Tại đây, Tôn giả Sàriputta gọi các Tỷ-kheo:
—Thưa các Hiền giả Tỷ-kheo.
—Thưa vâng Hiền giả. Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Sàriputta. Tôn giả Sàriputta nói như:
—Thưa các Hiền giả, sau khi tôi thọ đại giới nửa tháng, nghĩa là vô ngại giải được chứng ngộ, vừa đặc biệt, vừa theo văn cú. Vấn đề ấy, với nhiều pháp môn, tôi nói lên, tôi thuyết giảng, tôi nêu rõ, tôi trình bày, tôi an lập, tôi mở rộng, tôi phân tích, tôi phát lộ. Nếu ai có nghi ngờ gì hay phân vân gì, nào có ích gì người ấy hỏi tôi và tôi trả lời người ấy, khi bậc Ðạo sư có mặt trước chúng ta, một bậc rất khéo thiện xảo trong các pháp.
Thưa các Hiền giả, sau khi tôi thọ đại giới nửa tháng, pháp vô ngại giải được chứng ngộ, vừa đặc biệt … tôi phát lộ. Nếu ai có nghi ngờ gì hay phân vân gì, nào có ích gì người ấy hỏi tôi và tôi trả lời người ấy, khi bậc Ðạo sư có mặt trước chúng ta, một bậc rất khéo thiện xảo trong các pháp.
Thưa các Hiền giả, sau khi tôi thọ đại giới trong nửa tháng, từ vô ngại giải được chứng ngộ, vừa đặc biệt … tôi phát lộ. Nếu ai có nghi ngờ gì hay phân vân gì, nào có ích gì người ấy hỏi tôi và tôi trả lời người ấy, khi bậc Ðạo sư có mặt trước chúng ta, một bậc rất khéo thiện xảo trong các pháp.
Thưa các Hiền giả, sau khi tôi thọ đại giới nửa tháng, biện tài vô ngại giải được chứng ngộ, vừa đặc biệt, vừa theo văn cú. Vấn đề ấy, với nhiều pháp môn, tôi nói lên, tôi thuyết giảng, tôi nêu rõ, tôi trình bày, tôi an lập, tôi mở rộng, tôi phân tích, tôi phát lộ. Nếu ai có nghi ngờ gì hay phân vân gì, nào có ích gì người ấy hỏi tôi và tôi trả lời người ấy, khi bậc Ðạo sư có mặt trước chúng ta, một bậc rất khéo thiện xảo trong các pháp.
Atha kho āyasmā mahākoṭṭhiko yenāyasmā sāriputto tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmatā sāriputtena saddhiṁ sammodi.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā mahākoṭṭhiko āyasmantaṁ sāriputtaṁ etadavoca:
“Channaṁ, āvuso, phassāyatanānaṁ asesavirāganirodhā atthaññaṁ kiñcī”ti?
“Mā hevaṁ, āvuso”.
“Channaṁ, āvuso, phassāyatanānaṁ asesavirāganirodhā natthaññaṁ kiñcī”ti?
“Mā hevaṁ, āvuso”.
“Channaṁ, āvuso, phassāyatanānaṁ asesavirāganirodhā atthi ca natthi ca aññaṁ kiñcī”ti?
“Mā hevaṁ, āvuso”.
“Channaṁ, āvuso, phassāyatanānaṁ asesavirāganirodhā nevatthi no natthaññaṁ kiñcī”ti?
“Mā hevaṁ, āvuso”.
“‘Channaṁ, āvuso, phassāyatanānaṁ asesavirāganirodhā atthaññaṁ kiñcī’ti, iti puṭṭho samāno ‘mā hevaṁ, āvuso’ti vadesi.
‘Channaṁ, āvuso, phassāyatanānaṁ asesavirāganirodhā natthaññaṁ kiñcī’ti, iti puṭṭho samāno:
‘mā hevaṁ, āvuso’ti vadesi.
‘Channaṁ, āvuso, phassāyatanānaṁ asesavirāganirodhā atthi ca natthi ca aññaṁ kiñcī’ti, iti puṭṭho samāno:
‘mā hevaṁ, āvuso’ti vadesi.
‘Channaṁ, āvuso, phassāyatanānaṁ asesavirāganirodhā nevatthi no natthaññaṁ kiñcī’ti, iti puṭṭho samāno:
‘mā hevaṁ, āvuso’ti vadesi.
