Vi-n 1 Nhân duyên ở Sāvatthi.
Vi-n 2 —Này các Tỷ-kheo, thuở xưa, một trận chiến kịch liệt xảy ra giữa chư Thiên và các Asura.
Vi-n 3 Rồi này các Tỷ-kheo, Vepacitti, vua các A-tu-la, nói với Thiên chủ Sakka:
“ —Này Thiên chủ, hãy chấp nhận, ai khéo nói, người ấy thắng.”
“ —Này Vepacitti, ta chấp nhận, ai khéo nói, người ấy thắng.”
Vi-n 4 Rồi này các Tỷ-kheo, chư Thiên và các Asura sắp các hội chúng và nói:
“ —Hội chúng này sẽ phán đoán ai khéo nói, ai không khéo nói.”
Vi-n 5 Rồi này các Tỷ-kheo, Vepacitti, vua các A-tu-la, nói với Thiên chủ Sakka:
“—Này Thiên chủ, hãy nói lên bài kệ”.
Vi-n 6 Ðược nói vậy, này các Tỷ-kheo, Thiên chủ Sakka nói với Vepacitti, vua các A-tu-la:
“—Này Vepacitti, ở đây, Ông là vị Thiên lớn tuổi hơn. Này Vepacitti, hãy nói lên bài kệ”.
Vi-n 7 Khi được nói vậy, này các Tỷ-kheo, vua các A-tu-la, Vepacitti nói lên bài kệ này:
Kẻ ngu càng nổi khùng
Nếu không người đối trị,
Vậy với hình phạt nặng,
Kẻ trí trị người ngu.
Vi-n 8 Này các Tỷ-kheo, các A-tu-la tán thán bài kệ của Vepacitti, vua các A-tu-la. Còn chư Thiên thời im lặng.
Vi-n 9 Rồi này các Tỷ-kheo, Vepacitti, vua các A-tu-la, nói với Thiên chủ Sakka:
“—Này Thiên chủ, hãy nói lên bài kệ”.
Vi-n 10 Khi được nói vậy, này các Tỷ-kheo, Thiên chủ Sakka nói lên bài kệ này:
Như vậy theo ta nghĩ,
Chỉ chế ngự người ngu,
Biết kẻ khác phẫn nộ,
Giữ niệm, tâm an tịnh.
Vi-n 11 Này các Tỷ-kheo, chư Thiên tán thán bài kệ của Thiên chủ Sakka, còn các A-tu-la thời im lặng.
Vi-n 12 Rồi này các Tỷ-kheo, Thiên chủ Sakka nói với Vepacitti, vua các A-tu-la:
“—Này Vepacitti, hãy nói lên bài kệ”
(Vepacitti):
Hỡi này Vāsava,
Sự kham nhẫn như vậy,
Ta thấy là lầm lỗi,
Khi kẻ ngu nghĩ rằng:
“Vì sợ ta, nó nhẫn”.
Kẻ ngu càng hăng tiết,
Như bò thấy người chạy,
Càng hung hăng đuổi dài.
Vi-n 13 Này các Tỷ-kheo, các A-tu-la tán thán bài kệ của Vepacitti, vua các A-tu-la, còn chư Thiên thời im lặng.
Vi-n 14 Rồi Vepacitti, vua các A-tu-la, nói với Thiên chủ Sakka:
“—Này Thiên chủ, hãy nói lên bài kệ”.
Vi-n 15 Khi được nói vậy, này các Tỷ kheo, Thiên chủ Sakka nói lên bài kệ này:
Hãy để nó suy nghĩ,
Như ý nó mong muốn,
Nghĩ rằng ta kham nhẫn,
Vì ta sợ hãi nó.
Trong tư lợi tối thượng,
Không gì hơn kham nhẫn.
Người đầy đủ sức mạnh,
Chịu nhẫn người yếu kém,
Nhẫn ấy gọi tối thượng.
Thường nhẫn kẻ yếu hèn,
Sức mạnh của kẻ ngu,
Ðược xem là sức mạnh,
Thời sức mạnh kẻ mạnh,
Lại được gọi yếu hèn.
