S.iv,223Vi-n 1 …
Vi-n 2 Rồi người thợ mộc Pancakanga đi đến Tôn giả Udāyi; sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Udāyi rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 3 Ngồi xuống một bên, thợ mộc Pancakanga thưa với Tôn giả Udāyi:
—Thưa Tôn giả Udāyi, Thế Tôn dạy có bao nhiêu thọ?
—Có ba thọ, này Pancakanga, được Thế Tôn nói đến: lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Ba thọ này, này Pancakanga, được Thế Tôn nói đến.
Vi-n 4 Ðược nghe nói vậy, thợ mộc Pancakanga thưa với Tôn giả Udāyi:
—Thưa Tôn giả Udāyi, Thế Tôn không dạy ba thọ. Thế Tôn dạy chỉ có hai thọ: lạc thọ và khổ thọ. Còn về bất khổ bất lạc thọ này, Thế Tôn dạy thuộc vào tế nhị lạc thọ.
Vi-n 5 Lần thứ hai, Tôn giả Udāyi nói với thợ mộc Pancakanga:
—Này Pancakanga, Thế Tôn không dạy hai thọ. Thế Tôn dạy có ba thọ: lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Ba thọ này được Thế Tôn nói đến.
Lần thứ hai, thợ mộc Pancakanga thưa với Tôn giả Udāyi:
—Thưa Tôn giả Udāyi, Thế Tôn không dạy có ba thọ. Thế Tôn dạy có hai thọ: lạc thọ và khổ thọ. Còn bất khổ bất lạc thọ này, Thế Tôn dạy thuộc vào tế nhị lạc thọ.
Vi-n 6 Lần thứ ba, Tôn giả Udāyi nói với thợ mộc Pancakanga:
—Này Pancakanga, Thế Tôn không dạy hai thọ. Thế Tôn dạy có ba thọ: lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Ba thọ này được Thế Tôn nói đến.
Lần thứ ba, thợ mộc Pancakanga thưa với Tôn giả Udāyi:
—Thưa Tôn giả Udāyi, Thế Tôn không dạy có ba thọ. Thế Tôn dạy có hai thọ: lạc thọ, khổ thọ. Còn bất khổ bất lạc thọ này, Thế Tôn dạy thuộc vào tế nhị lạc thọ.
Như vậy, Tôn giả Udāyi không có thể thuyết phục được thợ mộc Pancakanga, và thợ mộc Pancakanga không thể thuyết phục được Tôn giả Udāyi.
Vi-n 7 Tôn giả Ānanda nghe được câu chuyện này giữa Tôn giả Udāyi và thợ mộc Pancakanga.
Vi-n 8 Rồi Tôn giả Ānanda đi đến Thế Tôn; sau khi đến, liền ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Tôn giả Ānanda thuật lại với Thế Tôn tất cả câu chuyện xảy ra giữa Tôn giả Udāyi và thợ mộc Pancakanga.
Vi-n 9 —Dầu thật có pháp môn (pariyàyam), này Ānanda, nhưng thợ mộc Pancakanga không tín thọ Tỷ-kheo Udāyi. Và dầu thật có pháp môn, này Ānanda, nhưng Tỷ-kheo Udāyi không tín thọ thợ mộc Pancakanga. Có hai thọ, này Ānanda, theo pháp môn giải thích của Ta. Cũng có ba thọ theo pháp giải thích của Ta. Cũng có năm thọ theo pháp môn giải thích của Ta. Cũng có sáu thọ theo pháp môn giải thích của Ta. Cũng có 16 thọ theo pháp môn giải thích của Ta. Cũng có 108 thọ theo pháp môn giải thích của Ta. Như vậy, này Ānanda, là pháp được Ta tuyên bố tùy theo pháp môn.
Vi-n 10 Này Ānanda, dầu cho như vậy là pháp được Ta tuyên bố tùy theo pháp môn, này Ānanda, những ai không chịu chấp nhận, không chịu tán đồng, không chịu tùy hỷ lời khéo nói, khéo thuyết với nhau; đối với những người ấy sẽ xảy đến như sau: Họ sẽ sống đấu tranh nhau, hủy báng nhau, tranh luận nhau với những khí giới miệng lưỡi. Như vậy là pháp được Ta tuyên bố tùy theo pháp môn. Này Ānanda, dầu cho như vậy là pháp được Ta tuyên bố tùy theo pháp môn, những ai chịu chấp nhận, chịu tán đồng, chịu tùy hỷ lời khéo nói, khéo thuyết với nhau; đối với những người ấy, sẽ xảy đến như sau: Họ sẽ sống hòa hợp, hoan hỷ với nhau, không có tranh luận nhau, như nước với sữa, sống nhìn nhau với cặp mắt từ ái.
