S.i,25Vi-n 1 Một thời, Thế Tôn trú ở Sāvatthi (Xá-vệ), Jetavana (Thắng Lâm) tại vườn ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Ðộc).
Vi-n 2 Rồi rất nhiều quần tiên SatullapaKàyikà, khi đêm đã gần tàn, với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên.
Vi-n 3 Ðứng một bên, một vị Thiên nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Tín là người thứ hai,
Là bạn của loài Người,
Nếu không trú bất tín,
Ðược danh dự, xưng tán,
Sau khi bỏ thân này,
Ðược sanh lên Thiên giới.
Hãy từ bỏ phẫn nộ,
Hãy nhiếp phục kiêu mạn,
Hãy vượt qua tất cả
Mọi kiết sử trói buộc.
Chớ có quá chấp trước,
Ðối với danh sắc ấy.
Tham không thể đến được,
Với ai không có gì.
Kẻ ngu không trí tuệ,
Mới đam mê, phóng dật,
Kẻ trí không phóng dật,
Như giữ tài vật quý.
Chớ đam mê, phóng dật,
Chớ đắm say ái dục,
Thiền tư, không phóng dật,
Ðạt được tối thắng lạc.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Atha kho sambahulā satullapakāyikā devatāyo abhikkantāya rattiyā abhikkantavaṇṇā kevalakappaṁ jetavanaṁ obhāsetvā yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhaṁsu.
Ekamantaṁ ṭhitā kho ekā devatā bhagavato santike imaṁ gāthaṁ abhāsi:
“Saddhā dutiyā purisassa hoti,
No ce assaddhiyaṁ avatiṭṭhati;
Yaso ca kittī ca tatvassa hoti,
Saggañca so gacchati sarīraṁ vihāyā”ti.
Atha kho aparā devatā bhagavato santike imā gāthāyo abhāsi:
“Kodhaṁ jahe vippajaheyya mānaṁ,
Saṁyojanaṁ sabbamatikkameyya;
Taṁ nāmarūpasmimasajjamānaṁ,
Akiñcanaṁ nānupatanti saṅgā”ti.
“Pamādamanuyuñjanti,
bālā dummedhino janā;
Appamādañca medhāvī,
dhanaṁ seṭṭhaṁva rakkhati.
Mā pamādamanuyuñjetha,
mā kāmarati santhavaṁ;
Appamatto hi jhāyanto,
pappoti paramaṁ sukhan”ti.
SC 1On one occasion the Blessed One was dwelling at Savatthi in Jeta’s Grove, Anathapiṇḍika’s Park. Then, when the night had advanced, a number of devatās belonging to the Satullapa host, of stunning beauty, illuminating the entire Jeta’s Grove, approached the Blessed One. Having approached, they paid homage to the Blessed One and stood to one side.
SC 2Then one devatā, standing to one side, recited this verse in the presence of the Blessed One:
SC 3 “Faith is a person’s partner;
If lack of faith does not persist,
Fame and renown thereby come to him,
And he goes to heaven on leaving the body.”
SC 4Then another devatā recited these verses in the presence of the Blessed One:
SC 5 “One should discard anger, cast off conceit,
Transcend all the fetters.
No ties torment one who has nothing,
Who does not adhere to name-and-form.”
Another devatā:
SC 6 “Foolish people devoid of wisdom
Devote themselves to negligence.
But the wise man guards diligence
As his foremost treasure.
SC 7 “Do not yield to negligence,
Don’t be intimate with sensual delight.
For the diligent ones, meditating,
Attain supreme happiness.” sn.i.26
S.i,25Vi-n 1 Một thời, Thế Tôn trú ở Sāvatthi (Xá-vệ), Jetavana (Thắng Lâm) tại vườn ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Ðộc).
Vi-n 2 Rồi rất nhiều quần tiên SatullapaKàyikà, khi đêm đã gần tàn, với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên.
Vi-n 3 Ðứng một bên, một vị Thiên nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Tín là người thứ hai,
Là bạn của loài Người,
Nếu không trú bất tín,
Ðược danh dự, xưng tán,
Sau khi bỏ thân này,
Ðược sanh lên Thiên giới.
Hãy từ bỏ phẫn nộ,
Hãy nhiếp phục kiêu mạn,
Hãy vượt qua tất cả
Mọi kiết sử trói buộc.
Chớ có quá chấp trước,
Ðối với danh sắc ấy.
Tham không thể đến được,
Với ai không có gì.
Kẻ ngu không trí tuệ,
Mới đam mê, phóng dật,
Kẻ trí không phóng dật,
Như giữ tài vật quý.
Chớ đam mê, phóng dật,
Chớ đắm say ái dục,
Thiền tư, không phóng dật,
Ðạt được tối thắng lạc.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Atha kho sambahulā satullapakāyikā devatāyo abhikkantāya rattiyā abhikkantavaṇṇā kevalakappaṁ jetavanaṁ obhāsetvā yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhaṁsu.
Ekamantaṁ ṭhitā kho ekā devatā bhagavato santike imaṁ gāthaṁ abhāsi:
“Saddhā dutiyā purisassa hoti,
No ce assaddhiyaṁ avatiṭṭhati;
Yaso ca kittī ca tatvassa hoti,
Saggañca so gacchati sarīraṁ vihāyā”ti.
Atha kho aparā devatā bhagavato santike imā gāthāyo abhāsi:
“Kodhaṁ jahe vippajaheyya mānaṁ,
Saṁyojanaṁ sabbamatikkameyya;
Taṁ nāmarūpasmimasajjamānaṁ,
Akiñcanaṁ nānupatanti saṅgā”ti.
“Pamādamanuyuñjanti,
bālā dummedhino janā;
Appamādañca medhāvī,
dhanaṁ seṭṭhaṁva rakkhati.
Mā pamādamanuyuñjetha,
mā kāmarati santhavaṁ;
Appamatto hi jhāyanto,
pappoti paramaṁ sukhan”ti.