Người mạnh hộ trì pháp,
Không nói lời phản ứng.
Bị mắng, nhiếc mắng lại,
Sẽ hại nặng nề hơn.
Bị mắng, không mắng lại,
Ðược chiến thắng hai lần.
Sống lợi ích cả hai,
Lợi mình và lợi người,
Biết kẻ khác tức giận,
Giữ niệm, tâm an tịnh,
Là y sĩ cả hai,
Chữa mình và chữa người,
Quần chúng nghĩ là ngu,
Vì không giỏi Chánh pháp.
Vi-n 16 Này các Tỷ-kheo, chư Thiên tán thán bài kệ của Thiên chủ Sakka, còn các A-tu-la thời im lặng.
Vi-n 17 Rồi này các Tỷ-kheo, hội chúng chư Thiên và A-tu-la nói như sau:
Vi-n 18 “Những bài kệ của Vepacitti, vua các A-tu-la, nói lên là những lời bạo lực, những lời đao kiếm, đưa đến đấu tranh, bất hòa, gây hấn.
Vi-n 19 Còn những bài kệ, Thiên chủ Sakka nói lên là những lời không thuộc bạo lực, những lời không thuộc đao kiếm, không đưa đến đấu tranh, không đưa đến bất hòa, không đưa đến gây hấn, thắng lợi đã về Thiên chủ Sakka, nhờ khéo nói”.
Vi-n 20 Như vậy, này các Tỷ-kheo, thắng lợi về Thiên chủ Sakka nhờ khéo nói.
Sāvatthinidānaṁ.
“Bhūtapubbaṁ, bhikkhave, devāsurasaṅgāmo samupabyūḷho ahosi.
Atha kho, bhikkhave, vepacitti asurindo sakkaṁ devānamindaṁ etadavoca:
‘hotu, devānaminda, subhāsitena jayo’ti.
‘Hotu, vepacitti, subhāsitena jayo’ti.
Atha kho, bhikkhave, devā ca asurā ca pārisajje ṭhapesuṁ:
‘ime no subhāsitadubbhāsitaṁ ājānissantī’ti.
Atha kho, bhikkhave, vepacitti asurindo sakkaṁ devānamindaṁ etadavoca:
‘bhaṇa, devānaminda, gāthan’ti.
Evaṁ vutte, bhikkhave, sakko devānamindo vepacittiṁ asurindaṁ etadavoca:
‘tumhe khvettha, vepacitti, pubbadevā.
Bhaṇa, vepacitti, gāthan’ti.
Evaṁ vutte, bhikkhave, vepacitti asurindo imaṁ gāthaṁ abhāsi:
‘Bhiyyo bālā pabhijjeyyuṁ,
no cassa paṭisedhako;
Tasmā bhusena daṇḍena,
dhīro bālaṁ nisedhaye’ti.
Bhāsitāya kho pana, bhikkhave, vepacittinā asurindena gāthāya asurā anumodiṁsu, devā tuṇhī ahesuṁ.
Atha kho, bhikkhave, vepacitti asurindo sakkaṁ devānamindaṁ etadavoca:
‘bhaṇa, devānaminda, gāthan’ti.
Evaṁ vutte, bhikkhave, sakko devānamindo imaṁ gāthaṁ abhāsi:
‘Etadeva ahaṁ maññe,
bālassa paṭisedhanaṁ;
Paraṁ saṅkupitaṁ ñatvā,
yo sato upasammatī’ti.
Bhāsitāya kho pana, bhikkhave, sakkena devānamindena gāthāya, devā anumodiṁsu, asurā tuṇhī ahesuṁ.
Atha kho, bhikkhave, sakko devānamindo vepacittiṁ asurindaṁ etadavoca:
‘bhaṇa, vepacitti, gāthan’ti.