Vi-n 11 Và này Ānanda, có năm dục công đức này. Thế nào là năm? Có những sắc do mắt nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn … Có những xúc do thân nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Này Ānanda, có năm dục công đức này. Do duyên năm dục công đức này, này Ānanda, khởi lên lạc hỷ gì, đây gọi là dục lạc.
Vi-n 12 Này Ānanda, có thể có những người nói như sau: “Ðây là lạc và hỷ tối thượng mà chúng sanh cảm thọ được”. Nhưng Ta không chấp nhận quan điểm này. Vì sao? Có lạc khác với lạc ấy, này Ānanda, còn vi diệu hơn, còn tế nhị hơn. Ở đây, này Ānanda, Tỷ-kheo ly dục, ly bất thiện pháp, chứng đạt và trú Thiền thứ nhất. Lạc này là lạc khác với lạc kia, này Ānanda, còn vi diệu hơn, còn tốt đẹp hơn.
Vi-n 13 Này Ānanda, có thể có những người nói như sau: “Ðây là lạc và hỷ tối thượng mà chúng sanh cảm thọ được”. Nhưng Ta không chấp nhận quan điểm này. Vì sao? Vì rằng có lạc khác với lạc ấy, này Ānanda, còn vi diệu hơn, còn tế nhị hơn. Và này Ānanda, thế nào là lạc khác với lạc ấy còn vi diệu hơn, còn tế nhị hơn? Ở đây, này Ānanda, Tỷ-kheo tịnh chỉ các tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tỉnh nhứt tâm. Lạc này là lạc khác với lạc kia, này Ānanda, còn vi diệu hơn, còn tế nhị hơn.
Vi-n 14 Này Ānanda, có thể có những người nói như sau: “Ðây là lạc và hỷ tối thượng mà chúng sanh cảm thọ được”. Nhưng Ta không chấp nhận quan điểm này. Vì sao? Vì rằng có lạc khác với lạc ấy, này Ānanda, còn vi diệu hơn, còn tế nhị hơn. Và này Ānanda, thế nào là lạc khác với lạc ấy còn vi diệu hơn, còn tế nhị hơn? Ở đây, này Ānanda, Tỷ-kheo ly hỷ, trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và trú Thiền thứ ba. Lạc này là lạc khác với lạc kia, này Ānanda, còn vi diệu hơn, còn tế nhị hơn.
Vi-n 15 Này Ānanda, có thể có những người nói như sau: “Ðây là lạc và hỷ tối thượng mà chúng sanh cảm thọ được”. Nhưng Ta không chấp nhận quan điểm này. Vì sao? Vì rằng có lạc khác với lạc ấy, này Ānanda, còn vi diệu hơn, còn tế nhị hơn. Và này Ānanda, thế nào là lạc khác với lạc ấy còn vi diệu hơn, còn tế nhị hơn? Ở đây, này Ānanda, Tỷ-kheo xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ từ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh. Lạc này là lạc khác với lạc kia, này Ānanda, còn vi diệu hơn, còn tế nhị hơn.
Vi-n 16 Này Ānanda, có thể có những người nói như sau: “Ðây là lạc và hỷ tối thượng mà chúng sanh cảm thọ được”. Nhưng Ta không chấp nhận quan điểm này. Vì sao? Vì rằng có lạc khác với lạc ấy, này Ānanda, còn vi diệu hơn, còn tế nhị hơn. Và này Ānanda, thế nào là lạc khác với lạc ấy còn vi diệu hơn, còn tế nhị hơn? Ở đây, này Ānanda, Tỷ-kheo vượt qua các sắc tưởng một cách hoàn toàn, chấm dứt các đối ngại tưởng, không tác ý sai biệt tưởng, biết rằng: “Hư không là vô biên”, chứng và trú Không vô biên xứ. Lạc này là lạc khác với lạc kia, này Ānanda, còn vi diệu hơn, còn tế nhị hơn.
