Vi-n 1 Một thời Thế Tôn ở Rājagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm), tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc.
Vi-n 2 Lúc bấy giờ Tôn giả Assaji trú ở vườn Kassapa, bị bệnh, đau đớn, trầm trọng.
Vi-n 3 Rồi Tôn giả Assaji gọi các người thị giả:
—Hãy đến, này chư Hiền! Hãy đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nhân danh ta cúi đầu đảnh lễ Thế Tôn: “Tỷ-kheo Assaji, bạch Thế Tôn, bị bệnh, đau đớn, trầm trọng, cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn, và thưa như sau: ‘Lành thay, bạch Thế Tôn! Thế Tôn vì lòng từ mẫn hãy đi đến Tỷ-kheo Assaji!’”
Vi-n 4 —Thưa vâng, Hiền giả!
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Assaji, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 5 Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
—Tỷ-kheo Assaji, bạch Thế Tôn, bị bệnh đau đớn, trầm trọng … Lành thay, bạch Thế Tôn! Thế Tôn vì lòng từ mẫn hãy đi đến Tỷ-kheo Assaji! Thế Tôn im lặng nhận lời.
Vi-n 6 Rồi Thế Tôn, vào buổi chiều, từ chỗ tịnh cư đứng dậy, đi đến Tôn giả Assaji.
Vi-n 7 Tôn giả Assaji thấy Thế Tôn từ xa đi đến, thấy vậy liền cố gắng từ nơi giường ngồi dậy. Thế Tôn nói với Tôn giả Assaji:
—Thôi Assaji! Ông chớ có cố gắng từ giường ngồi dậy! Có chỗ ngồi đã soạn sẵn. Tại chỗ ấy, Ta sẽ ngồi.
Vi-n 9 Thế Tôn ngồi xuống trên chỗ ngồi đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn nói với Tôn giả Assaji:
Vi-n 10 —Ông có kham nhẫn được không, này Assaji? Ông có chịu đựng được không? … Có phải có những dấu hiệu thuyên giảm, không có tăng trưởng?
—Bạch Thế Tôn, con không có thể kham nhẫn! … Có những dấu hiệu tăng trưởng, không có thuyên giảm!
Vi-n 11 —Này Assaji, Ông có phân vân gì, có hối hận gì không?
—Chắc chắn, bạch Thế Tôn, con có nhiều phân vân, có nhiều hối hận!
Vi-n 12 —Này Assaji, Ông có điều gì tự trách mình về giới luật hay không?
—Bạch Thế Tôn, con không có điều gì tự trách mình về giới luật.
Vi-n 13 —Này Assaji, nếu Ông không có điều gì tự trách mình về giới luật, Ông có phân vân gì, có hối hận gì không?
—Trước đây, bạch Thế Tôn, sau khi cố gắng làm cho lắng xuống cơn bịnh, con sống với thân hành, do vậy con không chứng được Thiền định. Dầu cho không chứng được Thiền định, con tự nghĩ: “Ta sẽ không thối thất”.
Vi-n 14 Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào kiên trì trong Thiền định, tập trung trong Thiền định, nếu họ không chứng đắc Thiền định, họ sẽ nghĩ rằng: “Chúng ta sẽ không thối thất!”
Vi-n 15-21. —Này Assaji, Ông nghĩ thế nào, sắc là thường hay vô thường?
—Vô thường, bạch Thế Tôn! … Thức là thường hay vô thường? … do vậy … thấy vậy … ” … không còn trở lui trạng thái này nữa”. Vị ấy biết rõ như vậy.
Vi-n 22 Khi cảm giác lạc thọ, vị ấy biết rõ: “Là vô thường”; vị ấy biết rõ: “Là không nên đắm trước”; vị ấy biết rõ: “Là không nên hoan hỷ”. Khi cảm giác khổ thọ, vị ấy biết rõ: “Là vô thường”; vị ấy biết rõ: “Là không nên đắm trước”; vị ấy biết rõ: “Là không nên hoan hỷ”. Khi cảm giác bất khổ bất lạc khổ, vị ấy biết rõ: “Là vô thường”; vị ấy biết rõ: “Là không nên đắm trước”; vị ấy biết rõ: “Là không nên hoan hỷ”.
