Vi-n 1 Một thời Thế Tôn ở Sāvatthi, Jetavana, tại vườn ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Ðộc) cùng đại chúng Tỷ-kheo 1.250 vị.
Vi-n 2 Lúc bấy giờ Thế Tôn với bài pháp thoại liên hệ đến Niết-bàn, thuyết giảng cho các Tỷ-kheo, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ. Và những Tỷ-kheo ấy chú tâm, chú ý, tập trung tất cả tâm tư, lắng tai nghe pháp.
Vi-n 3 Rồi Tôn giả Vangìsa suy nghĩ: “Nay Thế Tôn với bài pháp thoại liên hệ đến Niết-bàn, đang thuyết giảng cho các Tỷ-kheo, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ. Và những Tỷ-kheo ấy chú tâm, chú ý, tập trung tất cả tâm tư, lắng tai nghe pháp. Vậy trước mặt Thế Tôn, ta hãy nói lên những bài kệ tán thán thích ứng.”
Vi-n 4 Rồi Tôn giả Vangìsa, từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y vào một bên vai, chắp tay hướng về Thế Tôn và bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, một vấn đề đến với con. Bạch Thiện Thệ, một vấn đề đến với con.
Vi-n 5 Thế Tôn đáp:
—Này Vangìsa, hãy nói lên vấn đề ấy!
Vi-n 6 Rồi Tôn giả Vangìsa, trước mặt Thế Tôn, nói lên những bài kệ tán thán thích ứng:
Hơn một ngàn Tỷ-kheo,
Hầu hạ bậc Thiện Thệ,
Ngài thuyết pháp vô cấu,
Niết-bàn, không sợ hãi.
Họ nghe pháp vô cấu,
Bậc Chánh Giác thuyết giảng.
Thượng thủ chúng Tỷ-kheo,
Bậc Chánh Giác chói sáng.
Bạch Thế Tôn, Thiện Thệ,
Ngài thật bậc Long Tượng,
Bậc Ẩn Sĩ thứ bảy,
Trong các vị Ẩn Sĩ.
Ngài trở thành mây lớn,
Mưa móc ban đệ tử.
Con từ nghỉ trưa đến,
Muốn yết kiến Ðạo Sư.
Ôi bậc Ðại Anh hùng!
Con là đệ tử Ngài,
Con tên Vangìsa,
Ðảnh lễ dưới chân Ngài.
Vi-n 7 —Này Vangìsa, những bài kệ này của Ông, có phải Ông suy nghĩ từ trước hay được khởi lên tại chỗ?
Vi-n 8 —Bạch Thế Tôn, những bài kệ này của con không phải suy nghĩ từ trước, chính được khởi lên tại chỗ.
Vi-n 9 —Vậy này Vangìsa, hãy cho nhiều bài kệ nữa, không suy nghĩ từ trước, được khởi lên tại chỗ.
Vi-n 10 —Thưa vâng bạch Thế Tôn.
Tôn giả Vangìsa vâng đáp Thế Tôn và nói lên những bài kệ tán thán Thế Tôn; những bài kệ chưa được suy nghĩ từ trước:
Thắng ác ma, tà đạo,
Ngài sống chướng ngại đoạn.
Hãy thấy bậc Giải Thoát,
Thoát ly mọi hệ phược,
Phân tích thành từng phần,
Hắc, bạch pháp phân minh.
Ngài nói lên con đường,
Nhiều pháp môn khác biệt,
Mục đích giúp mọi người,
Vượt qua dòng bộc lưu,
Chính trên pháp bất tử,
Ðược Ngài thường tuyên thuyết.
Chúng con bậc pháp kiến,
Vững trú không thối chuyển,
Bậc tạo dựng quang minh,
Ngài thâm nhập các pháp,
Thấy được chỗ vượt qua,
Tất cả mọi kiến xứ.
Sau khi biết và chứng,
Ngài thuyết tối thượng xứ,
Pháp như vậy khéo giảng.
Ai có thể phóng dật,
Khi được biết pháp ấy,
Pháp khéo giảng như vậy?
Do vậy trong giáo pháp,
Ðức Thế Tôn, Thiện Thệ.
Luôn luôn không phóng dật,
Hãy đảnh lễ, tu học.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ aḍḍhatelasehi bhikkhusatehi.
Tena kho pana samayena bhagavā bhikkhū nibbānapaṭisaṁyuttāya dhammiyā kathāya sandasseti samādapeti samuttejeti sampahaṁseti.