Yathā kathaṁ pana, āvuso, imassa bhāsitassa attho daṭṭhabbo”ti?
“‘Channaṁ, āvuso, phassāyatanānaṁ asesavirāganirodhā atthaññaṁ kiñcī’ti, iti vadaṁ appapañcaṁ papañceti.
‘Channaṁ, āvuso, phassāyatanānaṁ asesavirāganirodhā natthaññaṁ kiñcī’ti, iti vadaṁ appapañcaṁ papañceti.
‘Channaṁ, āvuso, phassāyatanānaṁ asesavirāganirodhā atthi ca natthi ca aññaṁ kiñcī’ti, iti vadaṁ appapañcaṁ papañceti.
‘Channaṁ, āvuso, phassāyatanānaṁ asesavirāganirodhā nevatthi no natthaññaṁ kiñcī’ti, iti vadaṁ appapañcaṁ papañceti.
Yāvatā, āvuso, channaṁ phassāyatanānaṁ gati tāvatā papañcassa gati;
yāvatā papañcassa gati tāvatā channaṁ phassāyatanānaṁ gati.
Channaṁ, āvuso, phassāyatanānaṁ asesavirāganirodhā papañcanirodho papañcavūpasamo”ti.
Tatiyaṁ.
Then Ven. Maha Kotthita went to Ven. Sariputta and, on arrival, exchanged courteous greetings with him. After an exchange of friendly greetings & courtesies, he sat to one side. As he was sitting there, he said to Ven. Sariputta, “With the remainderless stopping & fading of the six contact-media [vision, hearing, smell, taste, touch, & intellection] is it the case that there is anything else?”
[Sariputta:] “Don’t say that, my friend.”
[Maha Kotthita:] “With the remainderless stopping & fading of the six contact-media, is it the case that there is not anything else?”
[Sariputta:] “Don’t say that, my friend.”
[Maha Kotthita:] “…is it the case that there both is & is not anything else?”
[Sariputta:] “Don’t say that, my friend.”
[Maha Kotthita:] “…is it the case that there neither is nor is not anything else?”
[Sariputta:] “Don’t say that, my friend.”
[Maha Kotthita:] “Being asked if, with the remainderless stopping & fading of the six contact-media, there is anything else, you say, ‘Don’t say that, my friend.’ Being asked if … there is not anything else … there both is & is not anything else … there neither is nor is not anything else, you say, ‘Don’t say that, my friend.’ Now, how is the meaning of your words to be understood?”
[Sariputta:] “The statement, ‘With the remainderless stopping & fading of the six contact-media [vision, hearing, smell, taste, touch, & intellection] is it the case that there is anything else?’ objectifies non-objectification. The statement, ‘… is it the case that there is not anything else … is it the case that there both is & is not anything else … is it the case that there neither is nor is not anything else?’ objectifies non-objectification. However far the six contact-media go, that is how far objectification goes. However far objectification goes, that is how far the six contact media go. With the remainderless fading & stopping of the six contact-media, there comes to be the stopping, the allaying of objectification.
Tại đây, Tôn giả Sàriputta gọi các Tỷ-kheo:
—Thưa các Hiền giả Tỷ-kheo.
—Thưa vâng Hiền giả. Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Sàriputta. Tôn giả Sàriputta nói như:
—Thưa các Hiền giả, sau khi tôi thọ đại giới nửa tháng, nghĩa là vô ngại giải được chứng ngộ, vừa đặc biệt, vừa theo văn cú. Vấn đề ấy, với nhiều pháp môn, tôi nói lên, tôi thuyết giảng, tôi nêu rõ, tôi trình bày, tôi an lập, tôi mở rộng, tôi phân tích, tôi phát lộ. Nếu ai có nghi ngờ gì hay phân vân gì, nào có ích gì người ấy hỏi tôi và tôi trả lời người ấy, khi bậc Ðạo sư có mặt trước chúng ta, một bậc rất khéo thiện xảo trong các pháp.
Thưa các Hiền giả, sau khi tôi thọ đại giới nửa tháng, pháp vô ngại giải được chứng ngộ, vừa đặc biệt … tôi phát lộ. Nếu ai có nghi ngờ gì hay phân vân gì, nào có ích gì người ấy hỏi tôi và tôi trả lời người ấy, khi bậc Ðạo sư có mặt trước chúng ta, một bậc rất khéo thiện xảo trong các pháp.
