Vi-n 1 Một thời Thế Tôn ở giữa các vị Sakkà, tại Silàvatii.
Vi-n 2 Lúc bấy giờ, Tôn giả Samiddhi sống không xa Thế Tôn, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.
Vi-n 3 Rồi Tôn giả Samiddhi, trong khi Thiền tịnh độc cư, tư tưởng sau đây được khởi lên: “Thật lợi ích cho ta, thật khéo lợi ích cho ta, khi bậc Ðạo Sư của ta là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Chánh Giác! Thật lợi ích cho ta, thật khéo lợi ích cho ta, khi ta được xuất gia trong Pháp và Luật khéo giảng! Thật lợi ích cho ta, thật khéo lợi ích cho ta, khi những vị đồng Phạm hạnh với ta là những bậc trì giới và hành trì thiện pháp!”
Vi-n 4 Rồi Ác ma với tâm tư của mình biết được tâm tư của Tôn giả Samiddhi, liền đi đến Tôn giả Samiddhi. Sau khi đến, không xa Tôn giả Samiddhi, Ác ma hét lên tiếng hét to lớn, rùng rợn, khiến người ta nghĩ như là quả đất vỡ tung.
Vi-n 5 Rồi Tôn giả Samiddhi đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Samiddhi bạch Thế Tôn:
Vi-n 6 —Bạch Thế Tôn, con sống không xa Thế Tôn, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần. Bạch Thế Tôn, trong khi con Thiền tịnh độc cư, tư tưởng sau đây được khởi lên: “Thật lợi ích cho ta, thật khéo lợi ích cho ta, khi bậc Ðạo Sư của ta là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Chánh Giác! Thật lợi ích cho ta, thật khéo lợi ích cho ta, khi ta được xuất gia trong Pháp và Luật khéo giảng! Thật lợi ích cho ta, thật khéo lợi ích cho ta, khi các vị đồng Phạm hạnh với ta là những bậc trì giới và hành trì thiện pháp!” Khi ấy, bạch Thế Tôn, không xa con, một tiếng hét to lớn rùng rợn khởi lên, khiến người ta nghĩ như là quả đất vỡ tung.
Vi-n 7 —Này Samiddhi, không phải quả đất vỡ tung đâu. Ðó là Ác ma đã đến để làm mờ mắt Ông. Này Samiddhi, Ông hãy đến tại chỗ ấy và sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.
Vi-n 8 —Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Tôn giả Samiddhi vâng đáp Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài, rồi ra đi.
Vi-n 9 Lần thứ hai, Tôn giả Samiddhi tại chỗ ấy sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần. Lần thứ hai, trong khi Tôn giả Samiddhi Thiền tịnh độc cư, tư tưởng sau đây được khởi lên: “Thật lợi ích thay cho ta, thật khéo lợi ích cho ta, khi bậc Ðạo Sư của ta là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Chánh Giác! Thật lợi ích cho ta, thật khéo lợi ích cho ta khi…, … và hành trì thiện pháp!”. Lần thứ hai, Ác ma biết được tư tưởng của Tôn giả Samiddhi…, … khiến người ta nghĩ như là quả đất vỡ tung.
Vi-n 10 Rồi Tôn giả Samiddhi, sau khi biết: “Ðây là Ác ma” liền nói lên bài kệ với Ác ma:
Ta với lòng tín ngưỡng,
Bỏ gia đình, xuất gia,
Niệm tuệ ta tăng trưởng,
Tâm tư ta Thiền định.
Dầu Ông tạo sắc gì,
Không làm ta sợ hãi.
Vi-n 11 Rồi Ác ma biết được: “Tỷ-kheo Samiddhi biết ta”, buồn khổ, thất vọng, liền biến mất tại chỗ.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā sakkesu viharati silāvatiyaṁ.
Tena kho pana samayena āyasmā samiddhi bhagavato avidūre appamatto ātāpī pahitatto viharati.