Te ca bhikkhū aṭṭhiṁ katvā manasi katvā sabbacetasā samannāharitvā ohitasotā dhammaṁ suṇanti.
Atha kho āyasmato vaṅgīsassa etadahosi:
“ayaṁ kho bhagavā bhikkhū nibbānapaṭisaṁyuttāya dhammiyā kathāya sandasseti samādapeti samuttejeti sampahaṁseti.
Te ca bhikkhū aṭṭhiṁ katvā manasi katvā sabbacetasā samannāharitvā ohitasotā dhammaṁ suṇanti.
Yannūnāhaṁ bhagavantaṁ sammukhā sāruppāhi gāthāhi abhitthaveyyan”ti.
Atha kho āyasmā vaṅgīso uṭṭhāyāsanā ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ karitvā yena bhagavā tenañjaliṁ paṇāmetvā bhagavantaṁ etadavoca:
“paṭibhāti maṁ, bhagavā, paṭibhāti maṁ, sugatā”ti.
“Paṭibhātu taṁ, vaṅgīsā”ti bhagavā avoca.
Atha kho āyasmā vaṅgīso bhagavantaṁ sammukhā sāruppāhi gāthāhi abhitthavi:
“Parosahassaṁ bhikkhūnaṁ,
sugataṁ payirupāsati;
Desentaṁ virajaṁ dhammaṁ,
nibbānaṁ akutobhayaṁ.
Suṇanti dhammaṁ vimalaṁ,
sammāsambuddhadesitaṁ;
Sobhati vata sambuddho,
bhikkhusaṅghapurakkhato.
Nāganāmosi bhagavā,
isīnaṁ isisattamo;
Mahāmeghova hutvāna,
sāvake abhivassati.
Divāvihārā nikkhamma,
satthudassanakamyatā;
Sāvako te mahāvīra,
pāde vandati vaṅgiso”ti.
“Kiṁ nu te, vaṅgīsa, imā gāthāyo pubbe parivitakkitā, udāhu ṭhānasova taṁ paṭibhantī”ti?
“Na kho me, bhante, imā gāthāyo pubbe parivitakkitā, atha kho ṭhānasova maṁ paṭibhantī”ti.
“Tena hi taṁ, vaṅgīsa, bhiyyoso mattāya pubbe aparivitakkitā gāthāyo paṭibhantū”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā vaṅgīso bhagavato paṭissutvā bhiyyoso mattāya bhagavantaṁ pubbe aparivitakkitāhi gāthāhi abhitthavi:
“Ummaggapathaṁ mārassa abhibhuyya,
Carasi pabhijja khilāni;
Taṁ passatha bandhapamuñcakaraṁ,
Asitaṁ bhāgaso pavibhajaṁ.
Oghassa nittharaṇatthaṁ,
Anekavihitaṁ maggaṁ akkhāsi;
Tasmiñce amate akkhāte,
Dhammaddasā ṭhitā asaṁhīrā.
Pajjotakaro ativijjha,
Sabbaṭṭhitīnaṁ atikkamamaddasa;
Ñatvā ca sacchikatvā ca,
Aggaṁ so desayi dasaddhānaṁ.
Evaṁ sudesite dhamme,
Ko pamādo vijānataṁ dhammaṁ;
Tasmā hi tassa bhagavato sāsane,
Appamatto sadā namassamanusikkhe”ti.
At one time the Buddha was staying near Sāvatthī in Jeta’s Grove, Anāthapiṇḍika’s monastery, together with a large Saṅgha of 1,250 mendicants.
Now at that time the Buddha was educating, encouraging, firing up, and inspiring the mendicants with a Dhamma talk about extinguishment.
And those mendicants were paying attention, applying the mind, concentrating wholeheartedly, and actively listening.
Then Venerable Vaṅgīsa thought,
“The Buddha is educating, encouraging, firing up, and inspiring the mendicants with a Dhamma talk about extinguishment.
And those mendicants are paying attention, applying the mind, concentrating wholeheartedly, and actively listening.
Why don’t I extoll him in his presence with fitting verses?”
Then Venerable Vaṅgīsa got up from his seat, arranged his robe over one shoulder, raised his joined palms toward the Buddha, and said,
“I feel inspired to speak, Blessed One! I feel inspired to speak, Holy One!”
“Then speak as you feel inspired,” said the Buddha.
Then Vaṅgīsa extolled the Buddha in his presence with fitting verses:
“Over a thousand mendicants
revere the Holy One
as he teaches the immaculate Dhamma,
extinguishment, fearing nothing from any quarter.