Thưa các Hiền giả, sau khi tôi thọ đại giới trong nửa tháng, từ vô ngại giải được chứng ngộ, vừa đặc biệt … tôi phát lộ. Nếu ai có nghi ngờ gì hay phân vân gì, nào có ích gì người ấy hỏi tôi và tôi trả lời người ấy, khi bậc Ðạo sư có mặt trước chúng ta, một bậc rất khéo thiện xảo trong các pháp.
Thưa các Hiền giả, sau khi tôi thọ đại giới nửa tháng, biện tài vô ngại giải được chứng ngộ, vừa đặc biệt, vừa theo văn cú. Vấn đề ấy, với nhiều pháp môn, tôi nói lên, tôi thuyết giảng, tôi nêu rõ, tôi trình bày, tôi an lập, tôi mở rộng, tôi phân tích, tôi phát lộ. Nếu ai có nghi ngờ gì hay phân vân gì, nào có ích gì người ấy hỏi tôi và tôi trả lời người ấy, khi bậc Ðạo sư có mặt trước chúng ta, một bậc rất khéo thiện xảo trong các pháp.
Atha kho āyasmā mahākoṭṭhiko yenāyasmā sāriputto tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmatā sāriputtena saddhiṁ sammodi.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā mahākoṭṭhiko āyasmantaṁ sāriputtaṁ etadavoca:
“Channaṁ, āvuso, phassāyatanānaṁ asesavirāganirodhā atthaññaṁ kiñcī”ti?
“Mā hevaṁ, āvuso”.
“Channaṁ, āvuso, phassāyatanānaṁ asesavirāganirodhā natthaññaṁ kiñcī”ti?
“Mā hevaṁ, āvuso”.
“Channaṁ, āvuso, phassāyatanānaṁ asesavirāganirodhā atthi ca natthi ca aññaṁ kiñcī”ti?
“Mā hevaṁ, āvuso”.
“Channaṁ, āvuso, phassāyatanānaṁ asesavirāganirodhā nevatthi no natthaññaṁ kiñcī”ti?
“Mā hevaṁ, āvuso”.
“‘Channaṁ, āvuso, phassāyatanānaṁ asesavirāganirodhā atthaññaṁ kiñcī’ti, iti puṭṭho samāno ‘mā hevaṁ, āvuso’ti vadesi.
‘Channaṁ, āvuso, phassāyatanānaṁ asesavirāganirodhā natthaññaṁ kiñcī’ti, iti puṭṭho samāno:
‘mā hevaṁ, āvuso’ti vadesi.
‘Channaṁ, āvuso, phassāyatanānaṁ asesavirāganirodhā atthi ca natthi ca aññaṁ kiñcī’ti, iti puṭṭho samāno:
‘mā hevaṁ, āvuso’ti vadesi.
‘Channaṁ, āvuso, phassāyatanānaṁ asesavirāganirodhā nevatthi no natthaññaṁ kiñcī’ti, iti puṭṭho samāno:
‘mā hevaṁ, āvuso’ti vadesi.
Yathā kathaṁ pana, āvuso, imassa bhāsitassa attho daṭṭhabbo”ti?
“‘Channaṁ, āvuso, phassāyatanānaṁ asesavirāganirodhā atthaññaṁ kiñcī’ti, iti vadaṁ appapañcaṁ papañceti.
‘Channaṁ, āvuso, phassāyatanānaṁ asesavirāganirodhā natthaññaṁ kiñcī’ti, iti vadaṁ appapañcaṁ papañceti.
‘Channaṁ, āvuso, phassāyatanānaṁ asesavirāganirodhā atthi ca natthi ca aññaṁ kiñcī’ti, iti vadaṁ appapañcaṁ papañceti.
‘Channaṁ, āvuso, phassāyatanānaṁ asesavirāganirodhā nevatthi no natthaññaṁ kiñcī’ti, iti vadaṁ appapañcaṁ papañceti.
Yāvatā, āvuso, channaṁ phassāyatanānaṁ gati tāvatā papañcassa gati;
yāvatā papañcassa gati tāvatā channaṁ phassāyatanānaṁ gati.
Channaṁ, āvuso, phassāyatanānaṁ asesavirāganirodhā papañcanirodho papañcavūpasamo”ti.
Tatiyaṁ.