Evaṁ vutte, bhikkhave, vepacitti asurindo imaṁ gāthaṁ abhāsi:
‘Etadeva titikkhāya,
vajjaṁ passāmi vāsava;
Yadā naṁ maññati bālo,
bhayā myāyaṁ titikkhati;
Ajjhāruhati dummedho,
gova bhiyyo palāyinan’ti.
Bhāsitāya kho pana, bhikkhave, vepacittinā asurindena gāthāya asurā anumodiṁsu, devā tuṇhī ahesuṁ.
Atha kho, bhikkhave, vepacitti asurindo sakkaṁ devānamindaṁ etadavoca:
‘bhaṇa, devānaminda, gāthan’ti.
Evaṁ vutte, bhikkhave, sakko devānamindo imā gāthāyo abhāsi:
‘Kāmaṁ maññatu vā mā vā,
bhayā myāyaṁ titikkhati;
Sadatthaparamā atthā,
khantyā bhiyyo na vijjati.
Yo have balavā santo,
dubbalassa titikkhati;
Tamāhu paramaṁ khantiṁ,
niccaṁ khamati dubbalo.
Abalaṁ taṁ balaṁ āhu,
yassa bālabalaṁ balaṁ;
Balassa dhammaguttassa,
paṭivattā na vijjati.
Tasseva tena pāpiyo,
yo kuddhaṁ paṭikujjhati;
Kuddhaṁ appaṭikujjhanto,
saṅgāmaṁ jeti dujjayaṁ.
Ubhinnamatthaṁ carati,
attano ca parassa ca;
Paraṁ saṅkupitaṁ ñatvā,
yo sato upasammati.
Ubhinnaṁ tikicchantānaṁ,
attano ca parassa ca;
Janā maññanti bāloti,
ye dhammassa akovidā’ti.
Bhāsitāsu kho pana, bhikkhave, sakkena devānamindena gāthāsu, devā anumodiṁsu, asurā tuṇhī ahesuṁ.
Atha kho, bhikkhave, devānañca asurānañca pārisajjā etadavocuṁ:
‘bhāsitā kho vepacittinā asurindena gāthāyo.
Tā ca kho sadaṇḍāvacarā sasatthāvacarā, iti bhaṇḍanaṁ iti viggaho iti kalaho.
Bhāsitā kho sakkena devānamindena gāthāyo.
Tā ca kho adaṇḍāvacarā asatthāvacarā, iti abhaṇḍanaṁ iti aviggaho iti akalaho.
Sakkassa devānamindassa subhāsitena jayo’ti.
Iti kho, bhikkhave, sakkassa devānamindassa subhāsitena jayo ahosī”ti.
SC 1 At Savatthī. “Bhikkhus, once in the past the devas and the asuras were arrayed for battle. Then Vepacitti, lord of the asuras, said to Sakka, lord of the devas: ‘Lord of the devas, let there be victory by well-spoken counsel.’ And Sakka replied: ‘Vepacitti, let there be victory by well-spoken counsel.’
SC 2“Then, bhikkhus, the devas and the asuras appointed a panel of judges, saying: ‘These will ascertain what has been well spoken and badly spoken by us.’
SC 3“Then Vepacitti, lord of the asuras, said to Sakka, lord of the devas: ‘Speak a verse, lord of the devas.’ When this was said, Sakka said to Vepacitti: ‘You, Vepacitti, being the senior deva here, speak a verse.’ sn.i.223 When this was said, Vepacitti, lord of the asuras, recited this verse:
SC 4 “‘Fools would vent their anger even more
If no one would keep them in check.
Hence with drastic punishment
The wise man should restrain the fool.’
SC 5“When, bhikkhus, Vepacitti, lord of the asuras, spoke this verse, the asuras applauded but the devas were silent. Then Vepacitti said to Sakka: ‘Speak a verse, lord of the devas.’ When this was said, Sakka, lord of the devas, recited this verse:
SC 6 “‘I myself think this alone
Is the way to check the fool:
When one knows one’s foe is angry
One mindfully maintains one’s peace.’
