Vi-n 1 … Tại Sāvatthi.
Vi-n 2 —Khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng; thật tà đắng cay, ác độc, là chướng ngại pháp cho sự chứng đắc vô thượng an ổn, khỏi các khổ ách.
Vi-n 3 Ở đây, này các Tỷ-kheo, với tâm của Ta, Ta biết được tâm của một người như sau:
“Dầu cho vì người cha đáng kính … ”.
“Dầu cho vì người anh … ”.
“Dầu cho vì người chị … ”.
“Dầu cho vì con trai … ”.
“Dầu cho vì con gái … ”.
“Dầu cho vì người vợ, cũng không cố ý nói láo”. Nhưng trong một thời gian khác, Ta thấy người ấy bị lợi đắc, cung kính, danh vọng chi phối, tâm bị xâm chiếm đã cố ý nói láo.
Vi-n 4 Như vậy, khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng; thật là đắng cay, ác độc, là chướng ngại pháp do sự chứng đắc vô thượng an ổn, khỏi các khổ ách.
Vi-n 5 Do vậy, này các Tỷ-kheo, cần phải học tập như sau: “Ðối với các lợi đắc, cung kính, danh vọng đã đến, chúng ta hãy từ bỏ chúng. Ðối với các lợi đắc, cung kính, danh vọng chưa đến, chúng ta không để chúng xâm chiếm tâm và an trú”.
Vi-n 6 Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập.
Sāvatthiyaṁ viharati.
“Dāruṇo, bhikkhave, lābhasakkārasiloko kaṭuko pharuso antarāyiko anuttarassa yogakkhemassa adhigamāya.
Idhāhaṁ, bhikkhave, ekaccaṁ puggalaṁ evaṁ cetasā ceto paricca pajānāmi:
‘na cāyamāyasmā pitupi hetu …pe…
(vitthāretabbaṁ) …
bhātupi hetu …
bhaginiyāpi hetu …
puttassapi hetu …
dhītuyāpi hetu …
pajāpatiyāpi hetu sampajānamusā bhāseyyā’ti.
Tamenaṁ passāmi aparena samayena lābhasakkārasilokena abhibhūtaṁ pariyādiṇṇacittaṁ sampajānamusā bhāsantaṁ.
Evaṁ dāruṇo kho, bhikkhave, lābhasakkārasiloko kaṭuko pharuso antarāyiko anuttarassa yogakkhemassa adhigamāya.
Tasmātiha, bhikkhave, evaṁ sikkhitabbaṁ:
‘uppannaṁ lābhasakkārasilokaṁ pajahissāma, na ca no uppanno lābhasakkārasiloko cittaṁ pariyādāya ṭhassatī’ti.
Evañhi vo, bhikkhave, sikkhitabban”ti.
Terasamaṁ.
Catuttho vaggo.
Tassuddānaṁ
Bhindi mūlaṁ duve dhammā,
pakkantaṁ ratha mātari;
Pitā bhātā ca bhaginī,
putto dhītā pajāpatīti.
Lābhasakkārasaṁyuttaṁ samattaṁ.
At Sāvatthī.
“Possessions, honor, and popularity are grim, bitter, and harsh. They’re an obstacle to reaching the supreme sanctuary from the yoke.
When I’ve comprehended the mind of a certain individual, I understand:
‘This venerable would not tell a deliberate lie even for the sake of their father.’ …”
(Tell in full as in SN 17.37.)
“‘… brother.’ …”
“‘… sister.’ …”
“‘… son.’ …”
“‘… daughter.’ …”
“‘… wife.’
But some time later I see them tell a deliberate lie because their mind is overcome and overwhelmed by possessions, honor, and popularity.
So grim are possessions, honor, and popularity—bitter and harsh, an obstacle to reaching the supreme sanctuary from the yoke.
So you should train like this:
‘We will give up arisen possessions, honor, and popularity, and we won’t let them occupy our minds.’
That’s how you should train.”
The Linked Discourses on possessions, honor, and popularity are complete.
Vi-n 1 … Tại Sāvatthi.
Vi-n 2 —Khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng; thật tà đắng cay, ác độc, là chướng ngại pháp cho sự chứng đắc vô thượng an ổn, khỏi các khổ ách.
Vi-n 3 Ở đây, này các Tỷ-kheo, với tâm của Ta, Ta biết được tâm của một người như sau:
“Dầu cho vì người cha đáng kính … ”.
“Dầu cho vì người anh … ”.
“Dầu cho vì người chị … ”.
“Dầu cho vì con trai … ”.
“Dầu cho vì con gái … ”.
“Dầu cho vì người vợ, cũng không cố ý nói láo”. Nhưng trong một thời gian khác, Ta thấy người ấy bị lợi đắc, cung kính, danh vọng chi phối, tâm bị xâm chiếm đã cố ý nói láo.
Vi-n 4 Như vậy, khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng; thật là đắng cay, ác độc, là chướng ngại pháp do sự chứng đắc vô thượng an ổn, khỏi các khổ ách.
Vi-n 5 Do vậy, này các Tỷ-kheo, cần phải học tập như sau: “Ðối với các lợi đắc, cung kính, danh vọng đã đến, chúng ta hãy từ bỏ chúng. Ðối với các lợi đắc, cung kính, danh vọng chưa đến, chúng ta không để chúng xâm chiếm tâm và an trú”.
Vi-n 6 Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập.
Sāvatthiyaṁ viharati.
“Dāruṇo, bhikkhave, lābhasakkārasiloko kaṭuko pharuso antarāyiko anuttarassa yogakkhemassa adhigamāya.
Idhāhaṁ, bhikkhave, ekaccaṁ puggalaṁ evaṁ cetasā ceto paricca pajānāmi:
‘na cāyamāyasmā pitupi hetu …pe…
(vitthāretabbaṁ) …
bhātupi hetu …
bhaginiyāpi hetu …
puttassapi hetu …
dhītuyāpi hetu …
pajāpatiyāpi hetu sampajānamusā bhāseyyā’ti.
Tamenaṁ passāmi aparena samayena lābhasakkārasilokena abhibhūtaṁ pariyādiṇṇacittaṁ sampajānamusā bhāsantaṁ.
Evaṁ dāruṇo kho, bhikkhave, lābhasakkārasiloko kaṭuko pharuso antarāyiko anuttarassa yogakkhemassa adhigamāya.
Tasmātiha, bhikkhave, evaṁ sikkhitabbaṁ:
‘uppannaṁ lābhasakkārasilokaṁ pajahissāma, na ca no uppanno lābhasakkārasiloko cittaṁ pariyādāya ṭhassatī’ti.
Evañhi vo, bhikkhave, sikkhitabban”ti.
Terasamaṁ.
Catuttho vaggo.
Tassuddānaṁ
Bhindi mūlaṁ duve dhammā,
pakkantaṁ ratha mātari;
Pitā bhātā ca bhaginī,
putto dhītā pajāpatīti.
Lābhasakkārasaṁyuttaṁ samattaṁ.