Vi-n 1 Một thời Tôn giả Anuruddha trú ở Sāvatthi, Jetavana, tại vườn ông Anāthapiṇḍika.
Vi-n 2 Lúc bấy giờ Tôn giả Anuruddha thức dậy khi đêm vừa mới sáng, đang tụng đọc pháp cú.
Vi-n 3 Một nữ Dạ-xoa, mẹ của Piyankara dỗ cho con nín như sau:
Này Piyankara,
Chớ có sanh tiếng động,
Vị Tỷ-kheo đang tụng,
Những lời về pháp cú.
Nếu chúng ta biết được,
Học được pháp cú này,
Rồi như pháp hành trì,
Chúng ta được lợi ích.
Không sát hại sanh vật,
Không cố ý nói láo,
Tự học tập giới luật,
Chúng ta thoát ngạ quỷ.
Ekaṁ samayaṁ āyasmā anuruddho sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Tena kho pana samayena āyasmā anuruddho rattiyā paccūsasamayaṁ paccuṭṭhāya dhammapadāni bhāsati.
Atha kho piyaṅkaramātā yakkhinī puttakaṁ evaṁ tosesi:
“Mā saddaṁ kari piyaṅkara,
Bhikkhu dhammapadāni bhāsati;
Api ca dhammapadaṁ vijāniya,
Paṭipajjema hitāya no siyā.
Pāṇesu ca saṁyamāmase,
Sampajānamusā na bhaṇāmase;
Sikkhema susīlyamattano,
Api muccema pisācayoniyā”ti.
At one time Venerable Sāriputta was staying near Sāvatthī in Jeta’s Grove, Anāthapiṇḍika’s monastery.
Now at that time Venerable Anuruddha rose at the crack of dawn and recited passages of the teaching.
Then the native spirit Piyaṅkara’s Mother soothed her little child, saying:
“Don’t make a sound, Piyaṅkara!
A mendicant recites passages of the teaching.
When we understand a passage,
we can practice for our welfare.
Let us restrain ourselves from harming living creatures,
and speak no lying words.
We should train ourselves well in ethics,
and hopefully we’ll be freed from the goblin realm.”
Vi-n 1 Một thời Tôn giả Anuruddha trú ở Sāvatthi, Jetavana, tại vườn ông Anāthapiṇḍika.
Vi-n 2 Lúc bấy giờ Tôn giả Anuruddha thức dậy khi đêm vừa mới sáng, đang tụng đọc pháp cú.
Vi-n 3 Một nữ Dạ-xoa, mẹ của Piyankara dỗ cho con nín như sau:
Này Piyankara,
Chớ có sanh tiếng động,
Vị Tỷ-kheo đang tụng,
Những lời về pháp cú.
Nếu chúng ta biết được,
Học được pháp cú này,
Rồi như pháp hành trì,
Chúng ta được lợi ích.
Không sát hại sanh vật,
Không cố ý nói láo,
Tự học tập giới luật,
Chúng ta thoát ngạ quỷ.
Ekaṁ samayaṁ āyasmā anuruddho sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Tena kho pana samayena āyasmā anuruddho rattiyā paccūsasamayaṁ paccuṭṭhāya dhammapadāni bhāsati.
Atha kho piyaṅkaramātā yakkhinī puttakaṁ evaṁ tosesi:
“Mā saddaṁ kari piyaṅkara,
Bhikkhu dhammapadāni bhāsati;
Api ca dhammapadaṁ vijāniya,
Paṭipajjema hitāya no siyā.
Pāṇesu ca saṁyamāmase,
Sampajānamusā na bhaṇāmase;
Sikkhema susīlyamattano,
Api muccema pisācayoniyā”ti.