They listen to the immaculate Dhamma
taught by the fully awakened Buddha;
the Buddha is so brilliant,
at the fore of the mendicant Saṅgha,
Blessed One, your name is ‘Giant’,
seventh of the seers.
You are like a great cloud
that rains on your disciples.
I’ve left my day’s meditation,
out of desire to see the teacher.
Great hero, your disciple Vaṅgīsa
bows at your feet.”
“Vaṅgīsa, had you previously composed these verses, or did they spring to mind in the moment?”
“They sprang to mind in the moment, sir.”
“Well then, Vaṅgīsa, speak some more spontaneously inspired verses.”
“Yes, sir,” replied Vaṅgīsa. Then he extolled the Buddha with some more spontaneously inspired verses, not previously composed:
“Having overcome Māra’s wrong path,
you wander with hard-heartedness dissolved.
See him, the liberator from bonds,
dissecting the unattached section by section.
You have explained in many ways
the path to cross the flood.
The Seers of Truth stand unfaltering
in the freedom from death explained by you.
As the bringer of light who has pierced the truth,
you’ve seen what lies beyond all planes.
When you saw and realized this for yourself,
you taught it first to the group of five.
When the Dhamma has been so well taught,
how could those who know it be negligent?
That’s why, being diligent, we should always train
respectfully in the Buddha’s teaching.”
Vi-n 1 Một thời Thế Tôn ở Sāvatthi, Jetavana, tại vườn ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Ðộc) cùng đại chúng Tỷ-kheo 1.250 vị.
Vi-n 2 Lúc bấy giờ Thế Tôn với bài pháp thoại liên hệ đến Niết-bàn, thuyết giảng cho các Tỷ-kheo, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ. Và những Tỷ-kheo ấy chú tâm, chú ý, tập trung tất cả tâm tư, lắng tai nghe pháp.
Vi-n 3 Rồi Tôn giả Vangìsa suy nghĩ: “Nay Thế Tôn với bài pháp thoại liên hệ đến Niết-bàn, đang thuyết giảng cho các Tỷ-kheo, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ. Và những Tỷ-kheo ấy chú tâm, chú ý, tập trung tất cả tâm tư, lắng tai nghe pháp. Vậy trước mặt Thế Tôn, ta hãy nói lên những bài kệ tán thán thích ứng.”
Vi-n 4 Rồi Tôn giả Vangìsa, từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y vào một bên vai, chắp tay hướng về Thế Tôn và bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, một vấn đề đến với con. Bạch Thiện Thệ, một vấn đề đến với con.
Vi-n 5 Thế Tôn đáp:
—Này Vangìsa, hãy nói lên vấn đề ấy!
Vi-n 6 Rồi Tôn giả Vangìsa, trước mặt Thế Tôn, nói lên những bài kệ tán thán thích ứng:
Hơn một ngàn Tỷ-kheo,
Hầu hạ bậc Thiện Thệ,
Ngài thuyết pháp vô cấu,
Niết-bàn, không sợ hãi.
Họ nghe pháp vô cấu,
Bậc Chánh Giác thuyết giảng.
Thượng thủ chúng Tỷ-kheo,
Bậc Chánh Giác chói sáng.
Bạch Thế Tôn, Thiện Thệ,
Ngài thật bậc Long Tượng,
Bậc Ẩn Sĩ thứ bảy,
Trong các vị Ẩn Sĩ.
Ngài trở thành mây lớn,
Mưa móc ban đệ tử.
Con từ nghỉ trưa đến,
Muốn yết kiến Ðạo Sư.
Ôi bậc Ðại Anh hùng!
Con là đệ tử Ngài,
Con tên Vangìsa,
Ðảnh lễ dưới chân Ngài.
Vi-n 7 —Này Vangìsa, những bài kệ này của Ông, có phải Ông suy nghĩ từ trước hay được khởi lên tại chỗ?
Vi-n 8 —Bạch Thế Tôn, những bài kệ này của con không phải suy nghĩ từ trước, chính được khởi lên tại chỗ.
Vi-n 9 —Vậy này Vangìsa, hãy cho nhiều bài kệ nữa, không suy nghĩ từ trước, được khởi lên tại chỗ.
Vi-n 10 —Thưa vâng bạch Thế Tôn.
Tôn giả Vangìsa vâng đáp Thế Tôn và nói lên những bài kệ tán thán Thế Tôn; những bài kệ chưa được suy nghĩ từ trước:
Thắng ác ma, tà đạo,
Ngài sống chướng ngại đoạn.
Hãy thấy bậc Giải Thoát,
Thoát ly mọi hệ phược,
Phân tích thành từng phần,
Hắc, bạch pháp phân minh.