Vi-n 23 Nếu vị ấy cảm giác lạc thọ, vị ấy cảm thọ không có hệ lụy. Nếu vị ấy cảm giác khổ thọ, vị ấy cảm thọ không có hệ lụy. Nếu vị ấy cảm giác bất khổ bất lạc thọ, vị ấy cảm thọ không có hệ lụy.
Vi-n 24 Nếu vị ấy cảm thọ một cảm thọ cùng tận về thân, vị ấy biết rõ: “Ta đang cảm giác một cảm thọ cùng tận về thân”. Nếu vị ấy cảm giác một cảm thọ cùng tận về sinh mạng, vị ấy biết rõ: “Ta đang cảm giác một cảm thọ cùng tận về sinh mạng”. Vị ấy biết rõ rằng: “Khi thân hoại mạng chung trên cho đến khi sinh mạng đi đến chỗ cùng tận, ở đây tất cả những gì vị ấy cảm thọ, tất cả những gì vị ấy hoan hỷ, sẽ trở thành thanh lương!”
Vi-n 25 Ví như, này Assaji, do duyên dầu, do duyên tim bấc, một cây đèn dầu được cháy đỏ. Khi dầu và tim bấc của ngọn đèn ấy đoạn tận, không có mang lại nhiên liệu, ngọn đèn ấy sẽ tắt. Cũng vậy, này Assaji, Tỷ-kheo, khi cảm giác một cảm thọ cùng tận về thân, vị ấy biết rõ: “Ta đang cảm giác một cảm thọ cùng tận về thân”. Khi cảm giác một cảm thọ cùng tận về sinh mạng, vị ấy biết rõ: “Ta đang cảm giác một cảm thọ cùng tận về sinh mạng”. Sau khi thân hoại mạng chung trên cho đến khi sinh mạng đi đến chỗ cùng tận, ở đây tất cả những gì vị ấy cảm thọ, tất cả những gì vị ấy hoan hỷ, sẽ trở thành thanh lương!
Ekaṁ samayaṁ bhagavā rājagahe viharati veḷuvane kalandakanivāpe.
Tena kho pana samayena āyasmā assaji kassapakārāme viharati ābādhiko dukkhito bāḷhagilāno.
Atha kho āyasmā assaji upaṭṭhāke āmantesi:
“etha tumhe, āvuso, yena bhagavā tenupasaṅkamatha; upasaṅkamitvā mama vacanena bhagavato pāde sirasā vandatha:
‘assaji, bhante, bhikkhu ābādhiko dukkhito bāḷhagilāno.
So bhagavato pāde sirasā vandatī’ti.
Evañca vadetha:
‘sādhu kira, bhante, bhagavā yena assaji bhikkhu tenupasaṅkamatu anukampaṁ upādāyā’”ti.
“Evamāvuso”ti kho te bhikkhū āyasmato assajissa paṭissutvā yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinnā kho te bhikkhū bhagavantaṁ etadavocuṁ:
“assaji, bhante, bhikkhu ābādhiko …pe…
sādhu kira, bhante, bhagavā yena assaji bhikkhu tenupasaṅkamatu anukampaṁ upādāyā”ti.
Adhivāsesi bhagavā tuṇhībhāvena.
Atha kho bhagavā sāyanhasamayaṁ paṭisallānā vuṭṭhito yenāyasmā assaji tenupasaṅkami.
Addasā kho āyasmā assaji bhagavantaṁ dūratova āgacchantaṁ.
Disvāna mañcake samadhosi.
Atha kho bhagavā āyasmantaṁ assajiṁ etadavoca:
“alaṁ, assaji, mā tvaṁ mañcake samadhosi.
Santimāni āsanāni paññattāni, tatthāhaṁ nisīdissāmī”ti.
Nisīdi bhagavā paññatte āsane. Nisajja kho bhagavā āyasmantaṁ assajiṁ etadavoca:
“kacci te, assaji, khamanīyaṁ, kacci yāpanīyaṁ …pe… paṭikkamosānaṁ paññāyati no abhikkamo”ti?
“Na me, bhante, khamanīyaṁ …pe… abhikkamosānaṁ paññāyati no paṭikkamo”ti.
“Kacci te, assaji, na kiñci kukkuccaṁ na koci vippaṭisāro”ti?
“Taggha me, bhante, anappakaṁ kukkuccaṁ anappako vippaṭisāro”ti.
“Kacci pana taṁ, assaji, attā sīlato na upavadatī”ti?
“Na kho maṁ, bhante, attā sīlato upavadatī”ti.
