… Ở Sāvatthi. Rồi một vị Thiên, khi đêm đã gần tàn, với nhan sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn. Sau khi đến, vị ấy đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Ðứng một bên, vị Thiên ấy bạch Thế Tôn:
—Thưa Tôn giả, Ngài có biết giải thoát, thoát ly, viễn ly cho các chúng sanh không?
—Này Hiền giả, Ta có biết giải thoát, thoát ly, viễn ly cho các chúng sanh.
—Thưa Tôn giả, như thế nào Ngài biết giải thoát, thoát ly, viễn ly cho các chúng sanh?
Hỷ, tái sanh đoạn tận,
Tưởng, thức được trừ diệt,
Các thọ diệt, tịch tịnh,
Như vậy này Hiền giả,
Ta biết sự giải thoát,
Thoát ly và viễn ly,
Cho các loại chúng sanh.
Sāvatthinidānaṁ.
Atha kho aññatarā devatā abhikkantāya rattiyā abhikkantavaṇṇā kevalakappaṁ jetavanaṁ obhāsetvā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhitā kho sā devatā bhagavantaṁ etadavoca:
“Jānāsi no tvaṁ, mārisa, sattānaṁ nimokkhaṁ pamokkhaṁ vivekan”ti?
“Jānāmi khvāhaṁ, āvuso, sattānaṁ nimokkhaṁ pamokkhaṁ vivekan”ti.
“Yathākathaṁ pana tvaṁ, mārisa, jānāsi sattānaṁ nimokkhaṁ pamokkhaṁ vivekan”ti?
“Nandībhavaparikkhayā,
Saññāviññāṇasaṅkhayā;
Vedanānaṁ nirodhā upasamā,
Evaṁ khvāhaṁ āvuso jānāmi;
Sattānaṁ nimokkhaṁ pamokkhaṁ vivekan”ti.
SC 1 At Savatthi. Then, when the night had advanced, a certain devatā of stunning beauty, illuminating the entire Jeta’s Grove, approached the Blessed One. Having approached, he paid homage to the Blessed One, stood to one side, and said to him:
SC 2“Do you know, dear sir, emancipation, release, seclusion for beings?”
SC 3“I know, friend, emancipation, release, seclusion for beings.”
SC 4“But in what way, dear sir, do you know emancipation, release, seclusion for beings?”
The Blessed One:
SC 5 “By the utter destruction of delight in existence,
By the extinction of perception and consciousness,
By the cessation and appeasement of feelings:
It is thus, friend, that I know for beings—
Emancipation, release, seclusion.”
… Ở Sāvatthi. Rồi một vị Thiên, khi đêm đã gần tàn, với nhan sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn. Sau khi đến, vị ấy đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Ðứng một bên, vị Thiên ấy bạch Thế Tôn:
—Thưa Tôn giả, Ngài có biết giải thoát, thoát ly, viễn ly cho các chúng sanh không?
—Này Hiền giả, Ta có biết giải thoát, thoát ly, viễn ly cho các chúng sanh.
—Thưa Tôn giả, như thế nào Ngài biết giải thoát, thoát ly, viễn ly cho các chúng sanh?
Hỷ, tái sanh đoạn tận,
Tưởng, thức được trừ diệt,
Các thọ diệt, tịch tịnh,
Như vậy này Hiền giả,
Ta biết sự giải thoát,
Thoát ly và viễn ly,
Cho các loại chúng sanh.
Sāvatthinidānaṁ.
Atha kho aññatarā devatā abhikkantāya rattiyā abhikkantavaṇṇā kevalakappaṁ jetavanaṁ obhāsetvā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhitā kho sā devatā bhagavantaṁ etadavoca:
“Jānāsi no tvaṁ, mārisa, sattānaṁ nimokkhaṁ pamokkhaṁ vivekan”ti?
“Jānāmi khvāhaṁ, āvuso, sattānaṁ nimokkhaṁ pamokkhaṁ vivekan”ti.
“Yathākathaṁ pana tvaṁ, mārisa, jānāsi sattānaṁ nimokkhaṁ pamokkhaṁ vivekan”ti?
“Nandībhavaparikkhayā,
Saññāviññāṇasaṅkhayā;
Vedanānaṁ nirodhā upasamā,
Evaṁ khvāhaṁ āvuso jānāmi;
Sattānaṁ nimokkhaṁ pamokkhaṁ vivekan”ti.