SC 7“When, bhikkhus, Sakka, lord of the devas, spoke this verse, the devas applauded but the asuras were silent. Then Sakka said to Vepacitti: ‘Speak a verse, Vepacitti.’ When this was said, Vepacitti, lord of the asuras, recited this verse:
SC 8 “‘I see this fault, O Vasava,
In practising patient endurance:
When the fool thinks of you thus,
“He endures me out of fear,”
The dolt will chase you even more
As a bull does one who flees.’
SC 9“When, bhikkhus, Vepacitti, lord of the asuras, spoke this verse, the asuras applauded but the devas were silent. Then Vepacitti said to Sakka: ‘Speak a verse, lord of the devas.’ When this was said, Sakka, lord of the devas, recited these verses:
SC 10-891 “‘Let it be whether or not he thinks,
… verses = 877–82 … sn.i.224
Are unskilled in the Dhamma.’
SC 11“When, bhikkhus, these verses were spoken by Sakka, lord of the devas, the devas applauded but the asuras were silent. Then the panel of judges appointed by the devas and the asuras said this: ‘The verses spoken by Vepacitti, lord of the asuras, are in the sphere of punishment and violence; hence they entail conflict, contention, and strife. But the verses spoken by Sakka, lord of the devas, are in the sphere of nonpunishment and nonviolence; hence they entail freedom from conflict, freedom from contention, and freedom from strife. Sakka, lord of the devas, has won the victory by well-spoken counsel.’
SC 12“In this way, bhikkhus, Sakka, lord of the devas, won the victory by well-spoken counsel.”
Vi-n 1 Nhân duyên ở Sāvatthi.
Vi-n 2 —Này các Tỷ-kheo, thuở xưa, một trận chiến kịch liệt xảy ra giữa chư Thiên và các Asura.
Vi-n 3 Rồi này các Tỷ-kheo, Vepacitti, vua các A-tu-la, nói với Thiên chủ Sakka:
“ —Này Thiên chủ, hãy chấp nhận, ai khéo nói, người ấy thắng.”
“ —Này Vepacitti, ta chấp nhận, ai khéo nói, người ấy thắng.”
Vi-n 4 Rồi này các Tỷ-kheo, chư Thiên và các Asura sắp các hội chúng và nói:
“ —Hội chúng này sẽ phán đoán ai khéo nói, ai không khéo nói.”
Vi-n 5 Rồi này các Tỷ-kheo, Vepacitti, vua các A-tu-la, nói với Thiên chủ Sakka:
“—Này Thiên chủ, hãy nói lên bài kệ”.
Vi-n 6 Ðược nói vậy, này các Tỷ-kheo, Thiên chủ Sakka nói với Vepacitti, vua các A-tu-la:
“—Này Vepacitti, ở đây, Ông là vị Thiên lớn tuổi hơn. Này Vepacitti, hãy nói lên bài kệ”.
Vi-n 7 Khi được nói vậy, này các Tỷ-kheo, vua các A-tu-la, Vepacitti nói lên bài kệ này:
Kẻ ngu càng nổi khùng
Nếu không người đối trị,
Vậy với hình phạt nặng,
Kẻ trí trị người ngu.
Vi-n 8 Này các Tỷ-kheo, các A-tu-la tán thán bài kệ của Vepacitti, vua các A-tu-la. Còn chư Thiên thời im lặng.
Vi-n 9 Rồi này các Tỷ-kheo, Vepacitti, vua các A-tu-la, nói với Thiên chủ Sakka:
“—Này Thiên chủ, hãy nói lên bài kệ”.
Vi-n 10 Khi được nói vậy, này các Tỷ-kheo, Thiên chủ Sakka nói lên bài kệ này:
Như vậy theo ta nghĩ,
Chỉ chế ngự người ngu,
Biết kẻ khác phẫn nộ,
Giữ niệm, tâm an tịnh.
Vi-n 11 Này các Tỷ-kheo, chư Thiên tán thán bài kệ của Thiên chủ Sakka, còn các A-tu-la thời im lặng.