“No ce kira taṁ, assaji, attā sīlato upavadati, atha kiñca te kukkuccaṁ ko ca vippaṭisāro”ti?
“Pubbe khvāhaṁ, bhante, gelaññe passambhetvā passambhetvā kāyasaṅkhāre viharāmi, sohaṁ samādhiṁ nappaṭilabhāmi.
Tassa mayhaṁ, bhante, taṁ samādhiṁ appaṭilabhato evaṁ hoti:
‘no cassāhaṁ parihāyāmī’”ti.
“Ye te, assaji, samaṇabrāhmaṇā samādhisārakā samādhisāmaññā tesaṁ taṁ samādhiṁ appaṭilabhataṁ evaṁ hoti:
‘no cassu mayaṁ parihāyāmā’ti.
Taṁ kiṁ maññasi, assaji,
rūpaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
“Aniccaṁ, bhante” …pe…
viññāṇaṁ …pe…
“tasmātiha …pe…
evaṁ passaṁ …pe…
nāparaṁ itthattāyāti pajānātīti.
So sukhañce vedanaṁ vedayati, sā ‘aniccā’ti pajānāti. ‘Anajjhositā’ti pajānāti. ‘Anabhinanditā’ti pajānāti.
Dukkhañce vedanaṁ vedayati, sā ‘aniccā’ti pajānāti. ‘Anajjhositā’ti pajānāti. ‘Anabhinanditā’ti pajānāti.
Adukkhamasukhañce vedanaṁ vedayati, sā ‘aniccā’ti pajānāti …pe… ‘anabhinanditā’ti pajānāti.
So sukhañce vedanaṁ vedayati, visaṁyutto naṁ vedayati;
dukkhañce vedanaṁ vedayati, visaṁyutto naṁ vedayati;
adukkhamasukhañce vedanaṁ vedayati, visaṁyutto naṁ vedayati.
So kāyapariyantikañce vedanaṁ vedayamāno ‘kāyapariyantikaṁ vedanaṁ vedayāmī’ti pajānāti. Jīvitapariyantikañce vedanaṁ vedayamāno ‘jīvitapariyantikaṁ vedanaṁ vedayāmī’ti pajānāti.
‘Kāyassa bhedā uddhaṁ jīvitapariyādānā idheva sabbavedayitāni anabhinanditāni sītībhavissantī’ti pajānāti.
Seyyathāpi, assaji, telañca paṭicca, vaṭṭiñca paṭicca, telappadīpo jhāyeyya;
tasseva telassa ca vaṭṭiyā ca pariyādānā anāhāro nibbāyeyya.
Evameva kho, assaji, bhikkhu kāyapariyantikaṁ vedanaṁ vedayamāno ‘kāyapariyantikaṁ vedanaṁ vedayāmī’ti pajānāti. Jīvitapariyantikaṁ vedanaṁ vedayamāno ‘jīvitapariyantikaṁ vedanaṁ vedayāmī’ti pajānāti.
‘Kāyassa bhedā uddhaṁ jīvitapariyādānā idheva sabbavedayitāni anabhinanditāni sītībhavissantī’ti pajānātī”ti.
Chaṭṭhaṁ.
SC 1On one occasion the Blessed One was dwelling at Rajagaha in the Bamboo Grove, the Squirrel Sanctuary. Now on that occasion the Venerable Assaji was dwelling at Kassapaka’s Park, sick, afflicted, gravely ill.
As in preceding sutta, down to: sn.iii.125
SC 2“Then if you have nothing for which to reproach yourself in regard to virtue, Assaji, why are you troubled by remorse and regret?”
SC 3“Formerly, venerable sir, when I was ill I kept on tranquillizing the bodily formations, but now I do not obtain concentration. As I do not obtain concentration, it occurs to me: ‘Let me not fall away!’”
SC 4“Those ascetics and brahmins, Assaji, who regard concentration as the essence and identify concentration with asceticism, failing to obtain concentration, might think, ‘Let us not fall away!’
SC 5“What do you think, Assaji, is form permanent or impermanent?”—“Impermanent, venerable sir.”… sn.iii.126 —“Therefore … Seeing thus … He understands: ‘… there is no more for this state of being.’