Atha kho āyasmato samiddhissa rahogatassa paṭisallīnassa evaṁ cetaso parivitakko udapādi:
“lābhā vata me, suladdhaṁ vata me,
yassa me satthā arahaṁ sammāsambuddho.
Lābhā vata me, suladdhaṁ vata me,
yvāhaṁ evaṁ svākkhāte dhammavinaye pabbajito.
Lābhā vata me, suladdhaṁ vata me,
yassa me sabrahmacārino sīlavanto kalyāṇadhammā”ti.
Atha kho māro pāpimā āyasmato samiddhissa cetasā cetoparivitakkamaññāya yenāyasmā samiddhi tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmato samiddhissa avidūre mahantaṁ bhayabheravaṁ saddamakāsi, apissudaṁ pathavī maññe undrīyati.
Atha kho āyasmā samiddhi yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno āyasmā samiddhi bhagavantaṁ etadavoca:
“idhāhaṁ, bhante, bhagavato avidūre appamatto ātāpī pahitatto viharāmi.
Tassa mayhaṁ, bhante, rahogatassa paṭisallīnassa evaṁ cetaso parivitakko udapādi:
‘lābhā vata me, suladdhaṁ vata me,
yassa me satthā arahaṁ sammāsambuddho.
Lābhā vata me, suladdhaṁ vata me,
yvāhaṁ evaṁ svākkhāte dhammavinaye pabbajito.
Lābhā vata me, suladdhaṁ vata me,
yassa me sabrahmacārino sīlavanto kalyāṇadhammā’ti.
Tassa mayhaṁ, bhante, avidūre mahābhayabheravasaddo ahosi, apissudaṁ pathavī maññe undrīyatī”ti.
“Nesā, samiddhi, pathavī undrīyati.
Māro eso pāpimā tuyhaṁ vicakkhukammāya āgato.
Gaccha tvaṁ, samiddhi, tattheva appamatto ātāpī pahitatto viharāhī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā samiddhi bhagavato paṭissutvā uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkāmi.
Dutiyampi kho āyasmā samiddhi tattheva appamatto ātāpī pahitatto vihāsi.
Dutiyampi kho āyasmato samiddhissa rahogatassa paṭisallīnassa …pe…
dutiyampi kho māro pāpimā āyasmato samiddhissa cetasā cetoparivitakkamaññāya …pe…
apissudaṁ pathavī maññe undrīyati.
Atha kho āyasmā samiddhi māraṁ pāpimantaṁ gāthāya ajjhabhāsi:
“Saddhāyāhaṁ pabbajito,
agārasmā anagāriyaṁ;
Sati paññā ca me buddhā,
cittañca susamāhitaṁ;
Kāmaṁ karassu rūpāni,
neva maṁ byādhayissasī”ti.
Atha kho māro pāpimā “jānāti maṁ samiddhi bhikkhū”ti dukkhī dummano tatthevantaradhāyīti.
SC 1On one occasion the Blessed One was dwelling among the Sakyans at Silavati . Now on that occasion the Venerable Samiddhi was dwelling not far from the Blessed One—diligent, ardent, and resolute. Then, while the Venerable Samiddhi was alone in seclusion, a reflection arose in his mind thus: “It is indeed a gain for me, it is well gained by me, that my teacher is the Arahant, the Perfectly Enlightened One! It is indeed a gain for me, it is well gained by me, that I have gone forth in this well-expounded Dhamma and Discipline! It is indeed a gain for me, it is well gained by me, that my companions in the holy life are virtuous, of good character!”
SC 2Then Mara the Evil One, having known with his own mind the reflection in the mind of the Venerable Samiddhi, approached him and, not far from him, made a loud noise, frightful and terrifying, as though the earth were splitting open.
SC 3Then the Venerable Samiddhi approached the Blessed One, paid homage to him, sat down to one side, and reported what had happened. The Blessed One said: “That was not the earth splitting open, Samiddhi. That was Mara the Evil One, who had come in order to confound you. Go back, Samiddhi, and dwell diligent, ardent, and resolute.”