Vi-n 12 Rồi này các Tỷ-kheo, Thiên chủ Sakka nói với Vepacitti, vua các A-tu-la:
“—Này Vepacitti, hãy nói lên bài kệ”
(Vepacitti):
Hỡi này Vāsava,
Sự kham nhẫn như vậy,
Ta thấy là lầm lỗi,
Khi kẻ ngu nghĩ rằng:
“Vì sợ ta, nó nhẫn”.
Kẻ ngu càng hăng tiết,
Như bò thấy người chạy,
Càng hung hăng đuổi dài.
Vi-n 13 Này các Tỷ-kheo, các A-tu-la tán thán bài kệ của Vepacitti, vua các A-tu-la, còn chư Thiên thời im lặng.
Vi-n 14 Rồi Vepacitti, vua các A-tu-la, nói với Thiên chủ Sakka:
“—Này Thiên chủ, hãy nói lên bài kệ”.
Vi-n 15 Khi được nói vậy, này các Tỷ kheo, Thiên chủ Sakka nói lên bài kệ này:
Hãy để nó suy nghĩ,
Như ý nó mong muốn,
Nghĩ rằng ta kham nhẫn,
Vì ta sợ hãi nó.
Trong tư lợi tối thượng,
Không gì hơn kham nhẫn.
Người đầy đủ sức mạnh,
Chịu nhẫn người yếu kém,
Nhẫn ấy gọi tối thượng.
Thường nhẫn kẻ yếu hèn,
Sức mạnh của kẻ ngu,
Ðược xem là sức mạnh,
Thời sức mạnh kẻ mạnh,
Lại được gọi yếu hèn.
Người mạnh hộ trì pháp,
Không nói lời phản ứng.
Bị mắng, nhiếc mắng lại,
Sẽ hại nặng nề hơn.
Bị mắng, không mắng lại,
Ðược chiến thắng hai lần.
Sống lợi ích cả hai,
Lợi mình và lợi người,
Biết kẻ khác tức giận,
Giữ niệm, tâm an tịnh,
Là y sĩ cả hai,
Chữa mình và chữa người,
Quần chúng nghĩ là ngu,
Vì không giỏi Chánh pháp.
Vi-n 16 Này các Tỷ-kheo, chư Thiên tán thán bài kệ của Thiên chủ Sakka, còn các A-tu-la thời im lặng.
Vi-n 17 Rồi này các Tỷ-kheo, hội chúng chư Thiên và A-tu-la nói như sau:
Vi-n 18 “Những bài kệ của Vepacitti, vua các A-tu-la, nói lên là những lời bạo lực, những lời đao kiếm, đưa đến đấu tranh, bất hòa, gây hấn.
Vi-n 19 Còn những bài kệ, Thiên chủ Sakka nói lên là những lời không thuộc bạo lực, những lời không thuộc đao kiếm, không đưa đến đấu tranh, không đưa đến bất hòa, không đưa đến gây hấn, thắng lợi đã về Thiên chủ Sakka, nhờ khéo nói”.
Vi-n 20 Như vậy, này các Tỷ-kheo, thắng lợi về Thiên chủ Sakka nhờ khéo nói.
Sāvatthinidānaṁ.
“Bhūtapubbaṁ, bhikkhave, devāsurasaṅgāmo samupabyūḷho ahosi.
Atha kho, bhikkhave, vepacitti asurindo sakkaṁ devānamindaṁ etadavoca:
‘hotu, devānaminda, subhāsitena jayo’ti.
‘Hotu, vepacitti, subhāsitena jayo’ti.
Atha kho, bhikkhave, devā ca asurā ca pārisajje ṭhapesuṁ:
‘ime no subhāsitadubbhāsitaṁ ājānissantī’ti.
Atha kho, bhikkhave, vepacitti asurindo sakkaṁ devānamindaṁ etadavoca:
‘bhaṇa, devānaminda, gāthan’ti.
Evaṁ vutte, bhikkhave, sakko devānamindo vepacittiṁ asurindaṁ etadavoca:
‘tumhe khvettha, vepacitti, pubbadevā.