SC 6“If he feels a pleasant feeling, he understands: ‘It is impermanent’; he understands: ‘It is not held to’; he understands: ‘It is not delighted in.’ If he feels a painful feeling, he understands: ‘It is impermanent’; he understands: ‘It is not held to’; he understands: ‘It is not delighted in.’ If he feels a neither-painful-nor-pleasant feeling, he understands: ‘It is impermanent’; he understands: ‘It is not held to’; he understands: ‘It is not delighted in.’
SC 7“If he feels a pleasant feeling, he feels it detached; if he feels a painful feeling, he feels it detached; if he feels a neither-painful-nor-pleasant feeling, he feels it detached.
SC 8“When he feels a feeling terminating with the body, he understands: ‘I feel a feeling terminating with the body.’ When he feels a feeling terminating with life, he understands: ‘I feel a feeling terminating with life.’ He understands: ‘With the breakup of the body, following the exhaustion of life, all that is felt, not being delighted in, will become cool right here.’
SC 9“Just as, Assaji, an oil lamp burns in dependence on the oil and the wick, and with the exhaustion of the oil and the wick it is extinguished through lack of fuel, so too, Assaji, when a bhikkhu feels a feeling terminating with the body … terminating with life … He understands: ‘With the breakup of the body, following the exhaustion of life, all that is felt, not being delighted in, will become cool right here.’”
Vi-n 1 Một thời Thế Tôn ở Rājagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm), tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc.
Vi-n 2 Lúc bấy giờ Tôn giả Assaji trú ở vườn Kassapa, bị bệnh, đau đớn, trầm trọng.
Vi-n 3 Rồi Tôn giả Assaji gọi các người thị giả:
—Hãy đến, này chư Hiền! Hãy đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nhân danh ta cúi đầu đảnh lễ Thế Tôn: “Tỷ-kheo Assaji, bạch Thế Tôn, bị bệnh, đau đớn, trầm trọng, cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn, và thưa như sau: ‘Lành thay, bạch Thế Tôn! Thế Tôn vì lòng từ mẫn hãy đi đến Tỷ-kheo Assaji!’”
Vi-n 4 —Thưa vâng, Hiền giả!
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Assaji, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 5 Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
—Tỷ-kheo Assaji, bạch Thế Tôn, bị bệnh đau đớn, trầm trọng … Lành thay, bạch Thế Tôn! Thế Tôn vì lòng từ mẫn hãy đi đến Tỷ-kheo Assaji! Thế Tôn im lặng nhận lời.
Vi-n 6 Rồi Thế Tôn, vào buổi chiều, từ chỗ tịnh cư đứng dậy, đi đến Tôn giả Assaji.
Vi-n 7 Tôn giả Assaji thấy Thế Tôn từ xa đi đến, thấy vậy liền cố gắng từ nơi giường ngồi dậy. Thế Tôn nói với Tôn giả Assaji:
—Thôi Assaji! Ông chớ có cố gắng từ giường ngồi dậy! Có chỗ ngồi đã soạn sẵn. Tại chỗ ấy, Ta sẽ ngồi.
Vi-n 9 Thế Tôn ngồi xuống trên chỗ ngồi đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn nói với Tôn giả Assaji:
Vi-n 10 —Ông có kham nhẫn được không, này Assaji? Ông có chịu đựng được không? … Có phải có những dấu hiệu thuyên giảm, không có tăng trưởng?
—Bạch Thế Tôn, con không có thể kham nhẫn! … Có những dấu hiệu tăng trưởng, không có thuyên giảm!
Vi-n 11 —Này Assaji, Ông có phân vân gì, có hối hận gì không?
—Chắc chắn, bạch Thế Tôn, con có nhiều phân vân, có nhiều hối hận!
Vi-n 12 —Này Assaji, Ông có điều gì tự trách mình về giới luật hay không?
—Bạch Thế Tôn, con không có điều gì tự trách mình về giới luật.
Vi-n 13 —Này Assaji, nếu Ông không có điều gì tự trách mình về giới luật, Ông có phân vân gì, có hối hận gì không?
—Trước đây, bạch Thế Tôn, sau khi cố gắng làm cho lắng xuống cơn bịnh, con sống với thân hành, do vậy con không chứng được Thiền định. Dầu cho không chứng được Thiền định, con tự nghĩ: “Ta sẽ không thối thất”.
Vi-n 14 Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào kiên trì trong Thiền định, tập trung trong Thiền định, nếu họ không chứng đắc Thiền định, họ sẽ nghĩ rằng: “Chúng ta sẽ không thối thất!”
