Vi-n 1 … Trú ở Sāvatthi.
Vi-n 2 —Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, dân chúng Dasàrahà có một cái trống tên là Anaka.
Vi-n 3 Khi cái trống Anaka bắt đầu nứt ra, dân chúng Dasàrahà đóng vào một cái chốt khác. Cho đến một thời gian, này các Tỷ-kheo, cả cái thùng ván của trống Anaka biến mất và chỉ còn lại những cái chốt tụ tập lại.
Vi-n 4 Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, những Tỷ-kheo sẽ thành trong tương lai.
Vi-n 5 Những bài kinh nào do Như Lai thuyết, thâm sâu, nghĩa lý thâm diệu, xuất thế gian, liên hệ đến không, họ sẽ không nghe khi các kinh ấy được thuyết giảng; họ sẽ không lóng tai; họ sẽ không an trú chánh tri tâm, và họ sẽ không nghĩ rằng các pháp ấy cần phải học thuộc lòng, cần phải thấu đáo.
Vi-n 6 Còn những bài kinh nào do các thi sĩ làm, những bài thơ với những danh từ hoa mỹ, với những câu văn hoa mỹ, thuộc ngoại điển, do các đệ tử thuyết giảng, họ sẽ nghe khi các kinh ấy được thuyết giảng; họ sẽ lóng tai; họ sẽ an trú chánh tri tâm và họ sẽ nghĩ rằng, các pháp ấy cần phải học thuộc lòng, cần phải học thấu đáo. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các kinh do Như Lai thuyết, thâm sâu, nghĩa lý thâm diệu, xuất thế gian, liên hệ đến không sẽ đi đến tiêu diệt.
Vi-n 7 Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập như sau: “Những bài kinh nào do Như Lai thuyết giảng, thâm sâu, nghĩa lý thâm diệu, xuất thế gian, liên hệ đến không, chúng tôi sẽ nghe khi các kinh ấy được thuyết giảng; chúng tôi sẽ lóng tai; chúng tôi sẽ an trú chánh tri tâm. Và chúng tôi sẽ nghĩ rằng, các pháp ấy cần phải học thuộc lòng, cần phải học thấu đáo”.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập.
Sāvatthiyaṁ viharati.
“Bhūtapubbaṁ, bhikkhave, dasārahānaṁ ānako nāma mudiṅgo ahosi.
Tassa dasārahā ānake ghaṭite aññaṁ āṇiṁ odahiṁsu.
Ahu kho so, bhikkhave, samayo yaṁ ānakassa mudiṅgassa porāṇaṁ pokkharaphalakaṁ antaradhāyi.
Āṇisaṅghāṭova avasissi.
Evameva kho, bhikkhave, bhavissanti bhikkhū anāgatamaddhānaṁ, ye te suttantā tathāgatabhāsitā gambhīrā gambhīratthā lokuttarā suññatappaṭisaṁyuttā, tesu bhaññamānesu na sussūsissanti na sotaṁ odahissanti na aññā cittaṁ upaṭṭhāpessanti na ca te dhamme uggahetabbaṁ pariyāpuṇitabbaṁ maññissanti.
Ye pana te suttantā kavikatā kāveyyā cittakkharā cittabyañjanā bāhirakā sāvakabhāsitā, tesu bhaññamānesu sussūsissanti, sotaṁ odahissanti, aññā cittaṁ upaṭṭhāpessanti, te ca dhamme uggahetabbaṁ pariyāpuṇitabbaṁ maññissanti.
Evametesaṁ, bhikkhave, suttantānaṁ tathāgatabhāsitānaṁ gambhīrānaṁ gambhīratthānaṁ lokuttarānaṁ suññatappaṭisaṁyuttānaṁ antaradhānaṁ bhavissati.
Tasmātiha, bhikkhave, evaṁ sikkhitabbaṁ:
‘ye te suttantā tathāgatabhāsitā gambhīrā gambhīratthā lokuttarā suññatappaṭisaṁyuttā, tesu bhaññamānesu sussūsissāma, sotaṁ odahissāma, aññā cittaṁ upaṭṭhāpessāma, te ca dhamme uggahetabbaṁ pariyāpuṇitabbaṁ maññissāmā’ti.
Evañhi vo, bhikkhave, sikkhitabban”ti.
Sattamaṁ.
Dhdas-bh 1Nya 1Thus have I heard: the Exalted One was once staying near Sāvatthī at the Jeta Grove in Anāthapiṇḍika's Park. There the Exalted One addressed the brethren:
Dhdas-bh 2Once upon a time, brethren, the Dasārahas had a kettle-drum called Summoner. As it began to split the Dasārahas fixed in ever another peg, until the time came that the Summoner's original drumhead had vanished and only the framework of pegs remained. PTS vp En 179 Even so, brethren, will the brethren become in the future.
