TTC 1Bấy giờ có Tôn giả Upàli đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Upàli bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, con muốn sống trong rừng núi cao nguyên, tại các trú xứ xa vắng.
TTC 2Này Upàli, không dễ dàng là sống tại các rừng núi cao nguyên, các trú xứ xa vắng, khó khăn là đời sống viễn ly, khó ưa thích là đời sống độc cư. Ta nghĩ rằng: “Các ngôi rừng làm loạn ý Tỷ-kheo chưa được Thiền định”. Này Upàli, ai nói như sau: “Dầu tôi chưa được Thiền định, tôi sẽ sống tại các rừng núi cao nguyên, tại các trú xứ xa vắng”, thời người ấy được chờ đợi như sau: “Vị ấy sẽ chìm xuống (đáy) hay nổi lên (mặt nước)”.
TTC 3Ví như, này Upàli, một hồ nước lớn, có con voi lớn đi đến, bảy thước hay tám thước cao. Con voi ấy suy nghĩ: “Ta hãy lặn vào hồ nước này, rồi chơi trò chơi rửa tai, rồi chơi trò chơi rửa lưng; sau khi chơi trò rửa tai, sau khi chơi trò chơi rửa lưng, sau khi tắm, sau khi uống nước, sau khi từ hồ bước lên, ta đi chỗ nào ta muốn”. Rồi con voi ấy lặn vào hồ nước ấy, có thể chơi trò chơi rửa tai, có thể chơi trò chơi rửa lưng, sau khi chơi trò chơi rửa tai, sau khi chơi trò rửa lưng, sau khi tắm, sau khi uống nước, sau khi từ hồ bước lên, nó đi chỗ nào nó muốn. Vì sao? Vì tự ngã to lớn tìm được chân đứng trong chỗ nước. Rồi có con thỏ hay con mèo đến, nó suy nghĩ: “Ta là ai, con voi lớn là ai? Vậy ta sau khi lặn xuống hồ nước này, có thể chơi trò chơi rửa tai, có thể chơi trò chơi rửa lưng; sau khi chơi trò chơi rửa tai, sau khi chơi trò chơi rửa lưng, sau khi tắm, sau khi uống nước, sau khi từ hồ bước lên, ta sẽ đi chỗ nào ta muốn”. Rồi nó nhảy vào hồ nước ấy lập tức, không có tính toán. Với nó, được chờ đợi rằng: “Nó sẽ chìm hay nổi trên mặt nước” Vì sao? Này Upàli, vì tự ngã nhỏ bé không tìm được chân đứng trong nước sâu. Cũng vậy, này Upàli, ai nói rằng: “Dầu tôi không được định, tôi sẽ sống trong các rừng núi cao nguyên, tại các trú xứ xa vắng”. Với vị ấy, được chờ đợi rằng: “Vị ấy sẽ chìm xuống hay nổi trên mặt nước”.
TTC 4Ví như: này Upàli, một đứa trẻ, còn nhỏ, còn yếu, nằm ngửa, chơi với phân và nước tiểu của mình. Thầy nghĩ thế nào, này Upàli, trò chơi con nít này có thiệt là toàn diện đầy đủ không?
—Thưa có vậy, bạch Thế Tôn.
—Này Upàli, đứa con nít ấy, sau một thời gian, sau khi lớn lên, sau khi các căn được thuần thục, có được các đồ chơi của những con nít, như trẻ con chơi khăn, chơi nhảy lộn nhào, chơi chong chóng, chơi với đồ đong bằng lá, chơi xe con, chơi cung nhỏ, và nó chơi với những đồ chơi ấy. Thầy nghĩ thế nào, này Upàli, trò chơi này so sánh với trò chơi trước, có đi đến thù diệu hơn, thù thắng hơn?
—Thưa có vậy, bạch Thế Tôn.
—Rồi này Upàli, đứa trẻ ấy, sau một thời gian, sau khi lớn lên, sau khi các căn được thuần thục, thọ hưởng đầy đủ năm món dục lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, kích thúc lòng dục, hấp dẫn, với các tiếng do tai nhận thức… với các hương do mũi nhận thức… với các vị do lưỡi nhận thức… với các xúc do thân cảm giác, khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, kích thích lòng dục, hấp dẫn. Thầy nghĩ thế nào, này Upàli, trò chơi này, so sánh với các trò chơi trước có thù diệu hơn, thù thắng hơn không?
—Thưa có vậy, bạch Thế Tôn.
TTC 5Ở đây, này Upàli, Như Lai xuất hiện ở đời, là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Như Lai sau khi tự chứng ngộ với thắng trí, tuyên bố cho biết về thế giới này, các chư Thiên, các Ma, các Phạm thiên, với chúng Sa-Môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người. Ngài thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn, nêu rõ phạm hạnh hoàn toàn viên mãn thanh tịnh. Người gia chủ, hay con người gia chủ hay một người tái sanh trong một gia đình khác nghe Pháp ấy, sau khi nghe Pháp, vị ấy sanh lòng tin vào Như Lai. Vị ấy thành tựu với lòng tin ấy, suy xét như sau: “Ðời sống gia đình đầy những triền phược, con đường đầy những bụi đời, đời sống xuất gia phóng khoáng như hư không. Thật rất khó cho một người sống ở gia đình có thể sống theo phạm hạnh hoàn toàn viên mãn, hoàn toàn thanh tịnh, trắng bạch như vỏ ốc. Vậy ta hãy cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Vị ấy xuất gia như vậy, thọ lãnh đầy đủ sự học tập và nếp sống của các Tỷ-kheo. Sau khi đoạn tận sát sanh, sống từ bỏ sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết tàm quý, có lòng từ, sống thương xót đến hạnh phúc của tất cả chúng sanh và loài hữu tình. Sau khi đoạn tận lấy của không cho, vị ấy sống từ bỏ lấy của không cho, chỉ lấy những vật đã cho, chỉ mong những vật đã cho, tự mình sống thanh tịnh không có trộm cướp. Sau khi đoạn tận không Phạm hạnh, vị ấy sống Phạm hạnh, sống đời sống viễn ly, từ bỏ dâm dục hèn hạ. Sau khi đoạn tận nói láo, vị ấy sống từ bỏ nói láo, nói lời chơn thật, nói lời liên hệ đến chân thật, vững chắc đáng tin cậy, không lường gạt lời hứa đối với đời. Sau khi đoạn tận nói hai lưỡi, vị ấy sống từ bỏ nói hai lưỡi, nghe điều gì ở chỗ này, không đi nói đến chỗ kia để sanh chia rẽ ở những người kia; nghe điều gì ở chỗ kia, không đi nói đến chỗ này để sanh chia rẽ ở những người này. Như vậy, vị ấy sống kết hợp những kẻ bị chia rẽ, tăng trưởng những kẻ đã hòa hợp, ưa thích hòa hợp, thích thú hòa hợp, hoan hỷ trong hòa hợp. Sau khi đoạn tận lời nói độc ác, vị ấy sống từ bỏ lời nói độc ác; những lời nói không lỗi lầm, đẹp tai, dễ thương, thông cảm đến tâm, tao nhã, đẹp lòng nhiều người, thích ý nhiều người, vị ấy nói những lời như vậy. Sau khi đoạn tận nói lời phù phiếm, vị ấy sống từ bỏ nói lời phù phiếm, nói lời đúng thời, nói lời chân thật, nói lời có ý nghĩa, nói lời về Chánh pháp, nói lời về Luật, nói những lời đáng được gìn giữ, những lời hợp thời thuận lý, có mạch lạc hệ thống, có ích lợi. Vị ấy sống từ bỏ làm hại các hột giống và các loại cây cỏ; dùng mỗi ngày một bữa, từ bỏ ăn ban đêm, từ bỏ ăn phi thời; từ bỏ đi xem múa, hát, nhạc, diễn kịch, từ bỏ trang sức bằng vòng hoa, hương liệu, dầu thoa và các thời trang, từ bỏ dùng giường cao và giường lớn, từ bỏ nhận vàng và bạc, từ bỏ nhận các hạt sống, từ bỏ nhận thịt sống, từ bỏ nhận đàn bà, con gái; từ bỏ nhận nô tỳ gái và trai; từ bỏ nhận cừu và dê; từ bỏ nhận gia cầm và heo; từ bỏ nhận voi, bò, ngựa và ngựa cái; từ bỏ nhận ruộng nương đất đai; từ bỏ việc phái người làm môi giới, hoặc tự mình làm môi giới, từ bỏ buôn bán; từ bỏ các sự gian lận bằng cân, tiền bạc và đo lường; từ bỏ các tà hạnh, như hối lộ, gian trá, lừa đảo; từ bỏ làm thương tổn, sát hại, câu thúc, bức đoạt, trộm cắp, cướp phá. Vị ấy, biết đủ, bằng lòng với tấm y để che thân, với đồ ăn khất thực để nuôi bụng, đi đến chỗ nào cũng mang theo. Cũng như con chim bay đến chỗ nào cũng mang theo hai cánh; cũng vậy, vị ấy bằng lòng với tấm y để che thân, với đồ ăn khất thực để nuôi bụng, đi đến chỗ nào cũng mang theo. Vị ấy thành tựu với thành tựu giới uẩn này, nội tâm cảm thọ sự an lạc không có phạm lỗi.
TTC 6Vị ấy, khi mắt thấy sắc, không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, vì nhãn căn không được chế ngự, khiến tham ái ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, vị ấy tự chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì nhãn căn, thực hành sự hộ trì nhãn căn. Khi tai nghe tiếng… mũi ngửi hương… lưỡi nếm vị… thân cảm xúc… ý nhận thức các pháp, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì ý căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, vị ấy chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thực hành sự hộ trì ý căn. Vị ấy thành tựu Thánh hộ trì các căn này, nên hưởng lạc thọ nội tâm, không có xen lẫn.
