Vi-n 1 Một thời, Thế Tôn trú ở Icchànangala, tại khóm rừng ở Icchànangala.
Vi-n 2 Tại đấy, Thế Tôn bảo các Tỷ-kheo:
—Ta muốn sống độc cư Thiền tịnh trong ba tháng, không tiếp một ai, trừ một người đem đồ ăn lại.
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Như vậy, không một ai đến viếng Thế Tôn, trừ một người đem đồ ăn lại.
Vi-n 3 Rồi Thế Tôn, sau khi ba tháng ấy đã mãn, từ chỗ Thiền tịnh độc cư đứng dậy, gọi các Tỷ-kheo:
—Này các Tỷ-kheo, nếu các du sĩ ngoại đạo đến hỏi các Ông: “Với sự an trú nào, này chư Hiền, Sa-môn Gotama an trú nhiều trong mùa mưa?” Ðược hỏi vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông hãy trả lời cho cho các du sĩ ngoại đạo ấy như sau: “Với định niệm hơi thở vô, hơi thở ra, này chư Hiền, Thế Tôn an trú nhiều trong các mùa mưa”.
Vi-n 4 Ở đây, này các Tỷ-kheo, chánh niệm Ta thở vô, chánh niệm Ta thở ra.
Vi-n 5-10. Hay thở vô dài, Ta rõ biết: “Ta thở vô dài”. Hay thở ra dài, Ta rõ biết: “Ta thở ra dài”. Hay thở vô ngắn, Ta rõ biết: “Ta thở vô ngắn”. Hay thở ra ngắn, Ta rõ biết: “Ta thở ra ngắn” … “Quán từ bỏ, Ta thở vô”, Ta rõ biết như vậy. “Quán từ bỏ, Ta thở ra”, Ta rõ biết như vậy.
Vi-n 11 Này các Tỷ-kheo, ai muốn nói một cách chơn chánh, đây là Thánh trú, đây là Phạm trú, đây là Như Lai trú; người ấy nói một cách chơn chánh, phải nói định niệm hơi thở vô, hơi thở ra là Thánh trú, là Phạm trú, là Như Lai trú.
Vi-n 12 Này các Tỷ-kheo, những Tỷ-kheo nào là bậc hữu học, tâm chưa thành tựu, đang sống cần cầu vô thượng an ổn khỏi các khổ ách; những vị ấy tu tập, làm cho sung mãn định niệm hơi thở vô, hơi thở ra, sẽ đưa đến đoạn tận các lậu hoặc. Và này các Tỷ-kheo, những Tỷ-kheo nào là bậc A-la-hán, đoạn tận các lậu hoặc, tu hành thành mãn, những việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã thành đạt lý tưởng, đã tận trừ hữu kiết sử, chánh trí, giải thoát; những vị ấy tu tập, làm cho sung mãn định niệm hơi thở vô, hơi thở ra, ngay trong hiện tại, đưa đến lạc trú, chánh niệm tỉnh giác.
Vi-n 13 Này các Tỷ-kheo, ai muốn nói một cách chơn chánh, đây là Thánh trú, đây là Phạm trú, đây là Như Lai trú; người ấy nói một cách chơn chánh, phải nói định niệm hơi thở vô, hơi thở ra là Thánh trú, là Phạm trú, là Như Lai trú.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā icchānaṅgale viharati icchānaṅgalavanasaṇḍe.
Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“icchāmahaṁ, bhikkhave, temāsaṁ paṭisallīyituṁ.
Nāmhi kenaci upasaṅkamitabbo, aññatra ekena piṇḍapātanīhārakenā”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho te bhikkhū bhagavato paṭissutvā nāssudha koci bhagavantaṁ upasaṅkamati, aññatra ekena piṇḍapātanīhārakena.
Atha kho bhagavā tassa temāsassa accayena paṭisallānā vuṭṭhito bhikkhū āmantesi:
“sace kho, bhikkhave, aññatitthiyā paribbājakā evaṁ puccheyyuṁ:
‘katamenāvuso, vihārena samaṇo gotamo vassāvāsaṁ bahulaṁ vihāsī’ti, evaṁ puṭṭhā tumhe, bhikkhave, tesaṁ aññatitthiyānaṁ paribbājakānaṁ evaṁ byākareyyātha:
‘ānāpānassatisamādhinā kho, āvuso, bhagavā vassāvāsaṁ bahulaṁ vihāsī’ti.
Idhāhaṁ, bhikkhave, sato assasāmi, sato passasāmi.
Dīghaṁ assasanto ‘dīghaṁ assasāmī’ti pajānāmi, dīghaṁ passasanto ‘dīghaṁ passasāmī’ti pajānāmi;
rassaṁ assasanto ‘rassaṁ assasāmī’ti pajānāmi, rassaṁ passasanto ‘rassaṁ passasāmī’ti pajānāmi;
‘sabbakāyappaṭisaṁvedī assasissāmī’ti pajānāmi …pe…
‘paṭinissaggānupassī assasissāmī’ti pajānāmi, ‘paṭinissaggānupassī passasissāmī’ti pajānāmi.