Dhdas-bh 3Those Suttantas uttered by the Tathāgata, deep, deep in meaning, not of the world, dealing with the void, to these when uttered, they will not listen, they will not lend a ready ear, they will not bring to them an understanding heart, they will not deem those doctrines that which should be learnt by heart, that which should be mastered. But those Suttantas which are made by poets, which are poetry, which are a manifold of words, a manifold of phrases, alien, the utterances of disciples, to these when uttered they will listen, they will lend a ready ear, they will bring an understanding heart, they will deem these doctrines that which should be learnt by heart, which should be mastered.
Dhdas-bh 4Thus it is, brethren, that the Suttantas uttered by the Tathāgata, deep, deep in meaning, not of the world, dealing with the void, will disappear. Wherefore, brethren, ye are thus to train yourselves: to these very Suttantas will we listen, will we give a ready ear, to these will we bring an understanding heart. And we will deem these doctrines that which should be learnt by heart, and mastered, even thus.
Vi-n 1 … Trú ở Sāvatthi.
Vi-n 2 —Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, dân chúng Dasàrahà có một cái trống tên là Anaka.
Vi-n 3 Khi cái trống Anaka bắt đầu nứt ra, dân chúng Dasàrahà đóng vào một cái chốt khác. Cho đến một thời gian, này các Tỷ-kheo, cả cái thùng ván của trống Anaka biến mất và chỉ còn lại những cái chốt tụ tập lại.
Vi-n 4 Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, những Tỷ-kheo sẽ thành trong tương lai.
Vi-n 5 Những bài kinh nào do Như Lai thuyết, thâm sâu, nghĩa lý thâm diệu, xuất thế gian, liên hệ đến không, họ sẽ không nghe khi các kinh ấy được thuyết giảng; họ sẽ không lóng tai; họ sẽ không an trú chánh tri tâm, và họ sẽ không nghĩ rằng các pháp ấy cần phải học thuộc lòng, cần phải thấu đáo.
Vi-n 6 Còn những bài kinh nào do các thi sĩ làm, những bài thơ với những danh từ hoa mỹ, với những câu văn hoa mỹ, thuộc ngoại điển, do các đệ tử thuyết giảng, họ sẽ nghe khi các kinh ấy được thuyết giảng; họ sẽ lóng tai; họ sẽ an trú chánh tri tâm và họ sẽ nghĩ rằng, các pháp ấy cần phải học thuộc lòng, cần phải học thấu đáo. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các kinh do Như Lai thuyết, thâm sâu, nghĩa lý thâm diệu, xuất thế gian, liên hệ đến không sẽ đi đến tiêu diệt.
Vi-n 7 Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập như sau: “Những bài kinh nào do Như Lai thuyết giảng, thâm sâu, nghĩa lý thâm diệu, xuất thế gian, liên hệ đến không, chúng tôi sẽ nghe khi các kinh ấy được thuyết giảng; chúng tôi sẽ lóng tai; chúng tôi sẽ an trú chánh tri tâm. Và chúng tôi sẽ nghĩ rằng, các pháp ấy cần phải học thuộc lòng, cần phải học thấu đáo”.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập.
Sāvatthiyaṁ viharati.
“Bhūtapubbaṁ, bhikkhave, dasārahānaṁ ānako nāma mudiṅgo ahosi.
Tassa dasārahā ānake ghaṭite aññaṁ āṇiṁ odahiṁsu.
Ahu kho so, bhikkhave, samayo yaṁ ānakassa mudiṅgassa porāṇaṁ pokkharaphalakaṁ antaradhāyi.
Āṇisaṅghāṭova avasissi.
Evameva kho, bhikkhave, bhavissanti bhikkhū anāgatamaddhānaṁ, ye te suttantā tathāgatabhāsitā gambhīrā gambhīratthā lokuttarā suññatappaṭisaṁyuttā, tesu bhaññamānesu na sussūsissanti na sotaṁ odahissanti na aññā cittaṁ upaṭṭhāpessanti na ca te dhamme uggahetabbaṁ pariyāpuṇitabbaṁ maññissanti.
Ye pana te suttantā kavikatā kāveyyā cittakkharā cittabyañjanā bāhirakā sāvakabhāsitā, tesu bhaññamānesu sussūsissanti, sotaṁ odahissanti, aññā cittaṁ upaṭṭhāpessanti, te ca dhamme uggahetabbaṁ pariyāpuṇitabbaṁ maññissanti.
Evametesaṁ, bhikkhave, suttantānaṁ tathāgatabhāsitānaṁ gambhīrānaṁ gambhīratthānaṁ lokuttarānaṁ suññatappaṭisaṁyuttānaṁ antaradhānaṁ bhavissati.
Tasmātiha, bhikkhave, evaṁ sikkhitabbaṁ:
‘ye te suttantā tathāgatabhāsitā gambhīrā gambhīratthā lokuttarā suññatappaṭisaṁyuttā, tesu bhaññamānesu sussūsissāma, sotaṁ odahissāma, aññā cittaṁ upaṭṭhāpessāma, te ca dhamme uggahetabbaṁ pariyāpuṇitabbaṁ maññissāmā’ti.
Evañhi vo, bhikkhave, sikkhitabban”ti.
Sattamaṁ.