Vi-n 1 Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn trú ở Rājagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm) chỗ nuôi dưỡng các con sóc.
Vi-n 2 Lúc bấy giờ Tôn giả Lakkhaṇa và Tôn giả Mahà Moggallāna trú ở núi Gijjhakùta (Linh Thứu).
Vi-n 3 Rồi Tôn giả Mahà Moggallāna đắp y, vào buổi sáng, cầm y bát, đi đến Tôn giả Lakkhaṇa.
Vi-n 4 Sau khi đến, nói với Tôn giả Lakkhaṇa:
—Chúng ta hãy cùng đi, này Hiền giả Lakkhaṇa. Chúng ta hãy đi vào Rājagaha để khất thực.
—Thưa vâng, Hiền giả.
Tôn giả Lakkhaṇa vâng đáp Tôn giả Mahà Moggallāna.
Vi-n 5 Rồi Tôn giả Mahà Moggallāna khi đi từ núi Gijjhakùta bước xuống, đi qua một chỗ, liền mỉm cười.
Vi-n 6 Rồi Tôn giả Lakkhaṇa nói với Tôn giả Mahà Moggallāna:
—Này Hiền giả Moggallāna, do nhân gì, do duyên gì, Hiền giả lại mỉm cười?
—Này Hiền giả Lakkhaṇa, không phải thời là câu hỏi ấy. Trước mặt Thế Tôn, hãy hỏi tôi câu hỏi ấy.
Vi-n 7 Rồi Tôn giả Lakkhaṇa và Tôn giả Mahà Moggallāna sau khi đi khất thực ở Rājagaha xong, sau bữa ăn, trên con đường đi khất thực trở về, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 8 Ngồi xuống một bên, Tôn giả Lakkhaṇa nói với Tôn giả Mahà Moggallāna:
—Ở đây, Tôn giả Mahàa Moggallāna khi từ núi Gijjhakùta bước xuống, đi ngang qua một chỗ, liền mỉm cười. Này Hiền giả Moggallāna, do nhân gì, do duyên gì, Hiền giả lại mỉm cười?
Vi-n 9 —Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một bộ xương đang đi trên trời. Các con kên kên, các con quạ, các con chim ưng đuổi theo nó, cắn mổ xương sườn nó, cắn xé nó, và nó kêu lên những tiếng kêu đau đớn.
Vi-n 10 —Này Hiền giả, tôi suy nghĩ như sau: “Thật vi diệu thay! Thật vi diệu thay! Một kẻ có tên như vậy lại trở thành một chúng sanh như vậy. Một kẻ có tên như vậy lại trở thành một Dạ-xoa như vậy! Một kẻ có tên như vậy lại trở thành được một tự ngã như vậy!”
Vi-n 11 Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
—Sống với nhau như thực nhãn, này các Tỷ-kheo, là các đệ tử! Sống với nhau như thực trí, này các Tỷ-kheo, là các đệ tử. Vì rằng, một đệ tử sẽ biết, hay sẽ thấy, hay sẽ chứng thực như vậy.
Vi-n 12 Xưa kia, này các Tỷ-kheo, Ta đã thấy chúng sanh ấy nhưng Ta không có nói. Nếu Ta có nói, các người khác cũng không tin Ta. Và những ai không tin Ta, những người ấy sẽ bị bất hạnh, đau khổ lâu dài.
Vi-n 13 Chúng sanh ấy, này các Tỷ-kheo, là một đồ tể giết trâu bò (goghatako) ở Rājagaha này. Do nghiệp của người đó thuần thục, sau khi bị nung nấu trong địa ngục nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm, nhiều trăm ngàn năm và với quả thuần thục còn lại, người đó cảm thọ một tự ngã như vậy.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā rājagahe viharati veḷuvane kalandakanivāpe.
Tena kho pana samayena āyasmā ca lakkhaṇo āyasmā ca mahāmoggallāno gijjhakūṭe pabbate viharanti.
Atha kho āyasmā mahāmoggallāno pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya yenāyasmā lakkhaṇo tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ lakkhaṇaṁ etadavoca:
“āyāmāvuso lakkhaṇa, rājagahaṁ piṇḍāya pavisissāmā”ti.