Vi-n 17 Này Ānanda, có thể có những người nói như sau: “Ðây là lạc và hỷ tối thượng mà chúng sanh cảm thọ được”. Nhưng Ta không chấp nhận quan điểm này. Vì sao? Vì rằng có lạc khác với lạc ấy, này Ānanda, còn vi diệu hơn, còn tế nhị hơn … Ở đây, này Ānanda, Tỷ-kheo vượt qua Không vô biên xứ một cách hoàn toàn, biết rằng: “Thức là vô biên”, chứng và trú Thức vô biên xứ. Lạc này là lạc khác với lạc kia, này Ānanda, còn vi diệu hơn, còn tế nhị hơn.
Vi-n 18 Này Ānanda, có thể có những người nói như sau: “Ðây là lạc và hỷ tối thượng mà chúng sanh cảm thọ được”. Nhưng Ta không chấp nhận quan điểm này. Vì sao? Vì rằng có lạc khác với lạc ấy, này Ānanda, còn vi diệu hơn, còn tế nhị hơn … Ở đây, này Ānanda, Tỷ-kheo vượt qua Thức vô biên xứ một cách hoàn toàn, biết rằng: “Không có sở hữu gì”, chứng và trú Vô sở hữu xứ. Lạc này là lạc khác với lạc kia, này Ānanda, còn vi diệu hơn, còn tế nhị hơn.
Vi-n 19 Này Ānanda, có thể có những người nói như sau: “Ðây là lạc và hỷ tối thượng mà chúng sanh cảm thọ được”. Nhưng Ta không chấp nhận quan điểm này. Vì sao? Vì rằng có lạc khác với lạc ấy, này Ānanda, còn vi diệu hơn, còn tế nhị hơn … Ở đây, này Ānanda, Tỷ-kheo vượt qua Vô sở hữu xứ một cách hoàn toàn, chứng và trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Lạc này là lạc khác với lạc kia, này Ānanda, còn vi diệu hơn, còn tế nhị hơn.
Vi-n 20 Này Ānanda, có thể có những người nói như sau: “Ðây là lạc và hỷ tối thượng mà chúng sanh cảm thọ được”. Nhưng Ta không chấp nhận quan điểm này. Vì sao? Vì rằng có lạc khác với lạc ấy, này Ānanda, còn vi diệu hơn, còn tế nhị hơn … Ở đây, này Ānanda, Tỷ-kheo vượt qua Phi tưởng phi phi tưởng xứ một cách hoàn toàn, chứng và trú Diệt thọ tưởng định. Lạc này là lạc khác với lạc kia, này Ānanda, còn vi diệu hơn, còn tế nhị hơn.
Vi-n 21 Sự kiện này xảy ra, này Ānanda. Có các du sĩ ngoại đạo có thể hỏi như sau: “Sa-môn Gotama nói đến Diệt thọ tưởng định, và tuyên bố là Diệt thọ tưởng định ấy thuộc về lạc. Ý nghĩa này là gì và như thế nào?”. Ðược nói vậy, này Ānanda, các du sĩ ngoại đạo cần được trả lời như sau: “Này chư Hiền, Thế Tôn không tuyên bố thuộc về lạc, dựa vào lạc thọ. Nhưng chỗ nào, này chư Hiền, lạc được cảm thọ, chỗ ấy, Thế Tôn tuyên bố cảm thọ thuộc vào lạc thọ”.
Atha kho pañcakaṅgo thapati yenāyasmā udāyī tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ udāyiṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho pañcakaṅgo thapati āyasmantaṁ udāyiṁ etadavoca:
“kati nu kho, bhante udāyi, vedanā vuttā bhagavatā”ti?
“Tisso kho, thapati, vedanā vuttā bhagavatā.
Sukhā vedanā, dukkhā vedanā, adukkhamasukhā vedanā—
imā kho, thapati, tisso vedanā vuttā bhagavatā”ti.
Evaṁ vutte, pañcakaṅgo thapati āyasmantaṁ udāyiṁ etadavoca:
“na kho, bhante udāyi, tisso vedanā vuttā bhagavatā.
Dve vedanā vuttā bhagavatā—
sukhā vedanā, dukkhā vedanā.
Yāyaṁ, bhante, adukkhamasukhā vedanā, santasmiṁ esā paṇīte sukhe vuttā bhagavatā”ti.