Vi-n 15-21. —Này Assaji, Ông nghĩ thế nào, sắc là thường hay vô thường?
—Vô thường, bạch Thế Tôn! … Thức là thường hay vô thường? … do vậy … thấy vậy … ” … không còn trở lui trạng thái này nữa”. Vị ấy biết rõ như vậy.
Vi-n 22 Khi cảm giác lạc thọ, vị ấy biết rõ: “Là vô thường”; vị ấy biết rõ: “Là không nên đắm trước”; vị ấy biết rõ: “Là không nên hoan hỷ”. Khi cảm giác khổ thọ, vị ấy biết rõ: “Là vô thường”; vị ấy biết rõ: “Là không nên đắm trước”; vị ấy biết rõ: “Là không nên hoan hỷ”. Khi cảm giác bất khổ bất lạc khổ, vị ấy biết rõ: “Là vô thường”; vị ấy biết rõ: “Là không nên đắm trước”; vị ấy biết rõ: “Là không nên hoan hỷ”.
Vi-n 23 Nếu vị ấy cảm giác lạc thọ, vị ấy cảm thọ không có hệ lụy. Nếu vị ấy cảm giác khổ thọ, vị ấy cảm thọ không có hệ lụy. Nếu vị ấy cảm giác bất khổ bất lạc thọ, vị ấy cảm thọ không có hệ lụy.
Vi-n 24 Nếu vị ấy cảm thọ một cảm thọ cùng tận về thân, vị ấy biết rõ: “Ta đang cảm giác một cảm thọ cùng tận về thân”. Nếu vị ấy cảm giác một cảm thọ cùng tận về sinh mạng, vị ấy biết rõ: “Ta đang cảm giác một cảm thọ cùng tận về sinh mạng”. Vị ấy biết rõ rằng: “Khi thân hoại mạng chung trên cho đến khi sinh mạng đi đến chỗ cùng tận, ở đây tất cả những gì vị ấy cảm thọ, tất cả những gì vị ấy hoan hỷ, sẽ trở thành thanh lương!”
Vi-n 25 Ví như, này Assaji, do duyên dầu, do duyên tim bấc, một cây đèn dầu được cháy đỏ. Khi dầu và tim bấc của ngọn đèn ấy đoạn tận, không có mang lại nhiên liệu, ngọn đèn ấy sẽ tắt. Cũng vậy, này Assaji, Tỷ-kheo, khi cảm giác một cảm thọ cùng tận về thân, vị ấy biết rõ: “Ta đang cảm giác một cảm thọ cùng tận về thân”. Khi cảm giác một cảm thọ cùng tận về sinh mạng, vị ấy biết rõ: “Ta đang cảm giác một cảm thọ cùng tận về sinh mạng”. Sau khi thân hoại mạng chung trên cho đến khi sinh mạng đi đến chỗ cùng tận, ở đây tất cả những gì vị ấy cảm thọ, tất cả những gì vị ấy hoan hỷ, sẽ trở thành thanh lương!
Ekaṁ samayaṁ bhagavā rājagahe viharati veḷuvane kalandakanivāpe.
Tena kho pana samayena āyasmā assaji kassapakārāme viharati ābādhiko dukkhito bāḷhagilāno.
Atha kho āyasmā assaji upaṭṭhāke āmantesi:
“etha tumhe, āvuso, yena bhagavā tenupasaṅkamatha; upasaṅkamitvā mama vacanena bhagavato pāde sirasā vandatha:
‘assaji, bhante, bhikkhu ābādhiko dukkhito bāḷhagilāno.
So bhagavato pāde sirasā vandatī’ti.
Evañca vadetha:
‘sādhu kira, bhante, bhagavā yena assaji bhikkhu tenupasaṅkamatu anukampaṁ upādāyā’”ti.
“Evamāvuso”ti kho te bhikkhū āyasmato assajissa paṭissutvā yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinnā kho te bhikkhū bhagavantaṁ etadavocuṁ:
“assaji, bhante, bhikkhu ābādhiko …pe…
sādhu kira, bhante, bhagavā yena assaji bhikkhu tenupasaṅkamatu anukampaṁ upādāyā”ti.
Adhivāsesi bhagavā tuṇhībhāvena.
Atha kho bhagavā sāyanhasamayaṁ paṭisallānā vuṭṭhito yenāyasmā assaji tenupasaṅkami.