TTC 7Vị ấy khi đi tới, khi đi lui đều tỉnh giác; khi nhìn thẳng, khi nhìn quanh đều tỉnh giác; khi co tay, khi duỗi tay đều tỉnh giác; khi mang y kép, bình bát, thượng y đều tỉnh giác; khi ăn, uống, nhai, nuốt đều tỉnh giác; khi đi đại tiện, tiểu tiện đều tỉnh giác; khi đi, đứng, ngồi, nằm, thức, nói, yên lặng đều tỉnh giác. Vị ấy thành tựu với Thánh giới uẩn này, thành tựu với Thánh hộ trì các căn này, thành tựu với Thánh chánh niệm tỉnh giác này, chọn một trú xứ thanh vắng như rừng, gốc cây, khe đá, hang đá, bãi tha ma, khu rừng xa vắng, ngoài trời, đống rơm. Vị ấy đi đến rừng hay đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, ngồi kiết-già, lưng thẳng và an trú chánh niệm trước mặt. Vị ấy, sau khi đoạn tận tham ái ở đời, sống với tâm thoát ly tham ái, gột rửa tâm khỏi tham ái. Sau khi đoạn tận sân, vị ấy sống với tâm không sân hận, lòng từ mẫn thương xót tất cả chúng hữu tình, gột rửa tâm hết sân hận. Sau khi đoạn tận hôn trầm thụy miên, sống với tâm thoát ly hồn trầm thụy miên, với tâm tưởng hướng về ánh sáng, chánh niệm tỉnh giác, vị ấy gột rửa tâm hết hôn trầm thụy miên. Sau khi đoạn tận trạo hối, sống không trạo hối, với nội tâm trầm lặng, vị ấy gột rửa hết tâm trạo cử hối tiếc. Sau khi đoạn tận nghi ngờ, vị ấy sống thoát ly nghi ngờ, không phân vân lưỡng lự, gột rửa tâm hết nghi ngờ đối với thiện pháp.
TTC 8Vị ấy sau khi đoạn tận năm triền cái này, những pháp làm uế nhiễm tâm, làm hèn yếu trí tuệ, ly dục, ly các pháp bất thiện, chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ. Vì sao, này Upàli, có phải sự an trú này, sánh với các an trú trước, được thù diệu hơn, thù thắng hơn?
—Thưa có vậy, bạch Thế Tôn.
—Này Upàli, các đệ tử của Ta, thấy được Pháp này trong tự ngã, sống tại các rừng núi cao nguyên, các trú xứ xa vắng, cho đến khi mục đích của mình chưa đạt, thời họ vẫn trú (tại các chỗ ấy), (hay như mục đích của mình chưa đạt, tức là định chưa đạt; thời không sống trong rừng núi cao nguyên tại các trú xứ xa vắng).
TTC 9Lại nữa, này Upàli, Tỷ-kheo làm cho tịnh chỉ tầm và tứ… chứng đạt và an trú Thiền thứ hai. Thầy nghĩ thế nào, này Upàli, có phải sự an trú này, sánh với những an trú trước, được thù diệu hơn, được thù thắng hơn?
—Thưa có vậy, bạch Thế Tôn.
—Này Upàli, các đệ tử của Ta, khi quán thấy Pháp này trên tự ngã, họ mới đến ở các rừng núi cao nguyên, các trú xứ xa vắng. Họ sẽ không trú nếu mục đích của mình chưa đạt được.
TTC 10Lại nữa, này Upàli, Tỷ-kheo ly hỷ… chứng và trú Thiền thứ ba. Thầy nghĩ thế nào, này Upàli, có phải sự an trú này, sánh với những an trú trước, được thù diệu hơn, được thù thắng hơn?
—Thưa có vậy, bạch Thế Tôn.
—Này Upàli, các đệ tử của Ta, khi quán thấy Pháp này trên tự ngã, họ mới đến ở các rừng núi, cao nguyên, các trú xứ xa vắng. Họ sẽ không trú nếu mục đích của mình chưa đạt được.
TTC 11Lại nữa, này Upàli, Tỷ-kheo đoạn lạc… chứng đạt và an trú Thiền thứ tư. Thầy nghĩ thế nào, này Upàli… chưa đạt được…? …
TTC 12Lại nữa, này Upàli, Tỷ-kheo vượt qua các sắc tưởng một cách hoàn toàn, chấm dứt các tưởng đối ngại, không tác ý đến các tưởng sai biệt, nghĩ rằng: “Hư không là vô biên”, chứng đạt và an trú Không vô biên xứ. Thầy nghĩ thế nào, này Upàli…? … mục đích của mình chưa đạt được.
TTC 13Lại nữa, này Upàli, Tỷ-kheo vượt qua một cách hoàn toàn Không vô biên xứ, nghĩ rằng: “Thức là vô biên”, chứng đạt và an trú Thức vô biên xứ. Thầy nghĩ thế nào, này Upàli…? … mục đích của mình chưa đạt được.
Lại nữa, này Upàli, Tỷ-kheo vượt qua một cách hoàn toàn Thức vô biên xứ, nghĩ rằng: “Không có sở hữu”, chứng đạt và an trú Vô sở hữu xứ. Thầy nghĩ thế nào, này Upàli…? … mục đích của mình chưa đạt được.
Lại nữa, này Upàli, Tỷ-kheo vượt qua một cách hoàn toàn Vô sở hữu xứ, nghĩ rằng: “Ðây là tịch tịnh, đây là thù diệu”, chứng đạt và an trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Thầy nghĩ thế nào, này Upàli, có phải sự an trú này, sánh với các an trú trước, được thù diệu hơn, được thù thắng hơn?
—Thưa có vậy, bạch Thế Tôn… mục đích của mình chưa đạt được.
TTC 14Lại nữa, này Upàli, Tỷ-kheo sau khi vượt qua một cách hoàn toàn Phi tưởng phi phi tưởng xứ, chứng đạt và an trú Diệt thọ tưởng định, vị ấy sau khi thấy với trí tuệ, các lậu hoặc được đoạn tận. Thầy nghĩ thế nào, này Upàli, có phải sự an trú này, sánh với các an trú trước, được thù diệu hơn, được thù thắng hơn?
—Thưa có vậy, bạch Thế Tôn.
—Này Upàli, các đệ tử của Ta, sau khi quán thấy Pháp này trên tự ngã đã đến ở trong các rừng núi cao nguyên, tại các trú xứ xa vắng, họ không trú nếu mục đích của mình chưa đạt được.
Vậy này Upàli, Thầy hãy sống giữa chúng Tăng. Sống giữa chúng Tăng, Thầy sẽ được an ổn.
Atha kho āyasmā upāli yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā upāli bhagavantaṁ etadavoca:
“icchāmahaṁ, bhante, araññavanapatthāni pantāni senāsanāni paṭisevitun”ti.
“Durabhisambhavāni hi kho, upāli, araññavanapatthāni pantāni senāsanāni.
Dukkaraṁ pavivekaṁ durabhiramaṁ.
Ekatte haranti maññe mano vanāni samādhiṁ alabhamānassa bhikkhuno.
Yo kho, upāli, evaṁ vadeyya:
‘ahaṁ samādhiṁ alabhamāno araññavanapatthāni pantāni senāsanāni paṭisevissāmī’ti, tassetaṁ pāṭikaṅkhaṁ:
‘saṁsīdissati vā uplavissati vā’ti.
Seyyathāpi, upāli, mahāudakarahado.
Atha āgaccheyya hatthināgo sattaratano vā aḍḍhaṭṭharatano vā.
Tassa evamassa:
‘yannūnāhaṁ imaṁ udakarahadaṁ ogāhetvā kaṇṇasandhovikampi khiḍḍaṁ kīḷeyyaṁ piṭṭhisandhovikampi khiḍḍaṁ kīḷeyyaṁ.
Kaṇṇasandhovikampi khiḍḍaṁ kīḷitvā piṭṭhisandhovikampi khiḍḍaṁ kīḷitvā nhatvā ca pivitvā ca paccuttaritvā yena kāmaṁ pakkameyyan’ti.
So taṁ udakarahadaṁ ogāhetvā kaṇṇasandhovikampi khiḍḍaṁ kīḷeyya piṭṭhisandhovikampi khiḍḍaṁ kīḷeyya;
kaṇṇasandhovikampi khiḍḍaṁ kīḷitvā piṭṭhisandhovikampi khiḍḍaṁ kīḷitvā nhatvā ca pivitvā ca paccuttaritvā yena kāmaṁ pakkameyya.
Taṁ kissa hetu?
Mahā, upāli, attabhāvo gambhīre gādhaṁ vindati.
Atha āgaccheyya saso vā biḷāro vā.
Tassa evamassa:
‘ko cāhaṁ, ko ca hatthināgo.
Yannūnāhaṁ imaṁ udakarahadaṁ ogāhetvā kaṇṇasandhovikampi khiḍḍaṁ kīḷeyyaṁ piṭṭhisandhovikampi khiḍḍaṁ kīḷeyyaṁ;
kaṇṇasandhovikampi khiḍḍaṁ kīḷitvā piṭṭhisandhovikampi khiḍḍaṁ kīḷitvā nhatvā ca pivitvā ca paccuttaritvā yena kāmaṁ pakkameyyan’ti.
So taṁ udakarahadaṁ sahasā appaṭisaṅkhā pakkhandeyya.
Tassetaṁ pāṭikaṅkhaṁ:
‘saṁsīdissati vā uplavissati vā’ti.
Taṁ kissa hetu?
Paritto, upāli, attabhāvo gambhīre gādhaṁ na vindati.