“Evamāvuso”ti kho āyasmā lakkhaṇo āyasmato mahāmoggallānassa paccassosi.
Atha kho āyasmā mahāmoggallāno gijjhakūṭā pabbatā orohanto aññatarasmiṁ padese sitaṁ pātvākāsi.
Atha kho āyasmā lakkhaṇo āyasmantaṁ mahāmoggallānaṁ etadavoca:
“ko nu kho, āvuso moggallāna, hetu ko paccayo sitassa pātukammāyā”ti?
“Akālo kho, āvuso lakkhaṇa, etassa pañhassa.
Bhagavato maṁ santike etaṁ pañhaṁ pucchā”ti.
Atha kho āyasmā ca lakkhaṇo āyasmā ca mahāmoggallāno rājagahe piṇḍāya caritvā pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkantā yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā lakkhaṇo āyasmantaṁ mahāmoggallānaṁ etadavoca:
“idhāyasmā mahāmoggallāno gijjhakūṭā pabbatā orohanto aññatarasmiṁ padese sitaṁ pātvākāsi.
Ko nu kho, āvuso moggallāna, hetu ko paccayo sitassa pātukammāyā”ti?
“Idhāhaṁ, āvuso, gijjhakūṭā pabbatā orohanto addasaṁ aṭṭhikasaṅkhalikaṁ vehāsaṁ gacchantiṁ.
Tamenaṁ gijjhāpi kākāpi kulalāpi anupatitvā anupatitvā phāsuḷantarikāhi vitudenti vitacchenti virājenti.
Sā sudaṁ aṭṭassaraṁ karoti.
Tassa mayhaṁ, āvuso, etadahosi:
‘acchariyaṁ vata bho, abbhutaṁ vata bho.
Evarūpopi nāma satto bhavissati.
Evarūpopi nāma yakkho bhavissati.
Evarūpopi nāma attabhāvapaṭilābho bhavissatī’”ti.
Atha kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“cakkhubhūtā vata, bhikkhave, sāvakā viharanti;
ñāṇabhūtā vata, bhikkhave, sāvakā viharanti, yatra hi nāma sāvako evarūpaṁ ñassati vā dakkhati vā sakkhiṁ vā karissati.
Pubbeva me so, bhikkhave, satto diṭṭho ahosi, api cāhaṁ na byākāsiṁ.
Ahañcetaṁ byākareyyaṁ, pare ca me na saddaheyyuṁ.
Ye me na saddaheyyuṁ, tesaṁ taṁ assa dīgharattaṁ ahitāya dukkhāya.
Eso, bhikkhave, satto imasmiṁyeva rājagahe goghātako ahosi.
So tassa kammassa vipākena bahūni vassāni bahūni vassasatāni bahūni vassasahassāni bahūni vassasatasahassāni niraye paccitvā tasseva kammassa vipākāvasesena evarūpaṁ attabhāvapaṭilābhaṁ paṭisaṁvedayatī”ti.
(Sabbesaṁ suttantānaṁ eseva peyyālo.)
Paṭhamaṁ.
So I have heard.
At one time the Buddha was staying near Rājagaha, in the Bamboo Grove, the squirrels’ feeding ground.
Now at that time Venerable Mark and Venerable Mahāmoggallāna were staying on the Vulture’s Peak Mountain.
Then Mahāmoggallāna robed up in the morning and, taking his bowl and robe, went to Mark and said to him,
“Come, Reverend Mark, let’s enter Rājagaha for alms.”
“Yes, reverend,” Mark replied.
As Mahāmoggallāna was descending from Vulture’s Peak Mountain he smiled at a certain spot.
So Lakkhaṇa said to Mahāmoggallāna,
“What is the cause, Reverend Moggallāna, what is the reason you smiled?”
“Reverend Mark, it’s the wrong time for this question.
Ask me when we’re in the Buddha’s presence.”
Then Mark and Mahāmoggallāna wandered for alms in Rājagaha. After the meal, on their return from almsround, they went to the Buddha, bowed, and sat down to one side. Mark said to Mahāmoggallāna:
“Just now, as Mahāmoggallāna was descending from Vulture’s Peak Mountain he smiled at a certain spot.