SC 4“Yes, venerable sir,” the Venerable Samiddhi replied. sn.i.120 Then he rose from his seat, paid homage to the Blessed One, and departed, keeping him on the right.
SC 5A second time, while the Venerable Samiddhi was alone in seclusion, a reflection arose in his mind … And a second time Mara the Evil One … … made a loud noise, frightful and terrifying, as though the earth were splitting open.
SC 6Then the Venerable Samiddhi, having understood, “This is Mara the Evil One,” addressed him in verse:
SC 7 “I have gone forth out of faith
From the home to the homeless life.
My mindfulness and wisdom are mature,
And my mind well concentrated.
Conjure up whatever forms you wish,
But you will never make me tremble.”
SC 8Then Mara the Evil One, realizing, “The bhikkhu Samiddhi knows me,” sad and disappointed, disappeared right there.
Vi-n 1 Một thời Thế Tôn ở giữa các vị Sakkà, tại Silàvatii.
Vi-n 2 Lúc bấy giờ, Tôn giả Samiddhi sống không xa Thế Tôn, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.
Vi-n 3 Rồi Tôn giả Samiddhi, trong khi Thiền tịnh độc cư, tư tưởng sau đây được khởi lên: “Thật lợi ích cho ta, thật khéo lợi ích cho ta, khi bậc Ðạo Sư của ta là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Chánh Giác! Thật lợi ích cho ta, thật khéo lợi ích cho ta, khi ta được xuất gia trong Pháp và Luật khéo giảng! Thật lợi ích cho ta, thật khéo lợi ích cho ta, khi những vị đồng Phạm hạnh với ta là những bậc trì giới và hành trì thiện pháp!”
Vi-n 4 Rồi Ác ma với tâm tư của mình biết được tâm tư của Tôn giả Samiddhi, liền đi đến Tôn giả Samiddhi. Sau khi đến, không xa Tôn giả Samiddhi, Ác ma hét lên tiếng hét to lớn, rùng rợn, khiến người ta nghĩ như là quả đất vỡ tung.
Vi-n 5 Rồi Tôn giả Samiddhi đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Samiddhi bạch Thế Tôn:
Vi-n 6 —Bạch Thế Tôn, con sống không xa Thế Tôn, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần. Bạch Thế Tôn, trong khi con Thiền tịnh độc cư, tư tưởng sau đây được khởi lên: “Thật lợi ích cho ta, thật khéo lợi ích cho ta, khi bậc Ðạo Sư của ta là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Chánh Giác! Thật lợi ích cho ta, thật khéo lợi ích cho ta, khi ta được xuất gia trong Pháp và Luật khéo giảng! Thật lợi ích cho ta, thật khéo lợi ích cho ta, khi các vị đồng Phạm hạnh với ta là những bậc trì giới và hành trì thiện pháp!” Khi ấy, bạch Thế Tôn, không xa con, một tiếng hét to lớn rùng rợn khởi lên, khiến người ta nghĩ như là quả đất vỡ tung.
Vi-n 7 —Này Samiddhi, không phải quả đất vỡ tung đâu. Ðó là Ác ma đã đến để làm mờ mắt Ông. Này Samiddhi, Ông hãy đến tại chỗ ấy và sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.
Vi-n 8 —Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Tôn giả Samiddhi vâng đáp Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài, rồi ra đi.
Vi-n 9 Lần thứ hai, Tôn giả Samiddhi tại chỗ ấy sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần. Lần thứ hai, trong khi Tôn giả Samiddhi Thiền tịnh độc cư, tư tưởng sau đây được khởi lên: “Thật lợi ích thay cho ta, thật khéo lợi ích cho ta, khi bậc Ðạo Sư của ta là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Chánh Giác! Thật lợi ích cho ta, thật khéo lợi ích cho ta khi…, … và hành trì thiện pháp!”. Lần thứ hai, Ác ma biết được tư tưởng của Tôn giả Samiddhi…, … khiến người ta nghĩ như là quả đất vỡ tung.