Evamevaṁ kho, upāli, yo evaṁ vadeyya:
‘ahaṁ samādhiṁ alabhamāno araññavanapatthāni pantāni senāsanāni paṭisevissāmī’ti, tassetaṁ pāṭikaṅkhaṁ:
‘saṁsīdissati vā uplavissati vā’ti.
Seyyathāpi, upāli, daharo kumāro mando uttānaseyyako sakena muttakarīsena kīḷati.
Taṁ kiṁ maññasi, upāli,
nanvāyaṁ kevalā paripūrā bālakhiḍḍā”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Sa kho so, upāli, kumāro aparena samayena vuddhimanvāya indriyānaṁ paripākamanvāya
yāni kānici kumārakānaṁ kīḷāpanakāni bhavanti, seyyathidaṁ—vaṅkakaṁ ghaṭikaṁ mokkhacikaṁ ciṅgulakaṁ pattāḷhakaṁ rathakaṁ dhanukaṁ, tehi kīḷati.
Taṁ kiṁ maññasi, upāli,
nanvāyaṁ khiḍḍā purimāya khiḍḍāya abhikkantatarā ca paṇītatarā cā”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Sa kho so, upāli, kumāro aparena samayena vuddhimanvāya indriyānaṁ paripākamanvāya
pañcahi kāmaguṇehi samappito samaṅgibhūto paricāreti
cakkhuviññeyyehi rūpehi iṭṭhehi kantehi manāpehi piyarūpehi kāmūpasaṁhitehi rajanīyehi,
sotaviññeyyehi saddehi …
ghānaviññeyyehi gandhehi …
jivhāviññeyyehi rasehi …
kāyaviññeyyehi phoṭṭhabbehi iṭṭhehi kantehi manāpehi piyarūpehi kāmūpasaṁhitehi rajanīyehi.
Taṁ kiṁ maññasi, upāli,
nanvāyaṁ khiḍḍā purimāhi khiḍḍāhi abhikkantatarā ca paṇītatarā cā”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Idha kho pana vo, upāli, tathāgato loke uppajjati arahaṁ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi satthā devamanussānaṁ buddho bhagavā.
So imaṁ lokaṁ sadevakaṁ samārakaṁ sabrahmakaṁ sassamaṇabrāhmaṇiṁ pajaṁ sadevamanussaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā pavedeti.
So dhammaṁ deseti ādikalyāṇaṁ majjhekalyāṇaṁ pariyosānakalyāṇaṁ sātthaṁ sabyañjanaṁ, kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ pakāseti.
Taṁ dhammaṁ suṇāti gahapati vā gahapatiputto vā aññatarasmiṁ vā kule paccājāto.
So taṁ dhammaṁ sutvā tathāgate saddhaṁ paṭilabhati.
So tena saddhāpaṭilābhena samannāgato iti paṭisañcikkhati:
‘sambādho gharāvāso rajāpatho, abbhokāso pabbajjā.
Nayidaṁ sukaraṁ agāraṁ ajjhāvasatā ekantaparipuṇṇaṁ ekantaparisuddhaṁ saṅkhalikhitaṁ brahmacariyaṁ carituṁ.
Yannūnāhaṁ kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajeyyan’ti.
So aparena samayena appaṁ vā bhogakkhandhaṁ pahāya mahantaṁ vā bhogakkhandhaṁ pahāya appaṁ vā ñātiparivaṭṭaṁ pahāya mahantaṁ vā ñātiparivaṭṭaṁ pahāya kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajati.
So evaṁ pabbajito samāno bhikkhūnaṁ sikkhāsājīvasamāpanno pāṇātipātaṁ pahāya pāṇātipātā paṭivirato hoti nihitadaṇḍo nihitasattho lajjī dayāpanno sabbapāṇabhūtahitānukampī viharati.
Adinnādānaṁ pahāya adinnādānā paṭivirato hoti dinnādāyī dinnapāṭikaṅkhī; athenena sucibhūtena attanā viharati.
Abrahmacariyaṁ pahāya brahmacārī hoti ārācārī virato methunā gāmadhammā.
Musāvādaṁ pahāya musāvādā paṭivirato hoti saccavādī saccasandho theto paccayiko avisaṁvādako lokassa.
Pisuṇaṁ vācaṁ pahāya pisuṇāya vācāya paṭivirato hoti, ito sutvā na amutra akkhātā imesaṁ bhedāya, amutra vā sutvā na imesaṁ akkhātā amūsaṁ bhedāya. Iti bhinnānaṁ vā sandhātā sahitānaṁ vā anuppadātā, samaggārāmo samaggarato samagganandī; samaggakaraṇiṁ vācaṁ bhāsitā hoti.
Pharusaṁ vācaṁ pahāya pharusāya vācāya paṭivirato hoti. Yā sā vācā nelā kaṇṇasukhā pemanīyā hadayaṅgamā porī bahujanakantā bahujanamanāpā, tathārūpiṁ vācaṁ bhāsitā hoti.
Samphappalāpaṁ pahāya samphappalāpā paṭivirato hoti kālavādī bhūtavādī atthavādī dhammavādī vinayavādī, nidhānavatiṁ vācaṁ bhāsitā hoti kālena sāpadesaṁ pariyantavatiṁ atthasaṁhitaṁ.
So bījagāmabhūtagāmasamārambhā paṭivirato hoti.
Ekabhattiko hoti rattūparato, virato vikālabhojanā.
Naccagītavāditavisūkadassanā paṭivirato hoti,
mālāgandhavilepanadhāraṇamaṇḍanavibhūsanaṭṭhānā paṭivirato hoti,
uccāsayanamahāsayanā paṭivirato hoti,
jātarūparajatapaṭiggahaṇā paṭivirato hoti,
āmakadhaññapaṭiggahaṇā paṭivirato hoti,
āmakamaṁsapaṭiggahaṇā paṭivirato hoti,
itthikumārikapaṭiggahaṇā paṭivirato hoti,
dāsidāsapaṭiggahaṇā paṭivirato hoti,
ajeḷakapaṭiggahaṇā paṭivirato hoti,
kukkuṭasūkarapaṭiggahaṇā paṭivirato hoti,
hatthigavassavaḷavapaṭiggahaṇā paṭivirato hoti,
khettavatthupaṭiggahaṇā paṭivirato hoti,
dūteyyapahiṇagamanānuyogā paṭivirato hoti,
kayavikkayā paṭivirato hoti,
tulākūṭakaṁsakūṭamānakūṭā paṭivirato hoti,
ukkoṭanavañcananikatisāciyogā paṭivirato hoti,
chedanavadhabandhanaviparāmosaālopasahasākārā paṭivirato hoti.
So santuṭṭho hoti kāyaparihārikena cīvarena kucchiparihārikena piṇḍapātena.
Yena yeneva pakkamati samādāyeva pakkamati,
seyyathāpi nāma pakkhī sakuṇo yena yeneva ḍeti sapattabhārova ḍeti.
Evamevaṁ bhikkhu santuṭṭho hoti kāyaparihārikena cīvarena kucchiparihārikena piṇḍapātena. Yena yeneva pakkamati samādāyeva pakkamati.
So iminā ariyena sīlakkhandhena samannāgato ajjhattaṁ anavajjasukhaṁ paṭisaṁvedeti.
So cakkhunā rūpaṁ disvā na nimittaggāhī hoti nānubyañjanaggāhī.
Yatvādhikaraṇamenaṁ cakkhundriyaṁ asaṁvutaṁ viharantaṁ abhijjhādomanassā pāpakā akusalā dhammā anvāssaveyyuṁ, tassa saṁvarāya paṭipajjati; rakkhati cakkhundriyaṁ, cakkhundriye saṁvaraṁ āpajjati.
Sotena saddaṁ sutvā …
ghānena gandhaṁ ghāyitvā …
jivhāya rasaṁ sāyitvā …
kāyena phoṭṭhabbaṁ phusitvā …
manasā dhammaṁ viññāya na nimittaggāhī hoti nānubyañjanaggāhī.
Yatvādhikaraṇamenaṁ manindriyaṁ asaṁvutaṁ viharantaṁ abhijjhādomanassā pāpakā akusalā dhammā anvāssaveyyuṁ, tassa saṁvarāya paṭipajjati; rakkhati manindriyaṁ, manindriye saṁvaraṁ āpajjati.
So iminā ariyena indriyasaṁvarena samannāgato ajjhattaṁ abyāsekasukhaṁ paṭisaṁvedeti.
So abhikkante paṭikkante sampajānakārī hoti, ālokite vilokite sampajānakārī hoti, samiñjite pasārite sampajānakārī hoti, saṅghāṭipattacīvaradhāraṇe sampajānakārī hoti, asite pīte khāyite sāyite sampajānakārī hoti, uccārapassāvakamme sampajānakārī hoti, gate ṭhite nisinne sutte jāgarite bhāsite tuṇhībhāve sampajānakārī hoti.
So iminā ca ariyena sīlakkhandhena samannāgato, iminā ca ariyena indriyasaṁvarena samannāgato, iminā ca ariyena satisampajaññena samannāgato
vivittaṁ senāsanaṁ bhajati araññaṁ rukkhamūlaṁ pabbataṁ kandaraṁ giriguhaṁ susānaṁ vanapatthaṁ abbhokāsaṁ palālapuñjaṁ.
So araññagato vā rukkhamūlagato vā suññāgāragato vā nisīdati pallaṅkaṁ ābhujitvā ujuṁ kāyaṁ paṇidhāya parimukhaṁ satiṁ upaṭṭhapetvā.
So abhijjhaṁ loke pahāya vigatābhijjhena cetasā viharati, abhijjhāya cittaṁ parisodheti.