Dutiyampi kho āyasmā udāyī pañcakaṅgaṁ thapatiṁ etadavoca:
“na kho, thapati, dve vedanā vuttā bhagavatā.
Tisso vedanā vuttā bhagavatā.
Sukhā vedanā, dukkhā vedanā, adukkhamasukhā vedanā—
imā tisso vedanā vuttā bhagavatā”ti.
Dutiyampi kho pañcakaṅgo thapati āyasmantaṁ udāyiṁ etadavoca:
“na kho, bhante udāyi, tisso vedanā vuttā bhagavatā.
Dve vedanā vuttā bhagavatā—
sukhā vedanā, dukkhā vedanā.
Yāyaṁ, bhante, adukkhamasukhā vedanā, santasmiṁ esā paṇīte sukhe vuttā bhagavatā”ti.
Tatiyampi kho āyasmā udāyī pañcakaṅgaṁ thapatiṁ etadavoca:
“na kho, thapati, dve vedanā vuttā bhagavatā.
Tisso vedanā vuttā bhagavatā.
Sukhā vedanā, dukkhā vedanā, adukkhamasukhā vedanā—
imā tisso vedanā vuttā bhagavatā”ti.
Tatiyampi kho pañcakaṅgo thapati āyasmantaṁ udāyiṁ etadavoca:
“na kho, bhante udāyi, tisso vedanā vuttā bhagavatā.
Dve vedanā vuttā bhagavatā—
sukhā vedanā, dukkhā vedanā.
Yāyaṁ, bhante, adukkhamasukhā vedanā, santasmiṁ esā paṇīte sukhe vuttā bhagavatā”ti.
Neva sakkhi āyasmā udāyī pañcakaṅgaṁ thapatiṁ saññāpetuṁ, na panāsakkhi pañcakaṅgo thapati āyasmantaṁ udāyiṁ saññāpetuṁ.
Assosi kho āyasmā ānando āyasmato udāyissa pañcakaṅgena thapatinā saddhiṁ imaṁ kathāsallāpaṁ.
Atha kho āyasmā ānando yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā ekamantaṁ nisīdi.
Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā ānando yāvatako āyasmato udāyissa pañcakaṅgena thapatinā saddhiṁ ahosi kathāsallāpo taṁ sabbaṁ bhagavato ārocesi.
“Santameva, ānanda, pariyāyaṁ pañcakaṅgo thapati udāyissa bhikkhuno nābbhanumodi;
santañca panānanda, pariyāyaṁ udāyī bhikkhu pañcakaṅgassa thapatino nābbhanumodi.
Dvepi mayā, ānanda, vedanā vuttā pariyāyena.
Tissopi mayā vedanā vuttā pariyāyena.
Pañcapi mayā vedanā vuttā pariyāyena.
Chapi mayā vedanā vuttā pariyāyena.
Aṭṭhārasāpi mayā vedanā vuttā pariyāyena.
Chattiṁsāpi mayā vedanā vuttā pariyāyena.
Aṭṭhasatampi mayā vedanā vuttā pariyāyena.
Evaṁ pariyāyadesito kho, ānanda, mayā dhammo.
Evaṁ pariyāyadesite kho, ānanda, mayā dhamme ye aññamaññassa subhāsitaṁ sulapitaṁ, na samanumaññissanti, na samanujānissanti, na samanumodissanti, tesaṁ etaṁ pāṭikaṅkhaṁ—bhaṇḍanajātā kalahajātā vivādāpannā aññamaññaṁ mukhasattīhi vitudantā viharissantīti.
Evaṁ pariyāyadesito kho, ānanda, mayā dhammo.
Evaṁ pariyāyadesite kho, ānanda, mayā dhamme ye aññamaññassa subhāsitaṁ sulapitaṁ samanumaññissanti samanujānissanti samanumodissanti, tesaṁ etaṁ pāṭikaṅkhaṁ—samaggā sammodamānā avivadamānā khīrodakībhūtā aññamaññaṁ piyacakkhūhi sampassantā viharissantīti.
Pañcime, ānanda, kāmaguṇā.
Katame pañca?
Cakkhuviññeyyā rūpā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṁhitā rajanīyā …pe…
kāyaviññeyyā phoṭṭhabbā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṁhitā rajanīyā.
Ime kho, ānanda, pañca kāmaguṇā.
