Vi-n 1 … Trú ở Sāvatthi.
Vi-n 2 Lúc bấy giờ có Tỷ-kheo thường dùng quá nhiều thì giờ giữa các gia đình. Các Tỷ-kheo nói với vị ấy: “Tôn giả chớ có dùng quá nhiều thì giờ giữa các gia đình”.
Vi-n 3 Tỷ-kheo ấy được các Tỷ-kheo nói vậy, tâm không hoan hỷ.
Vi-n 4 Rồi nhiều Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn … và bạch Thế Tôn:
Vi-n 5 —Ở đây, bạch Thế Tôn, có Tỷ-kheo thường dùng quá nhiều thì giờ giữa các gia đình. Các Tỷ-kheo nói với vị ấy: “Tôn giả chớ có dùng quá nhiều thì giờ giữa các gia đình”. Tỷ-kheo ấy được các Tỷ-kheo nói vậy, tâm không hoan hỷ.
Vi-n 6 —Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, có con mèo đứng rình con chuột bên cạnh một đống rác tại một ống cống và nghĩ rằng: “Nếu có một con chuột nhắt nào đi kiếm ăn chạy ra, ta sẽ bắt lấy và ăn thịt”.
Vi-n 7 Rồi này các Tỷ-kheo, có con chuột nhắt vì kiếm ăn chạy ra. Và con mèo ấy bắt lấy nó, mau chóng hành động (sankharirva) và nuốt nó. Và con chuột nhắt ấy cắn ruột, cắn phủ tạng con mèo. Do nhân duyên ấy, con mèo đi đến chết hay đi đến đau khổ gần như chết.
Vi-n 8 Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây, một số Tỷ-kheo vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi vào làng hay thị trấn để khất thực, thân không phòng hộ, lời nói không phòng hộ, tâm không phòng hộ, niệm không an trú, các căn không chế ngự.
Vi-n 9 Ở đấy, các vị ấy thấy các phụ nữ mặc không đứng đắn, hay mặc không kín đáo. Sau khi các vị ấy thấy các phụ nữ mặc không đứng đắn, hay mặc không kín đáo, tham dục não hại tâm. Các vị ấy bị tham dục não hại tâm, đi đến chết hay đi đến đau khổ gần như chết.
Vi-n 10 Ðây là sự chết, này các Tỷ-kheo, trong giới luật của bậc Thánh, tức là sự từ bỏ học giới và hoàn tục. Ðây là đau khổ gần như chết, này các Tỷ-kheo, tức là sự vi phạm một uế tội, một tội phạm còn có thể tuyên bố xuất gỡ được.
Vi-n 11 Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập như sau: “Phòng hộ thân, phòng hộ lời nói, phòng hộ tâm, an trú chánh niệm, chế ngự các căn, chúng tôi sẽ đi vào làng hay thị trấn để khất thực”.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập.
Sāvatthiyaṁ viharati.
Tena kho pana samayena aññataro bhikkhu ativelaṁ kulesu cārittaṁ āpajjati.
Tamenaṁ bhikkhū evamāhaṁsu:
“māyasmā ativelaṁ kulesu cārittaṁ āpajjī”ti.
So bhikkhu bhikkhūhi vuccamāno na viramati.
Atha kho sambahulā bhikkhū yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinnā kho te bhikkhū bhagavantaṁ etadavocuṁ:
“idha, bhante, aññataro bhikkhu ativelaṁ kulesu cārittaṁ āpajjati.
Tamenaṁ bhikkhū evamāhaṁsu:
‘māyasmā ativelaṁ kulesu cārittaṁ āpajjī’ti.
So bhikkhu bhikkhūhi vuccamāno na viramatī”ti.
“Bhūtapubbaṁ, bhikkhave, biḷāro sandhisamalasaṅkaṭīre ṭhito ahosi mudumūsiṁ maggayamāno:
‘yadāyaṁ mudumūsi gocarāya pakkamissati, tattheva naṁ gahetvā khādissāmī’ti.
Atha kho so, bhikkhave, mudumūsi gocarāya pakkāmi.
Tamenaṁ biḷāro gahetvā sahasā saṅkhāditvā ajjhohari.
Tassa so mudumūsi antampi khādi, antaguṇampi khādi.
So tatonidānaṁ maraṇampi nigacchi maraṇamattampi dukkhaṁ.