Byāpādapadosaṁ pahāya abyāpannacitto viharati sabbapāṇabhūtahitānukampī, byāpādapadosā cittaṁ parisodheti.
Thinamiddhaṁ pahāya vigatathinamiddho viharati ālokasaññī sato sampajāno, thinamiddhā cittaṁ parisodheti.
Uddhaccakukkuccaṁ pahāya anuddhato viharati ajjhattaṁ vūpasantacitto, uddhaccakukkuccā cittaṁ parisodheti.
Vicikicchaṁ pahāya tiṇṇavicikiccho viharati akathaṅkathī kusalesu dhammesu, vicikicchāya cittaṁ parisodheti.
So ime pañca nīvaraṇe pahāya cetaso upakkilese paññāya dubbalīkaraṇe,
vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
Taṁ kiṁ maññasi, upāli,
‘nanvāyaṁ vihāro purimehi vihārehi abhikkantataro ca paṇītataro cā’”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Imampi kho, upāli, mama sāvakā attani dhammaṁ sampassamānā araññavanapatthāni pantāni senāsanāni paṭisevanti, no ca kho tāva anuppattasadatthā viharanti.
Puna caparaṁ, upāli, bhikkhu vitakkavicārānaṁ vūpasamā …pe… dutiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
Taṁ kiṁ maññasi, upāli,
‘nanvāyaṁ vihāro purimehi vihārehi abhikkantataro ca paṇītataro cā’”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Imampi kho, upāli, mama sāvakā attani dhammaṁ sampassamānā araññavanapatthāni pantāni senāsanāni paṭisevanti, no ca kho tāva anuppattasadatthā viharanti.
Puna caparaṁ, upāli, bhikkhu pītiyā ca virāgā …pe… tatiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
Taṁ kiṁ maññasi, upāli,
‘nanvāyaṁ vihāro purimehi vihārehi abhikkantataro ca paṇītataro cā’”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Imampi kho, upāli, mama sāvakā attani dhammaṁ sampassamānā araññavanapatthāni pantāni senāsanāni paṭisevanti, no ca kho tāva anuppattasadatthā viharanti.
Puna caparaṁ, upāli, bhikkhu sukhassa ca pahānā …pe… catutthaṁ jhānaṁ …pe….
Puna caparaṁ, upāli, bhikkhu sabbaso rūpasaññānaṁ samatikkamā paṭighasaññānaṁ atthaṅgamā nānattasaññānaṁ amanasikārā ‘ananto ākāso’ti ākāsānañcāyatanaṁ upasampajja viharati.
Taṁ kiṁ maññasi, upāli,
‘nanvāyaṁ vihāro purimehi vihārehi abhikkantataro ca paṇītataro cā’”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Imampi kho, upāli, mama sāvakā attani dhammaṁ sampassamānā araññavanapatthāni pantāni senāsanāni paṭisevanti, no ca kho tāva anuppattasadatthā viharanti.
Puna caparaṁ, upāli, bhikkhu sabbaso ākāsānañcāyatanaṁ samatikkamma ‘anantaṁ viññāṇan’ti viññāṇañcāyatanaṁ upasampajja viharati …pe….
Sabbaso viññāṇañcāyatanaṁ samatikkamma ‘natthi kiñcī’ti ākiñcaññāyatanaṁ upasampajja viharati …pe….
Sabbaso ākiñcaññāyatanaṁ samatikkamma ‘santametaṁ paṇītametan’ti nevasaññānāsaññāyatanaṁ upasampajja viharati.
Taṁ kiṁ maññasi, upāli,
‘nanvāyaṁ vihāro purimehi vihārehi abhikkantataro ca paṇītataro cā’”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Imampi kho, upāli, mama sāvakā attani dhammaṁ sampassamānā araññavanapatthāni pantāni senāsanāni paṭisevanti, no ca kho tāva anuppattasadatthā viharanti.
Puna caparaṁ, upāli, bhikkhu sabbaso nevasaññānāsaññāyatanaṁ samatikkamma saññāvedayitanirodhaṁ upasampajja viharati; paññāya cassa disvā āsavā parikkhīṇā honti.
Taṁ kiṁ maññasi, upāli,
‘nanvāyaṁ vihāro purimehi vihārehi abhikkantataro ca paṇītataro cā’”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Imampi kho, upāli, mama sāvakā attani dhammaṁ sampassamānā araññavanapatthāni pantāni senāsanāni paṭisevanti, anuppattasadatthā ca viharanti.
Iṅgha tvaṁ, upāli, saṅghe viharāhi.
Saṅghe te viharato phāsu bhavissatī”ti.
Navamaṁ.
Then Venerable Upāli went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him,
“Sir, I wish to frequent remote lodgings in the wilderness and the forest.”
“Upāli, remote lodgings in the wilderness and the forest are challenging.
It’s hard to maintain seclusion and hard to find joy in it.
Staying alone, the forests seem to rob the mind of a mendicant who isn’t immersed in samādhi.
If someone should say this,
‘Though I don’t have immersion, I’m going to frequent remote lodgings in the wilderness and the forest.’ You can expect that
they’ll sink down or float away.
Suppose there was a large lake,
and along comes a bull elephant that’s three or three and a half meters tall.
He’d think,
‘Why don’t I plunge into this lake and play around while washing my ears and back?
When I’ve bathed and drunk, I’ll emerge from the water and go wherever I want.’
And that’s just what he does.
Why is that?
Because his large incarnation finds a footing in the depths.
Then along comes a rabbit or a cat.
They’d think,
‘What difference is there between me and a bull elephant?
Why don’t I plunge into this lake and play around while washing my ears and back?
When I’ve bathed and drunk, I’ll emerge from the water and go wherever I want.’
They jump into the lake rashly, without thinking.
You can expect that
they’ll sink down or float away.
Why is that?
Because their little incarnation finds no footing in the depths.
If someone should say this,
‘Though I don’t have immersion, I’m going to frequent remote lodgings in the wilderness and the forest.’ You can expect that
they’ll sink down or float away.
Suppose there was a little baby boy playing in his own urine and feces.
What do you think, Upāli?
Isn’t that a totally foolish game?”
“Yes, sir.”
“After some time that boy grows up and his faculties mature.
He accordingly plays childish games such as toy plows, tip-cat, somersaults, pinwheels, toy measures, toy carts, and toy bows.
What do you think, Upāli?
Aren’t such games better than what he did before?”
“Yes, sir.”
“After some time that boy grows up and his faculties mature further.
He accordingly amuses himself, supplied and provided with the five kinds of sensual stimulation.
Sights known by the eye, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing.
Sounds known by the ear …
Smells known by the nose …
Tastes known by the tongue …
Touches known by the body, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing.
What do you think, Upāli?
Aren’t such games better than what he did before?”
“Yes, sir.”
“Now in this regard, Upāli, a Realized One arises in the world, perfected, a fully awakened Buddha, accomplished in knowledge and conduct, holy, knower of the world, supreme guide for those fit for training, teacher of gods and humans, awakened, blessed.
He has realized with his own insight this world—with its gods, Māras, and divinities, this population with its ascetics and brahmins, gods and humans—and he makes it known to others.
He proclaims a teaching that is good in the beginning, good in the middle, and good in the end, meaningful and well-phrased. And he reveals a spiritual practice that’s entirely full and pure.
A householder hears that teaching, or a householder’s child, or someone reborn in a good family.
They gain faith in the Realized One
and reflect,
‘Living in a house is cramped and dirty, but the life of one gone forth is wide open.
It’s not easy for someone living at home to lead the spiritual life utterly full and pure, like a polished shell.
Why don’t I shave off my hair and beard, dress in ocher robes, and go forth from the lay life to homelessness?’
After some time they give up a large or small fortune, and a large or small family circle. They shave off hair and beard, dress in ocher robes, and go forth from the lay life to homelessness.
Once they’ve gone forth, they take up the training and livelihood of the mendicants. They give up killing living creatures, renouncing the rod and the sword. They’re scrupulous and kind, living full of sympathy for all living beings.
They give up stealing. They take only what’s given, and expect only what’s given. They keep themselves clean by not thieving.
They give up unchastity. They are chaste, set apart, avoiding the vulgar act of sex.
They give up lying. They speak the truth and stick to the truth. They’re honest and dependable, and don’t trick the world with their words.
They give up backbiting. They don’t repeat in one place what they heard in another so as to divide people against each other. Instead, they reconcile those who are divided and support those who are united, delighting in harmony, loving harmony, speaking words that promote harmony.
They give up harsh speech. They speak in a way that’s mellow, pleasing to the ear, lovely, going to the heart, polite, likable and agreeable to the people.
They give up talking nonsense. Their words are timely, true, and meaningful, in line with the teaching and training. They say things at the right time which are valuable, reasonable, succinct, and beneficial.
They refrain from injuring plants and seeds.
They eat in one part of the day, abstaining from eating at night and food at the wrong time.
They refrain from seeing shows of dancing, singing, and music .
They refrain from attiring and adorning themselves with garlands, fragrance, and makeup.
They refrain from high and luxurious beds.
They refrain from receiving gold and currency,
raw grains,
raw meat,
women and girls,
male and female bondservants,
goats and sheep,
chickens and pigs,
elephants, cows, horses, and mares,
and fields and land.
They refrain from running errands and messages;
buying and selling;
falsifying weights, metals, or measures;
bribery, fraud, cheating, and duplicity;
mutilation, murder, abduction, banditry, plunder, and violence.
They’re content with robes to look after the body and almsfood to look after the belly.
Wherever they go, they set out taking only these things.
They’re like a bird: wherever it flies, wings are its only burden.
In the same way, a mendicant is content with robes to look after the body and almsfood to look after the belly. Wherever they go, they set out taking only these things.
When they have this entire spectrum of noble ethics, they experience a blameless happiness inside themselves.