Vi-n 10 Rồi Tôn giả Samiddhi, sau khi biết: “Ðây là Ác ma” liền nói lên bài kệ với Ác ma:
Ta với lòng tín ngưỡng,
Bỏ gia đình, xuất gia,
Niệm tuệ ta tăng trưởng,
Tâm tư ta Thiền định.
Dầu Ông tạo sắc gì,
Không làm ta sợ hãi.
Vi-n 11 Rồi Ác ma biết được: “Tỷ-kheo Samiddhi biết ta”, buồn khổ, thất vọng, liền biến mất tại chỗ.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā sakkesu viharati silāvatiyaṁ.
Tena kho pana samayena āyasmā samiddhi bhagavato avidūre appamatto ātāpī pahitatto viharati.
Atha kho āyasmato samiddhissa rahogatassa paṭisallīnassa evaṁ cetaso parivitakko udapādi:
“lābhā vata me, suladdhaṁ vata me,
yassa me satthā arahaṁ sammāsambuddho.
Lābhā vata me, suladdhaṁ vata me,
yvāhaṁ evaṁ svākkhāte dhammavinaye pabbajito.
Lābhā vata me, suladdhaṁ vata me,
yassa me sabrahmacārino sīlavanto kalyāṇadhammā”ti.
Atha kho māro pāpimā āyasmato samiddhissa cetasā cetoparivitakkamaññāya yenāyasmā samiddhi tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmato samiddhissa avidūre mahantaṁ bhayabheravaṁ saddamakāsi, apissudaṁ pathavī maññe undrīyati.
Atha kho āyasmā samiddhi yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno āyasmā samiddhi bhagavantaṁ etadavoca:
“idhāhaṁ, bhante, bhagavato avidūre appamatto ātāpī pahitatto viharāmi.
Tassa mayhaṁ, bhante, rahogatassa paṭisallīnassa evaṁ cetaso parivitakko udapādi:
‘lābhā vata me, suladdhaṁ vata me,
yassa me satthā arahaṁ sammāsambuddho.
Lābhā vata me, suladdhaṁ vata me,
yvāhaṁ evaṁ svākkhāte dhammavinaye pabbajito.
Lābhā vata me, suladdhaṁ vata me,
yassa me sabrahmacārino sīlavanto kalyāṇadhammā’ti.
Tassa mayhaṁ, bhante, avidūre mahābhayabheravasaddo ahosi, apissudaṁ pathavī maññe undrīyatī”ti.
“Nesā, samiddhi, pathavī undrīyati.
Māro eso pāpimā tuyhaṁ vicakkhukammāya āgato.
Gaccha tvaṁ, samiddhi, tattheva appamatto ātāpī pahitatto viharāhī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā samiddhi bhagavato paṭissutvā uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkāmi.
Dutiyampi kho āyasmā samiddhi tattheva appamatto ātāpī pahitatto vihāsi.
Dutiyampi kho āyasmato samiddhissa rahogatassa paṭisallīnassa …pe…
dutiyampi kho māro pāpimā āyasmato samiddhissa cetasā cetoparivitakkamaññāya …pe…
apissudaṁ pathavī maññe undrīyati.
Atha kho āyasmā samiddhi māraṁ pāpimantaṁ gāthāya ajjhabhāsi:
“Saddhāyāhaṁ pabbajito,
agārasmā anagāriyaṁ;
Sati paññā ca me buddhā,
cittañca susamāhitaṁ;
Kāmaṁ karassu rūpāni,
neva maṁ byādhayissasī”ti.
Atha kho māro pāpimā “jānāti maṁ samiddhi bhikkhū”ti dukkhī dummano tatthevantaradhāyīti.