbo—
sevitabbopi asevitabbopi.
‘Puggalopi, āvuso, duvidhena veditabbo—
sevitabbopi asevitabbopī’ti,
iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
Tattha yaṁ jaññā puggalaṁ:
‘imaṁ kho me puggalaṁ sevato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyanti;
ye ca kho me pabbajitena jīvitaparikkhārā samudānetabbā cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānapaccayabhesajjaparikkhārā te ca kasirena samudāgacchanti;
yassa camhi atthāya agārasmā anagāriyaṁ pabbajito so ca me sāmaññattho na bhāvanāpāripūriṁ gacchatī’ti, tenāvuso, puggalena so puggalo rattibhāgaṁ vā divasabhāgaṁ vā saṅkhāpi anāpucchā pakkamitabbaṁ nānubandhitabbo.
Tattha yaṁ jaññā puggalaṁ:
‘imaṁ kho me puggalaṁ sevato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyanti;
ye ca kho me pabbajitena jīvitaparikkhārā samudānetabbā cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānapaccayabhesajjaparikkhārā te ca appakasirena samudāgacchanti;
yassa camhi atthāya agārasmā anagāriyaṁ pabbajito so ca me sāmaññattho na bhāvanāpāripūriṁ gacchatī’ti, tenāvuso, puggalena so puggalo saṅkhāpi anāpucchā pakkamitabbaṁ nānubandhitabbo.
Tattha yaṁ jaññā puggalaṁ:
‘imaṁ kho me puggalaṁ sevato akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhanti;
ye ca kho me pabbajitena jīvitaparikkhārā samudānetabbā cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānapaccayabhesajjaparikkhārā te ca kasirena samudāgacchanti;
yassa camhi atthāya agārasmā anagāriyaṁ pabbajito so ca me sāmaññattho bhāvanāpāripūriṁ gacchatī’ti, tenāvuso, puggalena so puggalo saṅkhāpi anubandhitabbo na pakkamitabbaṁ.
Tattha yaṁ jaññā puggalaṁ:
‘imaṁ kho me puggalaṁ sevato akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhanti;
ye ca kho me pabbajitena jīvitaparikkhārā samudānetabbā cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānapaccayabhesajjaparikkhārā te ca appakasirena samudāgacchanti;
yassa camhi atthāya agārasmā anagāriyaṁ pabbajito so ca me sāmaññattho bhāvanāpāripūriṁ gacchatī’ti, tenāvuso, puggalena so puggalo yāvajīvaṁ anubandhitabbo na pakkamitabbaṁ api panujjamānena.
‘Puggalopi, āvuso, duvidhena veditabbo—
sevitabbopi asevitabbopī’ti,
iti yaṁ taṁ vuttaṁ, idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
‘Cīvarampi, āvuso, duvidhena veditabbaṁ—
sevitabbampi asevitabbampī’ti,
iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
Tattha yaṁ jaññā cīvaraṁ:
‘idaṁ kho me cīvaraṁ sevato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyantī’ti, evarūpaṁ cīvaraṁ na sevitabbaṁ.
Tattha yaṁ jaññā cīvaraṁ:
‘idaṁ kho me cīvaraṁ sevato akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhantī’ti, evarūpaṁ cīvaraṁ sevitabbaṁ.
‘Cīvarampi, āvuso, duvidhena veditabbaṁ—
sevitabbampi asevitabbampī’ti,
iti yaṁ taṁ vuttaṁ, idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
‘Piṇḍapātopi, āvuso, duvidhena veditabbo—
sevitabbopi asevitabbopī’ti,
iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
Tattha yaṁ jaññā piṇḍapātaṁ:
‘imaṁ kho me piṇḍapātaṁ sevato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyantī’ti, evarūpo piṇḍapāto na sevitabbo.
Tattha yaṁ jaññā piṇḍapātaṁ:
‘imaṁ kho me piṇḍapātaṁ sevato akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhantī’ti, evarūpo piṇḍapāto sevitabbo.
‘Piṇḍapātopi, āvuso, duvidhena veditabbo—
sevitabbopi asevitabbopī’ti,
iti yaṁ taṁ vuttaṁ, idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
‘Senāsanampi, āvuso, duvidhena veditabbaṁ—
sevitabbampi asevitabbampī’ti,
iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
Tattha yaṁ jaññā senāsanaṁ:
‘idaṁ kho me senāsanaṁ sevato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyantī’ti, evarūpaṁ senāsanaṁ na sevitabbaṁ.
Tattha yaṁ jaññā senāsanaṁ:
‘idaṁ kho me senāsanaṁ sevato akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhantī’ti, evarūpaṁ senāsanaṁ sevitabbaṁ.
‘Senāsanampi, āvuso, duvidhena veditabbaṁ—
sevitabbampi asevitabbampī’ti,
iti yaṁ taṁ vuttaṁ, idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
‘Gāmanigamopi, āvuso, duvidhena veditabbo—
sevitabbopi asevitabbopī’ti,
iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
Tattha yaṁ jaññā gāmanigamaṁ:
‘imaṁ kho me gāmanigamaṁ sevato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyantī’ti, evarūpo gāmanigamo na sevitabbo.
Tattha yaṁ jaññā gāmanigamaṁ:
‘imaṁ kho me gāmanigamaṁ sevato akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhantī’ti, evarūpo gāmanigamo sevitabbo.
‘Gāmanigamopi, āvuso, duvidhena veditabbo—
sevitabbopi asevitabbopī’ti,
iti yaṁ taṁ vuttaṁ, idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
‘Janapadapadesopi, āvuso, duvidhena veditabbo—
sevitabbopi asevitabbopī’ti,
iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
Tattha yaṁ jaññā janapadapadesaṁ:
‘imaṁ kho me janapadapadesaṁ sevato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyantī’ti, evarūpo janapadapadeso na sevitabbo.
Tattha yaṁ jaññā janapadapadesaṁ:
‘imaṁ kho me janapadapadesaṁ sevato akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhantī’ti, evarūpo janapadapadeso sevitabbo.
‘Janapadapadesopi, āvuso, duvidhena veditabbo—
sevitabbopi asevitabbopī’ti,
iti yaṁ taṁ vuttaṁ, idametaṁ paṭicca vuttan”ti.
Chaṭṭhaṁ.