When they see a sight with their eyes, they don’t get caught up in the features and details.
If the faculty of sight were left unrestrained, bad unskillful qualities of covetousness and displeasure would become overwhelming. For this reason, they practice restraint, protecting the faculty of sight, and achieving restraint over it.
When they hear a sound with their ears …
When they smell an odor with their nose …
When they taste a flavor with their tongue …
When they feel a touch with their body …
When they know an idea with their mind, they don’t get caught up in the features and details.
If the faculty of mind were left unrestrained, bad unskillful qualities of covetousness and displeasure would become overwhelming. For this reason, they practice restraint, protecting the faculty of mind, and achieving its restraint.
When they have this noble sense restraint, they experience an unsullied bliss inside themselves.
They act with situational awareness when going out and coming back; when looking ahead and aside; when bending and extending the limbs; when bearing the outer robe, bowl and robes; when eating, drinking, chewing, and tasting; when urinating and defecating; when walking, standing, sitting, sleeping, waking, speaking, and keeping silent.
When they have this entire spectrum of noble ethics, this noble sense restraint, and this noble mindfulness and situational awareness,
they frequent a secluded lodging—a wilderness, the root of a tree, a hill, a ravine, a mountain cave, a charnel ground, a forest, the open air, a heap of straw.
Gone to a wilderness, or to the root of a tree, or to an empty hut, they sit down cross-legged, set their body straight, and establish mindfulness in their presence.
Giving up covetousness for the world, they meditate with a heart rid of covetousness, cleansing the mind of covetousness.
Giving up ill will and malevolence, they meditate with a mind rid of ill will, full of sympathy for all living beings, cleansing the mind of ill will.
Giving up dullness and drowsiness, they meditate with a mind rid of dullness and drowsiness, perceiving light, mindful and aware, cleansing the mind of dullness and drowsiness.
Giving up restlessness and remorse, they meditate without restlessness, their mind peaceful inside, cleansing the mind of restlessness and remorse.
Giving up doubt, they meditate having gone beyond doubt, not undecided about skillful qualities, cleansing the mind of doubt.
They give up these five hindrances, corruptions of the heart that weaken wisdom.
Then, quite secluded from sensual pleasures, secluded from unskillful qualities, they enter and remain in the first absorption, which has the rapture and bliss born of seclusion, while placing the mind and keeping it connected.
What do you think, Upāli?
Isn’t this state better than what they had before?”
“Yes, sir.”
“When my disciples see this quality inside themselves they frequent remote lodgings in the wilderness and the forest. But so far they haven’t achieved their heart’s goal.
Furthermore, as the placing of the mind and keeping it connected are stilled, a mendicant enters and remains in the second absorption, which has the rapture and bliss born of immersion, with internal clarity and mind at one, without placing the mind and keeping it connected.
What do you think, Upāli?
Isn’t this state better than what they had before?”
“Yes, sir.”
“When my disciples see this quality inside themselves they frequent remote lodgings in the wilderness and the forest. But so far they haven’t achieved their heart’s goal.
Furthermore, with the fading away of rapture, a mendicant enters and remains in the third absorption. They meditate with equanimity, mindful and aware, personally experiencing the bliss of which the noble ones declare, ‘Equanimous and mindful, one meditates in bliss.’
What do you think, Upāli?
Isn’t this state better than what they had before?”
“Yes, sir.”
“When my disciples see this quality inside themselves they frequent remote lodgings in the wilderness and the forest. But so far they haven’t achieved their heart’s goal.
Furthermore, with the giving up of pleasure and pain and the disappearance of former happiness and sadness, a mendicant enters and remains in the fourth absorption, without pleasure or pain, with pure equanimity and mindfulness. …” …
“Furthermore, going totally beyond perceptions of form, with the disappearance of perceptions of impingement, not focusing on perceptions of diversity, aware that ‘space is infinite’, a mendicant enters and remains in the dimension of infinite space.
What do you think, Upāli?
Isn’t this state better than what they had before?”
“Yes, sir.”
“When my disciples see this quality inside themselves they frequent remote lodgings in the wilderness and the forest. But so far they haven’t achieved their heart’s goal.
Furthermore, going totally beyond the dimension of infinite space, aware that ‘consciousness is infinite’, a mendicant enters and remains in the dimension of infinite consciousness. …” …
“Going totally beyond the dimension of infinite consciousness, aware that ‘there is nothing at all’, they enter and remain in the dimension of nothingness. …” …
“Going totally beyond the dimension of nothingness, aware that ‘this is peaceful, this is sublime’, they enter and remain in the dimension of neither perception nor non-perception.
What do you think, Upāli?
Isn’t this state better than what they had before?”
“Yes, sir.”
“When my disciples see this quality inside themselves they frequent remote lodgings in the wilderness and the forest. But so far they haven’t achieved their heart’s goal.
Furthermore, going totally beyond the dimension of neither perception nor non-perception, they enter and remain in the cessation of perception and feeling. And, having seen with wisdom, their defilements come to an end.
What do you think, Upāli?
Isn’t this state better than what they had before?”
“Yes, sir.”
“When my disciples see this quality inside themselves they frequent remote lodgings in the wilderness and the forest. And they have achieved their heart’s goal.
Come on, Upāli, stay with the Saṅgha.
If you stay with the Saṅgha you’ll be comfortable.”
TTC 1Bấy giờ có Tôn giả Upàli đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Upàli bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, con muốn sống trong rừng núi cao nguyên, tại các trú xứ xa vắng.
TTC 2Này Upàli, không dễ dàng là sống tại các rừng núi cao nguyên, các trú xứ xa vắng, khó khăn là đời sống viễn ly, khó ưa thích là đời sống độc cư. Ta nghĩ rằng: “Các ngôi rừng làm loạn ý Tỷ-kheo chưa được Thiền định”. Này Upàli, ai nói như sau: “Dầu tôi chưa được Thiền định, tôi sẽ sống tại các rừng núi cao nguyên, tại các trú xứ xa vắng”, thời người ấy được chờ đợi như sau: “Vị ấy sẽ chìm xuống (đáy) hay nổi lên (mặt nước)”.
TTC 3Ví như, này Upàli, một hồ nước lớn, có con voi lớn đi đến, bảy thước hay tám thước cao. Con voi ấy suy nghĩ: “Ta hãy lặn vào hồ nước này, rồi chơi trò chơi rửa tai, rồi chơi trò chơi rửa lưng; sau khi chơi trò rửa tai, sau khi chơi trò chơi rửa lưng, sau khi tắm, sau khi uống nước, sau khi từ hồ bước lên, ta đi chỗ nào ta muốn”. Rồi con voi ấy lặn vào hồ nước ấy, có thể chơi trò chơi rửa tai, có thể chơi trò chơi rửa lưng, sau khi chơi trò chơi rửa tai, sau khi chơi trò rửa lưng, sau khi tắm, sau khi uống nước, sau khi từ hồ bước lên, nó đi chỗ nào nó muốn. Vì sao? Vì tự ngã to lớn tìm được chân đứng trong chỗ nước. Rồi có con thỏ hay con mèo đến, nó suy nghĩ: “Ta là ai, con voi lớn là ai? Vậy ta sau khi lặn xuống hồ nước này, có thể chơi trò chơi rửa tai, có thể chơi trò chơi rửa lưng; sau khi chơi trò chơi rửa tai, sau khi chơi trò chơi rửa lưng, sau khi tắm, sau khi uống nước, sau khi từ hồ bước lên, ta sẽ đi chỗ nào ta muốn”. Rồi nó nhảy vào hồ nước ấy lập tức, không có tính toán. Với nó, được chờ đợi rằng: “Nó sẽ chìm hay nổi trên mặt nước” Vì sao? Này Upàli, vì tự ngã nhỏ bé không tìm được chân đứng trong nước sâu. Cũng vậy, này Upàli, ai nói rằng: “Dầu tôi không được định, tôi sẽ sống trong các rừng núi cao nguyên, tại các trú xứ xa vắng”. Với vị ấy, được chờ đợi rằng: “Vị ấy sẽ chìm xuống hay nổi trên mặt nước”.
TTC 4Ví như: này Upàli, một đứa trẻ, còn nhỏ, còn yếu, nằm ngửa, chơi với phân và nước tiểu của mình. Thầy nghĩ thế nào, này Upàli, trò chơi con nít này có thiệt là toàn diện đầy đủ không?
—Thưa có vậy, bạch Thế Tôn.
—Này Upàli, đứa con nít ấy, sau một thời gian, sau khi lớn lên, sau khi các căn được thuần thục, có được các đồ chơi của những con nít, như trẻ con chơi khăn, chơi nhảy lộn nhào, chơi chong chóng, chơi với đồ đong bằng lá, chơi xe con, chơi cung nhỏ, và nó chơi với những đồ chơi ấy. Thầy nghĩ thế nào, này Upàli, trò chơi này so sánh với trò chơi trước, có đi đến thù diệu hơn, thù thắng hơn?
—Thưa có vậy, bạch Thế Tôn.
—Rồi này Upàli, đứa trẻ ấy, sau một thời gian, sau khi lớn lên, sau khi các căn được thuần thục, thọ hưởng đầy đủ năm món dục lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, kích thúc lòng dục, hấp dẫn, với các tiếng do tai nhận thức… với các hương do mũi nhận thức… với các vị do lưỡi nhận thức… với các xúc do thân cảm giác, khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, kích thích lòng dục, hấp dẫn. Thầy nghĩ thế nào, này Upàli, trò chơi này, so sánh với các trò chơi trước có thù diệu hơn, thù thắng hơn không?
—Thưa có vậy, bạch Thế Tôn.