Yañhi taṁ, bhikkhave, sammā vadamāno vadeyya:
‘ariyavihāro’ itipi, ‘brahmavihāro’ itipi, ‘tathāgatavihāro’ itipi.
Ānāpānassatisamādhiṁ sammā vadamāno vadeyya:
‘ariyavihāro’ itipi, ‘brahmavihāro’ itipi, ‘tathāgatavihāro’ itipi.
Ye te, bhikkhave, bhikkhū sekhā appattamānasā anuttaraṁ yogakkhemaṁ patthayamānā viharanti tesaṁ ānāpānassatisamādhi bhāvito bahulīkato āsavānaṁ khayāya saṁvattati.
Ye ca kho te, bhikkhave, bhikkhū arahanto khīṇāsavā vusitavanto katakaraṇīyā ohitabhārā anuppattasadatthā parikkhīṇabhavasaṁyojanā sammadaññāvimuttā, tesaṁ ānāpānassatisamādhi bhāvito bahulīkato diṭṭhadhammasukhavihārāya ceva saṁvattati satisampajaññāya ca.
Yañhi taṁ, bhikkhave, sammā vadamāno vadeyya:
‘ariyavihāro’ itipi, ‘brahmavihāro’ itipi, ‘tathāgatavihāro’ itipi.
Ānāpānassatisamādhiṁ sammā vadamāno vadeyya:
‘ariyavihāro’ itipi, ‘brahmavihāro’ itipi, ‘tathāgatavihāro’ itipī”ti.
Paṭhamaṁ.
At one time the Buddha was staying in a forest near Icchānaṅgala.
There he addressed the mendicants,
“Mendicants, I wish to go on retreat for three months.
No-one should approach me, except for the one who brings my almsfood.”
“Yes, sir,” replied those mendicants. And no-one approached him, except for the one who brought the almsfood.
Then after three months had passed, the Buddha came out of retreat and addressed the mendicants:
“Mendicants, if wanderers who follow another religion were to ask you:
‘Reverends, what was the ascetic Gotama’s usual meditation during the rainy season residence?’ You should answer them like this.
‘Reverends, the ascetic Gotama’s usual meditation during the rainy season residence was immersion due to mindfulness of breathing.’
In this regard: mindful, I breathe in. Mindful, I breathe out.
Breathing in heavily I know: ‘I’m breathing in heavily.’ Breathing out heavily I know: ‘I’m breathing out heavily.’
When breathing in lightly I know: ‘I’m breathing in lightly.’ Breathing out lightly I know: ‘I’m breathing out lightly.’
I know: ‘I’ll breathe in experiencing the whole body.’ …
I know: ‘I’ll breathe in observing letting go.’ I know: ‘I’ll breathe out observing letting go.’
For if anything should be rightly called
‘a noble meditation’, or else ‘a divine meditation’, or else ‘a realized one’s meditation’,
it’s immersion due to mindfulness of breathing.
For those mendicants who are trainees—who haven’t achieved their heart’s desire, but live aspiring to the supreme sanctuary from the yoke—the development and cultivation of immersion due to mindfulness of breathing leads to the ending of defilements.
For those mendicants who are perfected—who have ended the defilements, completed the spiritual journey, done what had to be done, laid down the burden, achieved their heart’s goal, utterly ended the fetter of continued existence, and are rightly freed through enlightenment—the development and cultivation of immersion due to mindfulness of breathing leads to blissful meditation in this life, and to mindfulness and awareness.
For if anything should be rightly called
‘a noble meditation’, or else ‘a divine meditation’, or else ‘a realized one’s meditation’,
it’s immersion due to mindfulness of breathing.”
Vi-n 1 Một thời, Thế Tôn trú ở Icchànangala, tại khóm rừng ở Icchànangala.
Vi-n 2 Tại đấy, Thế Tôn bảo các Tỷ-kheo:
—Ta muốn sống độc cư Thiền tịnh trong ba tháng, không tiếp một ai, trừ một người đem đồ ăn lại.
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Như vậy, không một ai đến viếng Thế Tôn, trừ một người đem đồ ăn lại.
Vi-n 3 Rồi Thế Tôn, sau khi ba tháng ấy đã mãn, từ chỗ Thiền tịnh độc cư đứng dậy, gọi các Tỷ-kheo:
—Này các Tỷ-kheo, nếu các du sĩ ngoại đạo đến hỏi các Ông: “Với sự an trú nào, này chư Hiền, Sa-môn Gotama an trú nhiều trong mùa mưa?” Ðược hỏi vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông hãy trả lời cho cho các du sĩ ngoại đạo ấy như sau: “Với định niệm hơi thở vô, hơi thở ra, này chư Hiền, Thế Tôn an trú nhiều trong các mùa mưa”.
Vi-n 4 Ở đây, này các Tỷ-kheo, chánh niệm Ta thở vô, chánh niệm Ta thở ra.