Yaṁ kho, ānanda, ime pañca kāmaguṇe paṭicca uppajjati sukhaṁ somanassaṁ—
idaṁ vuccati kāmasukhaṁ.
Ye kho, ānanda, evaṁ vadeyyuṁ:
‘etapparamaṁ santaṁ sukhaṁ somanassaṁ paṭisaṁvedentī’ti—
idaṁ nesāhaṁ nānujānāmi.
Taṁ kissa hetu?
Atthānanda, etamhā sukhā aññaṁ sukhaṁ abhikkantatarañca paṇītatarañca.
Katamañcānanda, etamhā sukhā aññaṁ sukhaṁ abhikkantatarañca paṇītatarañca?
Idhānanda, bhikkhu vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
Idaṁ kho, ānanda, etamhā sukhā aññaṁ sukhaṁ abhikkantatarañca paṇītatarañca.
Ye kho, ānanda, evaṁ vadeyyuṁ:
‘etapparamaṁ santaṁ sukhaṁ somanassaṁ paṭisaṁvedentī’ti—
idaṁ nesāhaṁ nānujānāmi.
Taṁ kissa hetu?
Atthānanda, etamhā sukhā aññaṁ sukhaṁ abhikkantatarañca paṇītatarañca.
Katamañcānanda, etamhā sukhā aññaṁ sukhaṁ abhikkantatarañca paṇītatarañca?
Idhānanda, bhikkhu, vitakkavicārānaṁ vūpasamā ajjhattaṁ sampasādanaṁ cetaso ekodibhāvaṁ avitakkaṁ avicāraṁ samādhijaṁ pītisukhaṁ dutiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
Idaṁ kho, ānanda, etamhā sukhā aññaṁ sukhaṁ abhikkantatarañca paṇītatarañca.
Ye kho, ānanda, evaṁ vadeyyuṁ:
‘etapparamaṁ santaṁ sukhaṁ somanassaṁ paṭisaṁvedentī’ti—
idaṁ nesāhaṁ nānujānāmi.
Taṁ kissa hetu?
Atthānanda, etamhā sukhā aññaṁ sukhaṁ abhikkantatarañca paṇītatarañca.
Katamañcānanda, etamhā sukhā aññaṁ sukhaṁ abhikkantatarañca paṇītatarañca?
Idhānanda, bhikkhu pītiyā ca virāgā upekkhako ca viharati sato ca sampajāno, sukhañca kāyena paṭisaṁvedeti, yaṁ taṁ ariyā ācikkhanti: ‘upekkhako satimā sukhavihārī’ti tatiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
Idaṁ kho, ānanda, etamhā sukhā aññaṁ sukhaṁ abhikkantatarañca paṇītatarañca.
Ye kho, ānanda, evaṁ vadeyyuṁ:
‘etapparamaṁ santaṁ sukhaṁ somanassaṁ paṭisaṁvedentī’ti—
idaṁ nesāhaṁ nānujānāmi.
Taṁ kissa hetu?
Atthānanda, etamhā sukhā aññaṁ sukhaṁ abhikkantatarañca paṇītatarañca.
Katamañcānanda, etamhā sukhā aññaṁ sukhaṁ abhikkantatarañca paṇītatarañca?
Idhānanda, bhikkhu sukhassa ca pahānā dukkhassa ca pahānā pubbeva somanassadomanassānaṁ atthaṅgamā adukkhamasukhaṁ upekkhāsatipārisuddhiṁ catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
Idaṁ kho, ānanda, etamhā sukhā aññaṁ sukhaṁ abhikkantatarañca paṇītatarañca.
Ye kho, ānanda, evaṁ vadeyyuṁ:
‘etapparamaṁ santaṁ sukhaṁ somanassaṁ paṭisaṁvedentī’ti—
idaṁ nesāhaṁ nānujānāmi.
Taṁ kissa hetu?
Atthānanda, etamhā sukhā aññaṁ sukhaṁ abhikkantatarañca paṇītatarañca.
Katamañcānanda, etamhā sukhā aññaṁ sukhaṁ abhikkantatarañca paṇītatarañca?
Idhānanda, bhikkhu sabbaso rūpasaññānaṁ samatikkamā, paṭighasaññānaṁ atthaṅgamā, nānattasaññānaṁ amanasikārā, ‘ananto ākāso’ti ākāsānañcāyatanaṁ upasampajja viharati.