Evameva kho, bhikkhave, idhekacco bhikkhu pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya gāmaṁ vā nigamaṁ vā piṇḍāya pavisati arakkhiteneva kāyena arakkhitāya vācāya arakkhitena cittena, anupaṭṭhitāya satiyā, asaṁvutehi indriyehi.
So tattha passati mātugāmaṁ dunnivatthaṁ vā duppārutaṁ vā.
Tassa mātugāmaṁ disvā dunnivatthaṁ vā duppārutaṁ vā rāgo cittaṁ anuddhaṁseti.
So rāgānuddhaṁsena cittena maraṇaṁ vā nigacchati maraṇamattaṁ vā dukkhaṁ.
Maraṇañhetaṁ, bhikkhave, ariyassa vinaye yo sikkhaṁ paccakkhāya hīnāyāvattati.
Maraṇamattañhetaṁ, bhikkhave, dukkhaṁ yadidaṁ aññataraṁ saṅkiliṭṭhaṁ āpattiṁ āpajjati.
Yathārūpāya āpattiyā vuṭṭhānaṁ paññāyati.
Tasmātiha, bhikkhave, evaṁ sikkhitabbaṁ:
‘rakkhiteneva kāyena rakkhitāya vācāya rakkhitena cittena, upaṭṭhitāya satiyā, saṁvutehi indriyehi gāmaṁ vā nigamaṁ vā piṇḍāya pavisissāmā’ti.
Evañhi vo, bhikkhave, sikkhitabban”ti.
Dasamaṁ.
At Sāvatthī.
Now at that time a certain mendicant socialized with families too often.
The mendicants said to him,
“Venerable, don’t socialize with families too often.”
But that mendicant, when spoken to by the mendicants, did not stop.
And then several mendicants went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and told him what had happened. The Buddha said:
“Once upon a time, mendicants, a cat was standing by an alley or a drain or a dustbin hunting a little mouse, thinking,
‘When that little mouse comes out to feed, I’ll catch it right there and eat it!’
And then that little mouse came out to feed.
The cat caught it and hastily swallowed it without chewing.
But that little mouse ate its intestines and mesentery,
resulting in death and deadly pain.
In the same way, take a certain monk who robes up in the morning and, taking his bowl and robe, enters the village or town for alms without guarding body, speech, and mind, without establishing mindfulness, and without restraining the sense faculties.
There he sees a lady scantily clad, with revealing clothes.
Lust infects his mind,
resulting in death or deadly pain.
For it is death in the training of the Noble One to disavow the training and return to a lesser life.
And it is deadly pain to commit one of the corrupt offenses
for which rehabilitation is possible.
So you should train like this:
‘We will enter the village or town for alms guarding body, speech, and mind, establishing mindfulness, and restraining the sense faculties.’
That’s how you should train.”
Vi-n 1 … Trú ở Sāvatthi.
Vi-n 2 Lúc bấy giờ có Tỷ-kheo thường dùng quá nhiều thì giờ giữa các gia đình. Các Tỷ-kheo nói với vị ấy: “Tôn giả chớ có dùng quá nhiều thì giờ giữa các gia đình”.
Vi-n 3 Tỷ-kheo ấy được các Tỷ-kheo nói vậy, tâm không hoan hỷ.
Vi-n 4 Rồi nhiều Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn … và bạch Thế Tôn:
Vi-n 5 —Ở đây, bạch Thế Tôn, có Tỷ-kheo thường dùng quá nhiều thì giờ giữa các gia đình. Các Tỷ-kheo nói với vị ấy: “Tôn giả chớ có dùng quá nhiều thì giờ giữa các gia đình”. Tỷ-kheo ấy được các Tỷ-kheo nói vậy, tâm không hoan hỷ.
Vi-n 6 —Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, có con mèo đứng rình con chuột bên cạnh một đống rác tại một ống cống và nghĩ rằng: “Nếu có một con chuột nhắt nào đi kiếm ăn chạy ra, ta sẽ bắt lấy và ăn thịt”.
Vi-n 7 Rồi này các Tỷ-kheo, có con chuột nhắt vì kiếm ăn chạy ra. Và con mèo ấy bắt lấy nó, mau chóng hành động (sankharirva) và nuốt nó. Và con chuột nhắt ấy cắn ruột, cắn phủ tạng con mèo. Do nhân duyên ấy, con mèo đi đến chết hay đi đến đau khổ gần như chết.