Vi-n 5-10. Hay thở vô dài, Ta rõ biết: “Ta thở vô dài”. Hay thở ra dài, Ta rõ biết: “Ta thở ra dài”. Hay thở vô ngắn, Ta rõ biết: “Ta thở vô ngắn”. Hay thở ra ngắn, Ta rõ biết: “Ta thở ra ngắn” … “Quán từ bỏ, Ta thở vô”, Ta rõ biết như vậy. “Quán từ bỏ, Ta thở ra”, Ta rõ biết như vậy.
Vi-n 11 Này các Tỷ-kheo, ai muốn nói một cách chơn chánh, đây là Thánh trú, đây là Phạm trú, đây là Như Lai trú; người ấy nói một cách chơn chánh, phải nói định niệm hơi thở vô, hơi thở ra là Thánh trú, là Phạm trú, là Như Lai trú.
Vi-n 12 Này các Tỷ-kheo, những Tỷ-kheo nào là bậc hữu học, tâm chưa thành tựu, đang sống cần cầu vô thượng an ổn khỏi các khổ ách; những vị ấy tu tập, làm cho sung mãn định niệm hơi thở vô, hơi thở ra, sẽ đưa đến đoạn tận các lậu hoặc. Và này các Tỷ-kheo, những Tỷ-kheo nào là bậc A-la-hán, đoạn tận các lậu hoặc, tu hành thành mãn, những việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã thành đạt lý tưởng, đã tận trừ hữu kiết sử, chánh trí, giải thoát; những vị ấy tu tập, làm cho sung mãn định niệm hơi thở vô, hơi thở ra, ngay trong hiện tại, đưa đến lạc trú, chánh niệm tỉnh giác.
Vi-n 13 Này các Tỷ-kheo, ai muốn nói một cách chơn chánh, đây là Thánh trú, đây là Phạm trú, đây là Như Lai trú; người ấy nói một cách chơn chánh, phải nói định niệm hơi thở vô, hơi thở ra là Thánh trú, là Phạm trú, là Như Lai trú.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā icchānaṅgale viharati icchānaṅgalavanasaṇḍe.
Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“icchāmahaṁ, bhikkhave, temāsaṁ paṭisallīyituṁ.
Nāmhi kenaci upasaṅkamitabbo, aññatra ekena piṇḍapātanīhārakenā”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho te bhikkhū bhagavato paṭissutvā nāssudha koci bhagavantaṁ upasaṅkamati, aññatra ekena piṇḍapātanīhārakena.
Atha kho bhagavā tassa temāsassa accayena paṭisallānā vuṭṭhito bhikkhū āmantesi:
“sace kho, bhikkhave, aññatitthiyā paribbājakā evaṁ puccheyyuṁ:
‘katamenāvuso, vihārena samaṇo gotamo vassāvāsaṁ bahulaṁ vihāsī’ti, evaṁ puṭṭhā tumhe, bhikkhave, tesaṁ aññatitthiyānaṁ paribbājakānaṁ evaṁ byākareyyātha:
‘ānāpānassatisamādhinā kho, āvuso, bhagavā vassāvāsaṁ bahulaṁ vihāsī’ti.
Idhāhaṁ, bhikkhave, sato assasāmi, sato passasāmi.
Dīghaṁ assasanto ‘dīghaṁ assasāmī’ti pajānāmi, dīghaṁ passasanto ‘dīghaṁ passasāmī’ti pajānāmi;
rassaṁ assasanto ‘rassaṁ assasāmī’ti pajānāmi, rassaṁ passasanto ‘rassaṁ passasāmī’ti pajānāmi;
‘sabbakāyappaṭisaṁvedī assasissāmī’ti pajānāmi …pe…
‘paṭinissaggānupassī assasissāmī’ti pajānāmi, ‘paṭinissaggānupassī passasissāmī’ti pajānāmi.
Yañhi taṁ, bhikkhave, sammā vadamāno vadeyya:
‘ariyavihāro’ itipi, ‘brahmavihāro’ itipi, ‘tathāgatavihāro’ itipi.
Ānāpānassatisamādhiṁ sammā vadamāno vadeyya:
‘ariyavihāro’ itipi, ‘brahmavihāro’ itipi, ‘tathāgatavihāro’ itipi.
Ye te, bhikkhave, bhikkhū sekhā appattamānasā anuttaraṁ yogakkhemaṁ patthayamānā viharanti tesaṁ ānāpānassatisamādhi bhāvito bahulīkato āsavānaṁ khayāya saṁvattati.
Ye ca kho te, bhikkhave, bhikkhū arahanto khīṇāsavā vusitavanto katakaraṇīyā ohitabhārā anuppattasadatthā parikkhīṇabhavasaṁyojanā sammadaññāvimuttā, tesaṁ ānāpānassatisamādhi bhāvito bahulīkato diṭṭhadhammasukhavihārāya ceva saṁvattati satisampajaññāya ca.
Yañhi taṁ, bhikkhave, sammā vadamāno vadeyya:
‘ariyavihāro’ itipi, ‘brahmavihāro’ itipi, ‘tathāgatavihāro’ itipi.
Ānāpānassatisamādhiṁ sammā vadamāno vadeyya:
‘ariyavihāro’ itipi, ‘brahmavihāro’ itipi, ‘tathāgatavihāro’ itipī”ti.
Paṭhamaṁ.