Idaṁ kho, ānanda, etamhā sukhā aññaṁ sukhaṁ abhikkantatarañca paṇītatarañca.
Ye kho, ānanda, evaṁ vadeyyuṁ:
‘etapparamaṁ santaṁ sukhaṁ somanassaṁ paṭisaṁvedentī’ti—
idaṁ nesāhaṁ nānujānāmi.
Taṁ kissa hetu?
Atthānanda, etamhā sukhā aññaṁ sukhaṁ abhikkantatarañca paṇītatarañca.
Katamañcānanda, etamhā sukhā aññaṁ sukhaṁ abhikkantatarañca paṇītatarañca?
Idhānanda, bhikkhu sabbaso ākāsānañcāyatanaṁ samatikkamma, ‘anantaṁ viññāṇan’ti viññāṇañcāyatanaṁ upasampajja viharati.
Idaṁ kho, ānanda, etamhā sukhā aññaṁ sukhaṁ abhikkantatarañca paṇītatarañca.
Ye kho, ānanda, evaṁ vadeyyuṁ:
‘etapparamaṁ santaṁ sukhaṁ somanassaṁ paṭisaṁvedentī’ti—
idaṁ nesāhaṁ nānujānāmi.
Taṁ kissa hetu?
Atthānanda, etamhā sukhā aññaṁ sukhaṁ abhikkantatarañca paṇītatarañca.
Katamañcānanda, etamhā sukhā aññaṁ sukhaṁ abhikkantatarañca paṇītatarañca?
Idhānanda, bhikkhu sabbaso viññāṇañcāyatanaṁ samatikkamma, ‘natthi kiñcī’ti ākiñcaññāyatanaṁ upasampajja viharati.
Idaṁ kho, ānanda, etamhā sukhā aññaṁ sukhaṁ abhikkantatarañca paṇītatarañca.
Ye kho, ānanda, evaṁ vadeyyuṁ:
‘etapparamaṁ santaṁ sukhaṁ somanassaṁ paṭisaṁvedentī’ti—
idaṁ nesāhaṁ nānujānāmi.
Taṁ kissa hetu?
Atthānanda, etamhā sukhā aññaṁ sukhaṁ abhikkantatarañca paṇītatarañca.
Katamañcānanda, etamhā sukhā aññaṁ sukhaṁ abhikkantatarañca paṇītatarañca?
Idhānanda, bhikkhu sabbaso ākiñcaññāyatanaṁ samatikkamma nevasaññānāsaññāyatanaṁ upasampajja viharati.
Idaṁ kho, ānanda, etamhā sukhā aññaṁ sukhaṁ abhikkantatarañca paṇītatarañca.
Ye kho, ānanda, evaṁ vadeyyuṁ:
‘etapparamaṁ santaṁ sukhaṁ somanassaṁ paṭisaṁvedentī’ti—
idaṁ nesāhaṁ nānujānāmi.
Taṁ kissa hetu?
Atthānanda, etamhā sukhā aññaṁ sukhaṁ abhikkantatarañca paṇītatarañca.
Katamañcānanda, etamhā sukhā aññaṁ sukhaṁ abhikkantatarañca paṇītatarañca?
Idhānanda, bhikkhu sabbaso nevasaññānāsaññāyatanaṁ samatikkamma saññāvedayitanirodhaṁ upasampajja viharati.
Idaṁ kho, ānanda, etamhā sukhā aññaṁ sukhaṁ abhikkantatarañca paṇītatarañca.
Ṭhānaṁ kho panetaṁ, ānanda, vijjati yaṁ aññatitthiyā paribbājakā evaṁ vadeyyuṁ:
‘saññāvedayitanirodhaṁ samaṇo gotamo āha, tañca sukhasmiṁ paññapeti.
Tayidaṁ kiṁsu, tayidaṁ kathaṁsū’ti?
Evaṁvādino, ānanda, aññatitthiyā paribbājakā evamassu vacanīyā:
‘na kho, āvuso, bhagavā sukhaññeva vedanaṁ sandhāya sukhasmiṁ paññapeti.
Yattha yattha, āvuso, sukhaṁ upalabbhati, yahiṁ yahiṁ, taṁ taṁ tathāgato sukhasmiṁ paññapetī’”ti.
Navamaṁ.