Bhaṇa, vepacitti, gāthan’ti.
Evaṁ vutte, bhikkhave, vepacitti asurindo imaṁ gāthaṁ abhāsi:
‘Bhiyyo bālā pabhijjeyyuṁ,
no cassa paṭisedhako;
Tasmā bhusena daṇḍena,
dhīro bālaṁ nisedhaye’ti.
Bhāsitāya kho pana, bhikkhave, vepacittinā asurindena gāthāya asurā anumodiṁsu, devā tuṇhī ahesuṁ.
Atha kho, bhikkhave, vepacitti asurindo sakkaṁ devānamindaṁ etadavoca:
‘bhaṇa, devānaminda, gāthan’ti.
Evaṁ vutte, bhikkhave, sakko devānamindo imaṁ gāthaṁ abhāsi:
‘Etadeva ahaṁ maññe,
bālassa paṭisedhanaṁ;
Paraṁ saṅkupitaṁ ñatvā,
yo sato upasammatī’ti.
Bhāsitāya kho pana, bhikkhave, sakkena devānamindena gāthāya, devā anumodiṁsu, asurā tuṇhī ahesuṁ.
Atha kho, bhikkhave, sakko devānamindo vepacittiṁ asurindaṁ etadavoca:
‘bhaṇa, vepacitti, gāthan’ti.
Evaṁ vutte, bhikkhave, vepacitti asurindo imaṁ gāthaṁ abhāsi:
‘Etadeva titikkhāya,
vajjaṁ passāmi vāsava;
Yadā naṁ maññati bālo,
bhayā myāyaṁ titikkhati;
Ajjhāruhati dummedho,
gova bhiyyo palāyinan’ti.
Bhāsitāya kho pana, bhikkhave, vepacittinā asurindena gāthāya asurā anumodiṁsu, devā tuṇhī ahesuṁ.
Atha kho, bhikkhave, vepacitti asurindo sakkaṁ devānamindaṁ etadavoca:
‘bhaṇa, devānaminda, gāthan’ti.
Evaṁ vutte, bhikkhave, sakko devānamindo imā gāthāyo abhāsi:
‘Kāmaṁ maññatu vā mā vā,
bhayā myāyaṁ titikkhati;
Sadatthaparamā atthā,
khantyā bhiyyo na vijjati.
Yo have balavā santo,
dubbalassa titikkhati;
Tamāhu paramaṁ khantiṁ,
niccaṁ khamati dubbalo.
Abalaṁ taṁ balaṁ āhu,
yassa bālabalaṁ balaṁ;
Balassa dhammaguttassa,
paṭivattā na vijjati.
Tasseva tena pāpiyo,
yo kuddhaṁ paṭikujjhati;
Kuddhaṁ appaṭikujjhanto,
saṅgāmaṁ jeti dujjayaṁ.
Ubhinnamatthaṁ carati,
attano ca parassa ca;
Paraṁ saṅkupitaṁ ñatvā,
yo sato upasammati.
Ubhinnaṁ tikicchantānaṁ,
attano ca parassa ca;
Janā maññanti bāloti,
ye dhammassa akovidā’ti.
Bhāsitāsu kho pana, bhikkhave, sakkena devānamindena gāthāsu, devā anumodiṁsu, asurā tuṇhī ahesuṁ.
Atha kho, bhikkhave, devānañca asurānañca pārisajjā etadavocuṁ:
‘bhāsitā kho vepacittinā asurindena gāthāyo.
Tā ca kho sadaṇḍāvacarā sasatthāvacarā, iti bhaṇḍanaṁ iti viggaho iti kalaho.
Bhāsitā kho sakkena devānamindena gāthāyo.
Tā ca kho adaṇḍāvacarā asatthāvacarā, iti abhaṇḍanaṁ iti aviggaho iti akalaho.
Sakkassa devānamindassa subhāsitena jayo’ti.
Iti kho, bhikkhave, sakkassa devānamindassa subhāsitena jayo ahosī”ti.