What is the cause, Reverend Moggallāna, what is the reason you smiled?”
“Just now, reverend, as I was descending from Vulture’s Peak Mountain I saw a skeleton flying through the air.
Vultures, crows, and hawks kept chasing it, pecking, clawing, and stabbing it in the ribs
as it screeched in pain.
It occurred to me:
‘Oh lord, how incredible, how amazing!
That there can be such a sentient being,
such a spirit,
such an incarnation!’”
Then the Buddha said to the mendicants:
“Mendicants, there are disciples who live full of vision and knowledge,
since a disciple knows, sees, and witnesses such a thing.
Formerly, I too saw that being, but I did not speak of it.
For if I had spoken of it others would not have believed me,
which would be for their lasting harm and suffering.
That being used to be a cattle butcher right here in Rājagaha.
As a result of that deed he burned in hell for many years, many hundreds, many thousands, many hundreds of thousands of years. Now he experiences the residual result of that deed in such an incarnation.”
(Tell all these discourses in full like this.)
Vi-n 1 Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn trú ở Rājagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm) chỗ nuôi dưỡng các con sóc.
Vi-n 2 Lúc bấy giờ Tôn giả Lakkhaṇa và Tôn giả Mahà Moggallāna trú ở núi Gijjhakùta (Linh Thứu).
Vi-n 3 Rồi Tôn giả Mahà Moggallāna đắp y, vào buổi sáng, cầm y bát, đi đến Tôn giả Lakkhaṇa.
Vi-n 4 Sau khi đến, nói với Tôn giả Lakkhaṇa:
—Chúng ta hãy cùng đi, này Hiền giả Lakkhaṇa. Chúng ta hãy đi vào Rājagaha để khất thực.
—Thưa vâng, Hiền giả.
Tôn giả Lakkhaṇa vâng đáp Tôn giả Mahà Moggallāna.
Vi-n 5 Rồi Tôn giả Mahà Moggallāna khi đi từ núi Gijjhakùta bước xuống, đi qua một chỗ, liền mỉm cười.
Vi-n 6 Rồi Tôn giả Lakkhaṇa nói với Tôn giả Mahà Moggallāna:
—Này Hiền giả Moggallāna, do nhân gì, do duyên gì, Hiền giả lại mỉm cười?
—Này Hiền giả Lakkhaṇa, không phải thời là câu hỏi ấy. Trước mặt Thế Tôn, hãy hỏi tôi câu hỏi ấy.
Vi-n 7 Rồi Tôn giả Lakkhaṇa và Tôn giả Mahà Moggallāna sau khi đi khất thực ở Rājagaha xong, sau bữa ăn, trên con đường đi khất thực trở về, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 8 Ngồi xuống một bên, Tôn giả Lakkhaṇa nói với Tôn giả Mahà Moggallāna:
—Ở đây, Tôn giả Mahàa Moggallāna khi từ núi Gijjhakùta bước xuống, đi ngang qua một chỗ, liền mỉm cười. Này Hiền giả Moggallāna, do nhân gì, do duyên gì, Hiền giả lại mỉm cười?
Vi-n 9 —Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một bộ xương đang đi trên trời. Các con kên kên, các con quạ, các con chim ưng đuổi theo nó, cắn mổ xương sườn nó, cắn xé nó, và nó kêu lên những tiếng kêu đau đớn.
Vi-n 10 —Này Hiền giả, tôi suy nghĩ như sau: “Thật vi diệu thay! Thật vi diệu thay! Một kẻ có tên như vậy lại trở thành một chúng sanh như vậy. Một kẻ có tên như vậy lại trở thành một Dạ-xoa như vậy! Một kẻ có tên như vậy lại trở thành được một tự ngã như vậy!”
Vi-n 11 Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
—Sống với nhau như thực nhãn, này các Tỷ-kheo, là các đệ tử! Sống với nhau như thực trí, này các Tỷ-kheo, là các đệ tử. Vì rằng, một đệ tử sẽ biết, hay sẽ thấy, hay sẽ chứng thực như vậy.