Vi-n 8 Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây, một số Tỷ-kheo vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi vào làng hay thị trấn để khất thực, thân không phòng hộ, lời nói không phòng hộ, tâm không phòng hộ, niệm không an trú, các căn không chế ngự.
Vi-n 9 Ở đấy, các vị ấy thấy các phụ nữ mặc không đứng đắn, hay mặc không kín đáo. Sau khi các vị ấy thấy các phụ nữ mặc không đứng đắn, hay mặc không kín đáo, tham dục não hại tâm. Các vị ấy bị tham dục não hại tâm, đi đến chết hay đi đến đau khổ gần như chết.
Vi-n 10 Ðây là sự chết, này các Tỷ-kheo, trong giới luật của bậc Thánh, tức là sự từ bỏ học giới và hoàn tục. Ðây là đau khổ gần như chết, này các Tỷ-kheo, tức là sự vi phạm một uế tội, một tội phạm còn có thể tuyên bố xuất gỡ được.
Vi-n 11 Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập như sau: “Phòng hộ thân, phòng hộ lời nói, phòng hộ tâm, an trú chánh niệm, chế ngự các căn, chúng tôi sẽ đi vào làng hay thị trấn để khất thực”.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập.
Sāvatthiyaṁ viharati.
Tena kho pana samayena aññataro bhikkhu ativelaṁ kulesu cārittaṁ āpajjati.
Tamenaṁ bhikkhū evamāhaṁsu:
“māyasmā ativelaṁ kulesu cārittaṁ āpajjī”ti.
So bhikkhu bhikkhūhi vuccamāno na viramati.
Atha kho sambahulā bhikkhū yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinnā kho te bhikkhū bhagavantaṁ etadavocuṁ:
“idha, bhante, aññataro bhikkhu ativelaṁ kulesu cārittaṁ āpajjati.
Tamenaṁ bhikkhū evamāhaṁsu:
‘māyasmā ativelaṁ kulesu cārittaṁ āpajjī’ti.
So bhikkhu bhikkhūhi vuccamāno na viramatī”ti.
“Bhūtapubbaṁ, bhikkhave, biḷāro sandhisamalasaṅkaṭīre ṭhito ahosi mudumūsiṁ maggayamāno:
‘yadāyaṁ mudumūsi gocarāya pakkamissati, tattheva naṁ gahetvā khādissāmī’ti.
Atha kho so, bhikkhave, mudumūsi gocarāya pakkāmi.
Tamenaṁ biḷāro gahetvā sahasā saṅkhāditvā ajjhohari.
Tassa so mudumūsi antampi khādi, antaguṇampi khādi.
So tatonidānaṁ maraṇampi nigacchi maraṇamattampi dukkhaṁ.
Evameva kho, bhikkhave, idhekacco bhikkhu pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya gāmaṁ vā nigamaṁ vā piṇḍāya pavisati arakkhiteneva kāyena arakkhitāya vācāya arakkhitena cittena, anupaṭṭhitāya satiyā, asaṁvutehi indriyehi.
So tattha passati mātugāmaṁ dunnivatthaṁ vā duppārutaṁ vā.
Tassa mātugāmaṁ disvā dunnivatthaṁ vā duppārutaṁ vā rāgo cittaṁ anuddhaṁseti.
So rāgānuddhaṁsena cittena maraṇaṁ vā nigacchati maraṇamattaṁ vā dukkhaṁ.
Maraṇañhetaṁ, bhikkhave, ariyassa vinaye yo sikkhaṁ paccakkhāya hīnāyāvattati.
Maraṇamattañhetaṁ, bhikkhave, dukkhaṁ yadidaṁ aññataraṁ saṅkiliṭṭhaṁ āpattiṁ āpajjati.
Yathārūpāya āpattiyā vuṭṭhānaṁ paññāyati.
Tasmātiha, bhikkhave, evaṁ sikkhitabbaṁ:
‘rakkhiteneva kāyena rakkhitāya vācāya rakkhitena cittena, upaṭṭhitāya satiyā, saṁvutehi indriyehi gāmaṁ vā nigamaṁ vā piṇḍāya pavisissāmā’ti.
Evañhi vo, bhikkhave, sikkhitabban”ti.
Dasamaṁ.