TTC 5Ở đây, này Upàli, Như Lai xuất hiện ở đời, là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Như Lai sau khi tự chứng ngộ với thắng trí, tuyên bố cho biết về thế giới này, các chư Thiên, các Ma, các Phạm thiên, với chúng Sa-Môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người. Ngài thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn, nêu rõ phạm hạnh hoàn toàn viên mãn thanh tịnh. Người gia chủ, hay con người gia chủ hay một người tái sanh trong một gia đình khác nghe Pháp ấy, sau khi nghe Pháp, vị ấy sanh lòng tin vào Như Lai. Vị ấy thành tựu với lòng tin ấy, suy xét như sau: “Ðời sống gia đình đầy những triền phược, con đường đầy những bụi đời, đời sống xuất gia phóng khoáng như hư không. Thật rất khó cho một người sống ở gia đình có thể sống theo phạm hạnh hoàn toàn viên mãn, hoàn toàn thanh tịnh, trắng bạch như vỏ ốc. Vậy ta hãy cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Vị ấy xuất gia như vậy, thọ lãnh đầy đủ sự học tập và nếp sống của các Tỷ-kheo. Sau khi đoạn tận sát sanh, sống từ bỏ sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết tàm quý, có lòng từ, sống thương xót đến hạnh phúc của tất cả chúng sanh và loài hữu tình. Sau khi đoạn tận lấy của không cho, vị ấy sống từ bỏ lấy của không cho, chỉ lấy những vật đã cho, chỉ mong những vật đã cho, tự mình sống thanh tịnh không có trộm cướp. Sau khi đoạn tận không Phạm hạnh, vị ấy sống Phạm hạnh, sống đời sống viễn ly, từ bỏ dâm dục hèn hạ. Sau khi đoạn tận nói láo, vị ấy sống từ bỏ nói láo, nói lời chơn thật, nói lời liên hệ đến chân thật, vững chắc đáng tin cậy, không lường gạt lời hứa đối với đời. Sau khi đoạn tận nói hai lưỡi, vị ấy sống từ bỏ nói hai lưỡi, nghe điều gì ở chỗ này, không đi nói đến chỗ kia để sanh chia rẽ ở những người kia; nghe điều gì ở chỗ kia, không đi nói đến chỗ này để sanh chia rẽ ở những người này. Như vậy, vị ấy sống kết hợp những kẻ bị chia rẽ, tăng trưởng những kẻ đã hòa hợp, ưa thích hòa hợp, thích thú hòa hợp, hoan hỷ trong hòa hợp. Sau khi đoạn tận lời nói độc ác, vị ấy sống từ bỏ lời nói độc ác; những lời nói không lỗi lầm, đẹp tai, dễ thương, thông cảm đến tâm, tao nhã, đẹp lòng nhiều người, thích ý nhiều người, vị ấy nói những lời như vậy. Sau khi đoạn tận nói lời phù phiếm, vị ấy sống từ bỏ nói lời phù phiếm, nói lời đúng thời, nói lời chân thật, nói lời có ý nghĩa, nói lời về Chánh pháp, nói lời về Luật, nói những lời đáng được gìn giữ, những lời hợp thời thuận lý, có mạch lạc hệ thống, có ích lợi. Vị ấy sống từ bỏ làm hại các hột giống và các loại cây cỏ; dùng mỗi ngày một bữa, từ bỏ ăn ban đêm, từ bỏ ăn phi thời; từ bỏ đi xem múa, hát, nhạc, diễn kịch, từ bỏ trang sức bằng vòng hoa, hương liệu, dầu thoa và các thời trang, từ bỏ dùng giường cao và giường lớn, từ bỏ nhận vàng và bạc, từ bỏ nhận các hạt sống, từ bỏ nhận thịt sống, từ bỏ nhận đàn bà, con gái; từ bỏ nhận nô tỳ gái và trai; từ bỏ nhận cừu và dê; từ bỏ nhận gia cầm và heo; từ bỏ nhận voi, bò, ngựa và ngựa cái; từ bỏ nhận ruộng nương đất đai; từ bỏ việc phái người làm môi giới, hoặc tự mình làm môi giới, từ bỏ buôn bán; từ bỏ các sự gian lận bằng cân, tiền bạc và đo lường; từ bỏ các tà hạnh, như hối lộ, gian trá, lừa đảo; từ bỏ làm thương tổn, sát hại, câu thúc, bức đoạt, trộm cắp, cướp phá. Vị ấy, biết đủ, bằng lòng với tấm y để che thân, với đồ ăn khất thực để nuôi bụng, đi đến chỗ nào cũng mang theo. Cũng như con chim bay đến chỗ nào cũng mang theo hai cánh; cũng vậy, vị ấy bằng lòng với tấm y để che thân, với đồ ăn khất thực để nuôi bụng, đi đến chỗ nào cũng mang theo. Vị ấy thành tựu với thành tựu giới uẩn này, nội tâm cảm thọ sự an lạc không có phạm lỗi.
TTC 6Vị ấy, khi mắt thấy sắc, không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, vì nhãn căn không được chế ngự, khiến tham ái ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, vị ấy tự chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì nhãn căn, thực hành sự hộ trì nhãn căn. Khi tai nghe tiếng… mũi ngửi hương… lưỡi nếm vị… thân cảm xúc… ý nhận thức các pháp, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì ý căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, vị ấy chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thực hành sự hộ trì ý căn. Vị ấy thành tựu Thánh hộ trì các căn này, nên hưởng lạc thọ nội tâm, không có xen lẫn.
TTC 7Vị ấy khi đi tới, khi đi lui đều tỉnh giác; khi nhìn thẳng, khi nhìn quanh đều tỉnh giác; khi co tay, khi duỗi tay đều tỉnh giác; khi mang y kép, bình bát, thượng y đều tỉnh giác; khi ăn, uống, nhai, nuốt đều tỉnh giác; khi đi đại tiện, tiểu tiện đều tỉnh giác; khi đi, đứng, ngồi, nằm, thức, nói, yên lặng đều tỉnh giác. Vị ấy thành tựu với Thánh giới uẩn này, thành tựu với Thánh hộ trì các căn này, thành tựu với Thánh chánh niệm tỉnh giác này, chọn một trú xứ thanh vắng như rừng, gốc cây, khe đá, hang đá, bãi tha ma, khu rừng xa vắng, ngoài trời, đống rơm. Vị ấy đi đến rừng hay đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, ngồi kiết-già, lưng thẳng và an trú chánh niệm trước mặt. Vị ấy, sau khi đoạn tận tham ái ở đời, sống với tâm thoát ly tham ái, gột rửa tâm khỏi tham ái. Sau khi đoạn tận sân, vị ấy sống với tâm không sân hận, lòng từ mẫn thương xót tất cả chúng hữu tình, gột rửa tâm hết sân hận. Sau khi đoạn tận hôn trầm thụy miên, sống với tâm thoát ly hồn trầm thụy miên, với tâm tưởng hướng về ánh sáng, chánh niệm tỉnh giác, vị ấy gột rửa tâm hết hôn trầm thụy miên. Sau khi đoạn tận trạo hối, sống không trạo hối, với nội tâm trầm lặng, vị ấy gột rửa hết tâm trạo cử hối tiếc. Sau khi đoạn tận nghi ngờ, vị ấy sống thoát ly nghi ngờ, không phân vân lưỡng lự, gột rửa tâm hết nghi ngờ đối với thiện pháp.
TTC 8Vị ấy sau khi đoạn tận năm triền cái này, những pháp làm uế nhiễm tâm, làm hèn yếu trí tuệ, ly dục, ly các pháp bất thiện, chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ. Vì sao, này Upàli, có phải sự an trú này, sánh với các an trú trước, được thù diệu hơn, thù thắng hơn?
—Thưa có vậy, bạch Thế Tôn.
—Này Upàli, các đệ tử của Ta, thấy được Pháp này trong tự ngã, sống tại các rừng núi cao nguyên, các trú xứ xa vắng, cho đến khi mục đích của mình chưa đạt, thời họ vẫn trú (tại các chỗ ấy), (hay như mục đích của mình chưa đạt, tức là định chưa đạt; thời không sống trong rừng núi cao nguyên tại các trú xứ xa vắng).
TTC 9Lại nữa, này Upàli, Tỷ-kheo làm cho tịnh chỉ tầm và tứ… chứng đạt và an trú Thiền thứ hai. Thầy nghĩ thế nào, này Upàli, có phải sự an trú này, sánh với những an trú trước, được thù diệu hơn, được thù thắng hơn?
—Thưa có vậy, bạch Thế Tôn.
—Này Upàli, các đệ tử của Ta, khi quán thấy Pháp này trên tự ngã, họ mới đến ở các rừng núi cao nguyên, các trú xứ xa vắng. Họ sẽ không trú nếu mục đích của mình chưa đạt được.
TTC 10Lại nữa, này Upàli, Tỷ-kheo ly hỷ… chứng và trú Thiền thứ ba. Thầy nghĩ thế nào, này Upàli, có phải sự an trú này, sánh với những an trú trước, được thù diệu hơn, được thù thắng hơn?
—Thưa có vậy, bạch Thế Tôn.
—Này Upàli, các đệ tử của Ta, khi quán thấy Pháp này trên tự ngã, họ mới đến ở các rừng núi, cao nguyên, các trú xứ xa vắng. Họ sẽ không trú nếu mục đích của mình chưa đạt được.
TTC 11Lại nữa, này Upàli, Tỷ-kheo đoạn lạc… chứng đạt và an trú Thiền thứ tư. Thầy nghĩ thế nào, này Upàli… chưa đạt được…? …
TTC 12Lại nữa, này Upàli, Tỷ-kheo vượt qua các sắc tưởng một cách hoàn toàn, chấm dứt các tưởng đối ngại, không tác ý đến các tưởng sai biệt, nghĩ rằng: “Hư không là vô biên”, chứng đạt và an trú Không vô biên xứ. Thầy nghĩ thế nào, này Upàli…? … mục đích của mình chưa đạt được.