Ngài nói lên con đường,
Nhiều pháp môn khác biệt,
Mục đích giúp mọi người,
Vượt qua dòng bộc lưu,
Chính trên pháp bất tử,
Ðược Ngài thường tuyên thuyết.
Chúng con bậc pháp kiến,
Vững trú không thối chuyển,
Bậc tạo dựng quang minh,
Ngài thâm nhập các pháp,
Thấy được chỗ vượt qua,
Tất cả mọi kiến xứ.
Sau khi biết và chứng,
Ngài thuyết tối thượng xứ,
Pháp như vậy khéo giảng.
Ai có thể phóng dật,
Khi được biết pháp ấy,
Pháp khéo giảng như vậy?
Do vậy trong giáo pháp,
Ðức Thế Tôn, Thiện Thệ.
Luôn luôn không phóng dật,
Hãy đảnh lễ, tu học.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ aḍḍhatelasehi bhikkhusatehi.
Tena kho pana samayena bhagavā bhikkhū nibbānapaṭisaṁyuttāya dhammiyā kathāya sandasseti samādapeti samuttejeti sampahaṁseti.
Te ca bhikkhū aṭṭhiṁ katvā manasi katvā sabbacetasā samannāharitvā ohitasotā dhammaṁ suṇanti.
Atha kho āyasmato vaṅgīsassa etadahosi:
“ayaṁ kho bhagavā bhikkhū nibbānapaṭisaṁyuttāya dhammiyā kathāya sandasseti samādapeti samuttejeti sampahaṁseti.
Te ca bhikkhū aṭṭhiṁ katvā manasi katvā sabbacetasā samannāharitvā ohitasotā dhammaṁ suṇanti.
Yannūnāhaṁ bhagavantaṁ sammukhā sāruppāhi gāthāhi abhitthaveyyan”ti.
Atha kho āyasmā vaṅgīso uṭṭhāyāsanā ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ karitvā yena bhagavā tenañjaliṁ paṇāmetvā bhagavantaṁ etadavoca:
“paṭibhāti maṁ, bhagavā, paṭibhāti maṁ, sugatā”ti.
“Paṭibhātu taṁ, vaṅgīsā”ti bhagavā avoca.
Atha kho āyasmā vaṅgīso bhagavantaṁ sammukhā sāruppāhi gāthāhi abhitthavi:
“Parosahassaṁ bhikkhūnaṁ,
sugataṁ payirupāsati;
Desentaṁ virajaṁ dhammaṁ,
nibbānaṁ akutobhayaṁ.
Suṇanti dhammaṁ vimalaṁ,
sammāsambuddhadesitaṁ;
Sobhati vata sambuddho,
bhikkhusaṅghapurakkhato.
Nāganāmosi bhagavā,
isīnaṁ isisattamo;
Mahāmeghova hutvāna,
sāvake abhivassati.
Divāvihārā nikkhamma,
satthudassanakamyatā;
Sāvako te mahāvīra,
pāde vandati vaṅgiso”ti.
“Kiṁ nu te, vaṅgīsa, imā gāthāyo pubbe parivitakkitā, udāhu ṭhānasova taṁ paṭibhantī”ti?
“Na kho me, bhante, imā gāthāyo pubbe parivitakkitā, atha kho ṭhānasova maṁ paṭibhantī”ti.
“Tena hi taṁ, vaṅgīsa, bhiyyoso mattāya pubbe aparivitakkitā gāthāyo paṭibhantū”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā vaṅgīso bhagavato paṭissutvā bhiyyoso mattāya bhagavantaṁ pubbe aparivitakkitāhi gāthāhi abhitthavi:
“Ummaggapathaṁ mārassa abhibhuyya,
Carasi pabhijja khilāni;
Taṁ passatha bandhapamuñcakaraṁ,
Asitaṁ bhāgaso pavibhajaṁ.
Oghassa nittharaṇatthaṁ,
Anekavihitaṁ maggaṁ akkhāsi;
Tasmiñce amate akkhāte,
Dhammaddasā ṭhitā asaṁhīrā.
Pajjotakaro ativijjha,
Sabbaṭṭhitīnaṁ atikkamamaddasa;
Ñatvā ca sacchikatvā ca,
Aggaṁ so desayi dasaddhānaṁ.
Evaṁ sudesite dhamme,
Ko pamādo vijānataṁ dhammaṁ;
Tasmā hi tassa bhagavato sāsane,
Appamatto sadā namassamanusikkhe”ti.