Vi-n 12 Xưa kia, này các Tỷ-kheo, Ta đã thấy chúng sanh ấy nhưng Ta không có nói. Nếu Ta có nói, các người khác cũng không tin Ta. Và những ai không tin Ta, những người ấy sẽ bị bất hạnh, đau khổ lâu dài.
Vi-n 13 Chúng sanh ấy, này các Tỷ-kheo, là một đồ tể giết trâu bò (goghatako) ở Rājagaha này. Do nghiệp của người đó thuần thục, sau khi bị nung nấu trong địa ngục nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm, nhiều trăm ngàn năm và với quả thuần thục còn lại, người đó cảm thọ một tự ngã như vậy.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā rājagahe viharati veḷuvane kalandakanivāpe.
Tena kho pana samayena āyasmā ca lakkhaṇo āyasmā ca mahāmoggallāno gijjhakūṭe pabbate viharanti.
Atha kho āyasmā mahāmoggallāno pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya yenāyasmā lakkhaṇo tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ lakkhaṇaṁ etadavoca:
“āyāmāvuso lakkhaṇa, rājagahaṁ piṇḍāya pavisissāmā”ti.
“Evamāvuso”ti kho āyasmā lakkhaṇo āyasmato mahāmoggallānassa paccassosi.
Atha kho āyasmā mahāmoggallāno gijjhakūṭā pabbatā orohanto aññatarasmiṁ padese sitaṁ pātvākāsi.
Atha kho āyasmā lakkhaṇo āyasmantaṁ mahāmoggallānaṁ etadavoca:
“ko nu kho, āvuso moggallāna, hetu ko paccayo sitassa pātukammāyā”ti?
“Akālo kho, āvuso lakkhaṇa, etassa pañhassa.
Bhagavato maṁ santike etaṁ pañhaṁ pucchā”ti.
Atha kho āyasmā ca lakkhaṇo āyasmā ca mahāmoggallāno rājagahe piṇḍāya caritvā pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkantā yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā lakkhaṇo āyasmantaṁ mahāmoggallānaṁ etadavoca:
“idhāyasmā mahāmoggallāno gijjhakūṭā pabbatā orohanto aññatarasmiṁ padese sitaṁ pātvākāsi.
Ko nu kho, āvuso moggallāna, hetu ko paccayo sitassa pātukammāyā”ti?
“Idhāhaṁ, āvuso, gijjhakūṭā pabbatā orohanto addasaṁ aṭṭhikasaṅkhalikaṁ vehāsaṁ gacchantiṁ.
Tamenaṁ gijjhāpi kākāpi kulalāpi anupatitvā anupatitvā phāsuḷantarikāhi vitudenti vitacchenti virājenti.
Sā sudaṁ aṭṭassaraṁ karoti.
Tassa mayhaṁ, āvuso, etadahosi:
‘acchariyaṁ vata bho, abbhutaṁ vata bho.
Evarūpopi nāma satto bhavissati.
Evarūpopi nāma yakkho bhavissati.
Evarūpopi nāma attabhāvapaṭilābho bhavissatī’”ti.
Atha kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“cakkhubhūtā vata, bhikkhave, sāvakā viharanti;
ñāṇabhūtā vata, bhikkhave, sāvakā viharanti, yatra hi nāma sāvako evarūpaṁ ñassati vā dakkhati vā sakkhiṁ vā karissati.
Pubbeva me so, bhikkhave, satto diṭṭho ahosi, api cāhaṁ na byākāsiṁ.
Ahañcetaṁ byākareyyaṁ, pare ca me na saddaheyyuṁ.
Ye me na saddaheyyuṁ, tesaṁ taṁ assa dīgharattaṁ ahitāya dukkhāya.
Eso, bhikkhave, satto imasmiṁyeva rājagahe goghātako ahosi.
So tassa kammassa vipākena bahūni vassāni bahūni vassasatāni bahūni vassasahassāni bahūni vassasatasahassāni niraye paccitvā tasseva kammassa vipākāvasesena evarūpaṁ attabhāvapaṭilābhaṁ paṭisaṁvedayatī”ti.
(Sabbesaṁ suttantānaṁ eseva peyyālo.)
Paṭhamaṁ.