TTC 13Lại nữa, này Upàli, Tỷ-kheo vượt qua một cách hoàn toàn Không vô biên xứ, nghĩ rằng: “Thức là vô biên”, chứng đạt và an trú Thức vô biên xứ. Thầy nghĩ thế nào, này Upàli…? … mục đích của mình chưa đạt được.
Lại nữa, này Upàli, Tỷ-kheo vượt qua một cách hoàn toàn Thức vô biên xứ, nghĩ rằng: “Không có sở hữu”, chứng đạt và an trú Vô sở hữu xứ. Thầy nghĩ thế nào, này Upàli…? … mục đích của mình chưa đạt được.
Lại nữa, này Upàli, Tỷ-kheo vượt qua một cách hoàn toàn Vô sở hữu xứ, nghĩ rằng: “Ðây là tịch tịnh, đây là thù diệu”, chứng đạt và an trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Thầy nghĩ thế nào, này Upàli, có phải sự an trú này, sánh với các an trú trước, được thù diệu hơn, được thù thắng hơn?
—Thưa có vậy, bạch Thế Tôn… mục đích của mình chưa đạt được.
TTC 14Lại nữa, này Upàli, Tỷ-kheo sau khi vượt qua một cách hoàn toàn Phi tưởng phi phi tưởng xứ, chứng đạt và an trú Diệt thọ tưởng định, vị ấy sau khi thấy với trí tuệ, các lậu hoặc được đoạn tận. Thầy nghĩ thế nào, này Upàli, có phải sự an trú này, sánh với các an trú trước, được thù diệu hơn, được thù thắng hơn?
—Thưa có vậy, bạch Thế Tôn.
—Này Upàli, các đệ tử của Ta, sau khi quán thấy Pháp này trên tự ngã đã đến ở trong các rừng núi cao nguyên, tại các trú xứ xa vắng, họ không trú nếu mục đích của mình chưa đạt được.
Vậy này Upàli, Thầy hãy sống giữa chúng Tăng. Sống giữa chúng Tăng, Thầy sẽ được an ổn.
Atha kho āyasmā upāli yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā upāli bhagavantaṁ etadavoca:
“icchāmahaṁ, bhante, araññavanapatthāni pantāni senāsanāni paṭisevitun”ti.
“Durabhisambhavāni hi kho, upāli, araññavanapatthāni pantāni senāsanāni.
Dukkaraṁ pavivekaṁ durabhiramaṁ.
Ekatte haranti maññe mano vanāni samādhiṁ alabhamānassa bhikkhuno.
Yo kho, upāli, evaṁ vadeyya:
‘ahaṁ samādhiṁ alabhamāno araññavanapatthāni pantāni senāsanāni paṭisevissāmī’ti, tassetaṁ pāṭikaṅkhaṁ:
‘saṁsīdissati vā uplavissati vā’ti.
Seyyathāpi, upāli, mahāudakarahado.
Atha āgaccheyya hatthināgo sattaratano vā aḍḍhaṭṭharatano vā.
Tassa evamassa:
‘yannūnāhaṁ imaṁ udakarahadaṁ ogāhetvā kaṇṇasandhovikampi khiḍḍaṁ kīḷeyyaṁ piṭṭhisandhovikampi khiḍḍaṁ kīḷeyyaṁ.
Kaṇṇasandhovikampi khiḍḍaṁ kīḷitvā piṭṭhisandhovikampi khiḍḍaṁ kīḷitvā nhatvā ca pivitvā ca paccuttaritvā yena kāmaṁ pakkameyyan’ti.
So taṁ udakarahadaṁ ogāhetvā kaṇṇasandhovikampi khiḍḍaṁ kīḷeyya piṭṭhisandhovikampi khiḍḍaṁ kīḷeyya;
kaṇṇasandhovikampi khiḍḍaṁ kīḷitvā piṭṭhisandhovikampi khiḍḍaṁ kīḷitvā nhatvā ca pivitvā ca paccuttaritvā yena kāmaṁ pakkameyya.
Taṁ kissa hetu?
Mahā, upāli, attabhāvo gambhīre gādhaṁ vindati.
Atha āgaccheyya saso vā biḷāro vā.
Tassa evamassa:
‘ko cāhaṁ, ko ca hatthināgo.
Yannūnāhaṁ imaṁ udakarahadaṁ ogāhetvā kaṇṇasandhovikampi khiḍḍaṁ kīḷeyyaṁ piṭṭhisandhovikampi khiḍḍaṁ kīḷeyyaṁ;
kaṇṇasandhovikampi khiḍḍaṁ kīḷitvā piṭṭhisandhovikampi khiḍḍaṁ kīḷitvā nhatvā ca pivitvā ca paccuttaritvā yena kāmaṁ pakkameyyan’ti.
So taṁ udakarahadaṁ sahasā appaṭisaṅkhā pakkhandeyya.
Tassetaṁ pāṭikaṅkhaṁ:
‘saṁsīdissati vā uplavissati vā’ti.
Taṁ kissa hetu?
Paritto, upāli, attabhāvo gambhīre gādhaṁ na vindati.
Evamevaṁ kho, upāli, yo evaṁ vadeyya:
‘ahaṁ samādhiṁ alabhamāno araññavanapatthāni pantāni senāsanāni paṭisevissāmī’ti, tassetaṁ pāṭikaṅkhaṁ:
‘saṁsīdissati vā uplavissati vā’ti.
Seyyathāpi, upāli, daharo kumāro mando uttānaseyyako sakena muttakarīsena kīḷati.
Taṁ kiṁ maññasi, upāli,
nanvāyaṁ kevalā paripūrā bālakhiḍḍā”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Sa kho so, upāli, kumāro aparena samayena vuddhimanvāya indriyānaṁ paripākamanvāya
yāni kānici kumārakānaṁ kīḷāpanakāni bhavanti, seyyathidaṁ—vaṅkakaṁ ghaṭikaṁ mokkhacikaṁ ciṅgulakaṁ pattāḷhakaṁ rathakaṁ dhanukaṁ, tehi kīḷati.
Taṁ kiṁ maññasi, upāli,
nanvāyaṁ khiḍḍā purimāya khiḍḍāya abhikkantatarā ca paṇītatarā cā”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Sa kho so, upāli, kumāro aparena samayena vuddhimanvāya indriyānaṁ paripākamanvāya
pañcahi kāmaguṇehi samappito samaṅgibhūto paricāreti
cakkhuviññeyyehi rūpehi iṭṭhehi kantehi manāpehi piyarūpehi kāmūpasaṁhitehi rajanīyehi,
sotaviññeyyehi saddehi …
ghānaviññeyyehi gandhehi …
jivhāviññeyyehi rasehi …
kāyaviññeyyehi phoṭṭhabbehi iṭṭhehi kantehi manāpehi piyarūpehi kāmūpasaṁhitehi rajanīyehi.
Taṁ kiṁ maññasi, upāli,
nanvāyaṁ khiḍḍā purimāhi khiḍḍāhi abhikkantatarā ca paṇītatarā cā”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Idha kho pana vo, upāli, tathāgato loke uppajjati arahaṁ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi satthā devamanussānaṁ buddho bhagavā.
So imaṁ lokaṁ sadevakaṁ samārakaṁ sabrahmakaṁ sassamaṇabrāhmaṇiṁ pajaṁ sadevamanussaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā pavedeti.
So dhammaṁ deseti ādikalyāṇaṁ majjhekalyāṇaṁ pariyosānakalyāṇaṁ sātthaṁ sabyañjanaṁ, kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ pakāseti.
Taṁ dhammaṁ suṇāti gahapati vā gahapatiputto vā aññatarasmiṁ vā kule paccājāto.
So taṁ dhammaṁ sutvā tathāgate saddhaṁ paṭilabhati.
So tena saddhāpaṭilābhena samannāgato iti paṭisañcikkhati:
‘sambādho gharāvāso rajāpatho, abbhokāso pabbajjā.
Nayidaṁ sukaraṁ agāraṁ ajjhāvasatā ekantaparipuṇṇaṁ ekantaparisuddhaṁ saṅkhalikhitaṁ brahmacariyaṁ carituṁ.
Yannūnāhaṁ kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajeyyan’ti.
So aparena samayena appaṁ vā bhogakkhandhaṁ pahāya mahantaṁ vā bhogakkhandhaṁ pahāya appaṁ vā ñātiparivaṭṭaṁ pahāya mahantaṁ vā ñātiparivaṭṭaṁ pahāya kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajati.
So evaṁ pabbajito samāno bhikkhūnaṁ sikkhāsājīvasamāpanno pāṇātipātaṁ pahāya pāṇātipātā paṭivirato hoti nihitadaṇḍo nihitasattho lajjī dayāpanno sabbapāṇabhūtahitānukampī viharati.
Adinnādānaṁ pahāya adinnādānā paṭivirato hoti dinnādāyī dinnapāṭikaṅkhī; athenena sucibhūtena attanā viharati.
Abrahmacariyaṁ pahāya brahmacārī hoti ārācārī virato methunā gāmadhammā.
Musāvādaṁ pahāya musāvādā paṭivirato hoti saccavādī saccasandho theto paccayiko avisaṁvādako lokassa.
Pisuṇaṁ vācaṁ pahāya pisuṇāya vācāya paṭivirato hoti, ito sutvā na amutra akkhātā imesaṁ bhedāya, amutra vā sutvā na imesaṁ akkhātā amūsaṁ bhedāya. Iti bhinnānaṁ vā sandhātā sahitānaṁ vā anuppadātā, samaggārāmo samaggarato samagganandī; samaggakaraṇiṁ vācaṁ bhāsitā hoti.