Addasā kho āyasmā assaji bhagavantaṁ dūratova āgacchantaṁ.
Disvāna mañcake samadhosi.
Atha kho bhagavā āyasmantaṁ assajiṁ etadavoca:
“alaṁ, assaji, mā tvaṁ mañcake samadhosi.
Santimāni āsanāni paññattāni, tatthāhaṁ nisīdissāmī”ti.
Nisīdi bhagavā paññatte āsane. Nisajja kho bhagavā āyasmantaṁ assajiṁ etadavoca:
“kacci te, assaji, khamanīyaṁ, kacci yāpanīyaṁ …pe… paṭikkamosānaṁ paññāyati no abhikkamo”ti?
“Na me, bhante, khamanīyaṁ …pe… abhikkamosānaṁ paññāyati no paṭikkamo”ti.
“Kacci te, assaji, na kiñci kukkuccaṁ na koci vippaṭisāro”ti?
“Taggha me, bhante, anappakaṁ kukkuccaṁ anappako vippaṭisāro”ti.
“Kacci pana taṁ, assaji, attā sīlato na upavadatī”ti?
“Na kho maṁ, bhante, attā sīlato upavadatī”ti.
“No ce kira taṁ, assaji, attā sīlato upavadati, atha kiñca te kukkuccaṁ ko ca vippaṭisāro”ti?
“Pubbe khvāhaṁ, bhante, gelaññe passambhetvā passambhetvā kāyasaṅkhāre viharāmi, sohaṁ samādhiṁ nappaṭilabhāmi.
Tassa mayhaṁ, bhante, taṁ samādhiṁ appaṭilabhato evaṁ hoti:
‘no cassāhaṁ parihāyāmī’”ti.
“Ye te, assaji, samaṇabrāhmaṇā samādhisārakā samādhisāmaññā tesaṁ taṁ samādhiṁ appaṭilabhataṁ evaṁ hoti:
‘no cassu mayaṁ parihāyāmā’ti.
Taṁ kiṁ maññasi, assaji,
rūpaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
“Aniccaṁ, bhante” …pe…
viññāṇaṁ …pe…
“tasmātiha …pe…
evaṁ passaṁ …pe…
nāparaṁ itthattāyāti pajānātīti.
So sukhañce vedanaṁ vedayati, sā ‘aniccā’ti pajānāti. ‘Anajjhositā’ti pajānāti. ‘Anabhinanditā’ti pajānāti.
Dukkhañce vedanaṁ vedayati, sā ‘aniccā’ti pajānāti. ‘Anajjhositā’ti pajānāti. ‘Anabhinanditā’ti pajānāti.
Adukkhamasukhañce vedanaṁ vedayati, sā ‘aniccā’ti pajānāti …pe… ‘anabhinanditā’ti pajānāti.
So sukhañce vedanaṁ vedayati, visaṁyutto naṁ vedayati;
dukkhañce vedanaṁ vedayati, visaṁyutto naṁ vedayati;
adukkhamasukhañce vedanaṁ vedayati, visaṁyutto naṁ vedayati.
So kāyapariyantikañce vedanaṁ vedayamāno ‘kāyapariyantikaṁ vedanaṁ vedayāmī’ti pajānāti. Jīvitapariyantikañce vedanaṁ vedayamāno ‘jīvitapariyantikaṁ vedanaṁ vedayāmī’ti pajānāti.
‘Kāyassa bhedā uddhaṁ jīvitapariyādānā idheva sabbavedayitāni anabhinanditāni sītībhavissantī’ti pajānāti.
Seyyathāpi, assaji, telañca paṭicca, vaṭṭiñca paṭicca, telappadīpo jhāyeyya;
tasseva telassa ca vaṭṭiyā ca pariyādānā anāhāro nibbāyeyya.
Evameva kho, assaji, bhikkhu kāyapariyantikaṁ vedanaṁ vedayamāno ‘kāyapariyantikaṁ vedanaṁ vedayāmī’ti pajānāti. Jīvitapariyantikaṁ vedanaṁ vedayamāno ‘jīvitapariyantikaṁ vedanaṁ vedayāmī’ti pajānāti.
‘Kāyassa bhedā uddhaṁ jīvitapariyādānā idheva sabbavedayitāni anabhinanditāni sītībhavissantī’ti pajānātī”ti.
Chaṭṭhaṁ.