Pharusaṁ vācaṁ pahāya pharusāya vācāya paṭivirato hoti. Yā sā vācā nelā kaṇṇasukhā pemanīyā hadayaṅgamā porī bahujanakantā bahujanamanāpā, tathārūpiṁ vācaṁ bhāsitā hoti.
Samphappalāpaṁ pahāya samphappalāpā paṭivirato hoti kālavādī bhūtavādī atthavādī dhammavādī vinayavādī, nidhānavatiṁ vācaṁ bhāsitā hoti kālena sāpadesaṁ pariyantavatiṁ atthasaṁhitaṁ.
So bījagāmabhūtagāmasamārambhā paṭivirato hoti.
Ekabhattiko hoti rattūparato, virato vikālabhojanā.
Naccagītavāditavisūkadassanā paṭivirato hoti,
mālāgandhavilepanadhāraṇamaṇḍanavibhūsanaṭṭhānā paṭivirato hoti,
uccāsayanamahāsayanā paṭivirato hoti,
jātarūparajatapaṭiggahaṇā paṭivirato hoti,
āmakadhaññapaṭiggahaṇā paṭivirato hoti,
āmakamaṁsapaṭiggahaṇā paṭivirato hoti,
itthikumārikapaṭiggahaṇā paṭivirato hoti,
dāsidāsapaṭiggahaṇā paṭivirato hoti,
ajeḷakapaṭiggahaṇā paṭivirato hoti,
kukkuṭasūkarapaṭiggahaṇā paṭivirato hoti,
hatthigavassavaḷavapaṭiggahaṇā paṭivirato hoti,
khettavatthupaṭiggahaṇā paṭivirato hoti,
dūteyyapahiṇagamanānuyogā paṭivirato hoti,
kayavikkayā paṭivirato hoti,
tulākūṭakaṁsakūṭamānakūṭā paṭivirato hoti,
ukkoṭanavañcananikatisāciyogā paṭivirato hoti,
chedanavadhabandhanaviparāmosaālopasahasākārā paṭivirato hoti.
So santuṭṭho hoti kāyaparihārikena cīvarena kucchiparihārikena piṇḍapātena.
Yena yeneva pakkamati samādāyeva pakkamati,
seyyathāpi nāma pakkhī sakuṇo yena yeneva ḍeti sapattabhārova ḍeti.
Evamevaṁ bhikkhu santuṭṭho hoti kāyaparihārikena cīvarena kucchiparihārikena piṇḍapātena. Yena yeneva pakkamati samādāyeva pakkamati.
So iminā ariyena sīlakkhandhena samannāgato ajjhattaṁ anavajjasukhaṁ paṭisaṁvedeti.
So cakkhunā rūpaṁ disvā na nimittaggāhī hoti nānubyañjanaggāhī.
Yatvādhikaraṇamenaṁ cakkhundriyaṁ asaṁvutaṁ viharantaṁ abhijjhādomanassā pāpakā akusalā dhammā anvāssaveyyuṁ, tassa saṁvarāya paṭipajjati; rakkhati cakkhundriyaṁ, cakkhundriye saṁvaraṁ āpajjati.
Sotena saddaṁ sutvā …
ghānena gandhaṁ ghāyitvā …
jivhāya rasaṁ sāyitvā …
kāyena phoṭṭhabbaṁ phusitvā …
manasā dhammaṁ viññāya na nimittaggāhī hoti nānubyañjanaggāhī.
Yatvādhikaraṇamenaṁ manindriyaṁ asaṁvutaṁ viharantaṁ abhijjhādomanassā pāpakā akusalā dhammā anvāssaveyyuṁ, tassa saṁvarāya paṭipajjati; rakkhati manindriyaṁ, manindriye saṁvaraṁ āpajjati.
So iminā ariyena indriyasaṁvarena samannāgato ajjhattaṁ abyāsekasukhaṁ paṭisaṁvedeti.
So abhikkante paṭikkante sampajānakārī hoti, ālokite vilokite sampajānakārī hoti, samiñjite pasārite sampajānakārī hoti, saṅghāṭipattacīvaradhāraṇe sampajānakārī hoti, asite pīte khāyite sāyite sampajānakārī hoti, uccārapassāvakamme sampajānakārī hoti, gate ṭhite nisinne sutte jāgarite bhāsite tuṇhībhāve sampajānakārī hoti.
So iminā ca ariyena sīlakkhandhena samannāgato, iminā ca ariyena indriyasaṁvarena samannāgato, iminā ca ariyena satisampajaññena samannāgato
vivittaṁ senāsanaṁ bhajati araññaṁ rukkhamūlaṁ pabbataṁ kandaraṁ giriguhaṁ susānaṁ vanapatthaṁ abbhokāsaṁ palālapuñjaṁ.
So araññagato vā rukkhamūlagato vā suññāgāragato vā nisīdati pallaṅkaṁ ābhujitvā ujuṁ kāyaṁ paṇidhāya parimukhaṁ satiṁ upaṭṭhapetvā.
So abhijjhaṁ loke pahāya vigatābhijjhena cetasā viharati, abhijjhāya cittaṁ parisodheti.
Byāpādapadosaṁ pahāya abyāpannacitto viharati sabbapāṇabhūtahitānukampī, byāpādapadosā cittaṁ parisodheti.
Thinamiddhaṁ pahāya vigatathinamiddho viharati ālokasaññī sato sampajāno, thinamiddhā cittaṁ parisodheti.
Uddhaccakukkuccaṁ pahāya anuddhato viharati ajjhattaṁ vūpasantacitto, uddhaccakukkuccā cittaṁ parisodheti.
Vicikicchaṁ pahāya tiṇṇavicikiccho viharati akathaṅkathī kusalesu dhammesu, vicikicchāya cittaṁ parisodheti.
So ime pañca nīvaraṇe pahāya cetaso upakkilese paññāya dubbalīkaraṇe,
vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
Taṁ kiṁ maññasi, upāli,
‘nanvāyaṁ vihāro purimehi vihārehi abhikkantataro ca paṇītataro cā’”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Imampi kho, upāli, mama sāvakā attani dhammaṁ sampassamānā araññavanapatthāni pantāni senāsanāni paṭisevanti, no ca kho tāva anuppattasadatthā viharanti.
Puna caparaṁ, upāli, bhikkhu vitakkavicārānaṁ vūpasamā …pe… dutiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
Taṁ kiṁ maññasi, upāli,
‘nanvāyaṁ vihāro purimehi vihārehi abhikkantataro ca paṇītataro cā’”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Imampi kho, upāli, mama sāvakā attani dhammaṁ sampassamānā araññavanapatthāni pantāni senāsanāni paṭisevanti, no ca kho tāva anuppattasadatthā viharanti.
Puna caparaṁ, upāli, bhikkhu pītiyā ca virāgā …pe… tatiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
Taṁ kiṁ maññasi, upāli,
‘nanvāyaṁ vihāro purimehi vihārehi abhikkantataro ca paṇītataro cā’”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Imampi kho, upāli, mama sāvakā attani dhammaṁ sampassamānā araññavanapatthāni pantāni senāsanāni paṭisevanti, no ca kho tāva anuppattasadatthā viharanti.
Puna caparaṁ, upāli, bhikkhu sukhassa ca pahānā …pe… catutthaṁ jhānaṁ …pe….
Puna caparaṁ, upāli, bhikkhu sabbaso rūpasaññānaṁ samatikkamā paṭighasaññānaṁ atthaṅgamā nānattasaññānaṁ amanasikārā ‘ananto ākāso’ti ākāsānañcāyatanaṁ upasampajja viharati.
Taṁ kiṁ maññasi, upāli,
‘nanvāyaṁ vihāro purimehi vihārehi abhikkantataro ca paṇītataro cā’”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Imampi kho, upāli, mama sāvakā attani dhammaṁ sampassamānā araññavanapatthāni pantāni senāsanāni paṭisevanti, no ca kho tāva anuppattasadatthā viharanti.
Puna caparaṁ, upāli, bhikkhu sabbaso ākāsānañcāyatanaṁ samatikkamma ‘anantaṁ viññāṇan’ti viññāṇañcāyatanaṁ upasampajja viharati …pe….
Sabbaso viññāṇañcāyatanaṁ samatikkamma ‘natthi kiñcī’ti ākiñcaññāyatanaṁ upasampajja viharati …pe….
Sabbaso ākiñcaññāyatanaṁ samatikkamma ‘santametaṁ paṇītametan’ti nevasaññānāsaññāyatanaṁ upasampajja viharati.
Taṁ kiṁ maññasi, upāli,
‘nanvāyaṁ vihāro purimehi vihārehi abhikkantataro ca paṇītataro cā’”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Imampi kho, upāli, mama sāvakā attani dhammaṁ sampassamānā araññavanapatthāni pantāni senāsanāni paṭisevanti, no ca kho tāva anuppattasadatthā viharanti.
Puna caparaṁ, upāli, bhikkhu sabbaso nevasaññānāsaññāyatanaṁ samatikkamma saññāvedayitanirodhaṁ upasampajja viharati; paññāya cassa disvā āsavā parikkhīṇā honti.
Taṁ kiṁ maññasi, upāli,
‘nanvāyaṁ vihāro purimehi vihārehi abhikkantataro ca paṇītataro cā’”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Imampi kho, upāli, mama sāvakā attani dhammaṁ sampassamānā araññavanapatthāni pantāni senāsanāni paṭisevanti, anuppattasadatthā ca viharanti.
Iṅgha tvaṁ, upāli, saṅghe viharāhi.
Saṅghe te viharato phāsu bhavissatī”ti.
Navamaṁ.