SC 1Then the carpenter Pañcakaṅga approached the Venerable Udayī, paid homage to him, sat down to one side, and asked him: “Venerable Udayī, how many kinds of feelings have been spoken of by the Blessed One?”
SC 2“Three kinds of feelings, carpenter, have been spoken of by the Blessed One: pleasant feeling, painful feeling, neither-painful-nor-pleasant feeling. These are the three kinds of feelings that have been spoken of by the Blessed One.”
SC 3When this was said, the carpenter Pañcakaṅga said to the Venerable Udayī: “The Blessed One did not speak of three kinds of feelings, Venerable Udayī. He spoke of two kinds of feelings: pleasant feeling and painful feeling. As to this neither-painful-nor-pleasant feeling, venerable sir, the Blessed One has said that this is included in the peaceful and sublime pleasure.”
SC 4A second time sn.iv.224 and a third time the Venerable Udayī stated his position, and a second time and a third time the carpenter Pañcakaṅga stated his, but the Venerable Udayī could not convince the carpenter Pañcakaṅga nor could the carpenter Pañcakaṅga convince the Venerable Udayī.
SC 5The Venerable Ānanda heard this conversation between the Venerable Udayī and the carpenter Pañcakaṅga. Then he approached the Blessed One, paid homage to him, sat down to one side, and reported to the Blessed One the entire conversation. The Blessed One said:
SC 6“Ānanda, it was a true method of exposition that the carpenter Pañcakaṅga would not approve of from the bhikkhu Udayī, and it was a true method of exposition that the bhikkhu Udayī would not approve of from the carpenter Pañcakaṅga. I have spoken of two kinds of feelings by one method of exposition; I have spoken of three kinds of feelings by another method of exposition; I have spoken of five kinds of feelings … six kinds of feelings … eighteen kinds of feelings … thirty-six kinds of feelings by another method of exposition; sn.iv.225 and I have spoken of one hundred and eight kinds of feelings by still another method of exposition. Thus, Ānanda, the Dhamma has been taught by me through different methods of exposition.
SC 7“When the Dhamma has been taught by me in such a way through different methods of exposition, it may be expected of those who will not concede, allow, and approve of what is well stated and well spoken by others that they will become contentious and quarrelsome and engage in disputes, and that they will dwell stabbing each other with verbal daggers. But when the Dhamma has been taught by me in such a way through different methods of exposition, it may be expected of those who will concede, allow, and approve of what is well stated and well spoken by others that they will live in concord, with mutual appreciation, without disputing, blending like milk and water, viewing each other with kindly eyes.
SC 8“Ānanda, there are these five cords of sensual pleasure. What five? Forms cognizable by the eye that are desirable, lovely, agreeable, pleasing, sensually enticing, tantalizing. Sounds cognizable by the ear … Odours cognizable by the nose … Tastes cognizable by the tongue … Tactile objects cognizable by the body that are desirable, lovely, agreeable, pleasing, sensually enticing, tantalizing. These are the five cords of sensual pleasure. The pleasure and joy that arise in dependence on these five cords of sensual pleasure: this is called sensual pleasure.
SC 9“Though some may say, ‘This is the supreme pleasure and joy that beings experience,’ I would not concede this to them. Why is that? Because there is another kind of happiness more excellent and sublime than that happiness. And what is that other kind of happiness? Here, Ānanda, secluded from sensual pleasures, secluded from unwholesome states, a bhikkhu enters and dwells in the first jhana, which is accompanied by thought and examination, with rapture and happiness born of seclusion. This is that other kind of happiness more excellent and sublime than the previous kind of happiness. sn.iv.226
SC 10“Though some may say, ‘This is the supreme pleasure and joy that beings experience,’ I would not concede this to them. Why is that? Because there is another kind of happiness more excellent and sublime than that happiness. And what is that other kind of happiness? Here, Ānanda, with the subsiding of thought and examination, a bhikkhu enters and dwells in the second jhana, which has internal confidence and unification of mind, is without thought and examination, and has rapture and happiness born of concentration. This is that other kind of happiness more excellent and sublime than the previous kind of happiness.
SC 11“Though some may say, ‘This is the supreme pleasure and joy that beings experience,’ I would not concede this to them. Why is that? Because there is another kind of happiness more excellent and sublime than that happiness. And what is that other kind of happiness? Here, Ānanda, with the fading away as well of rapture, a bhikkhu dwells equanimous and, mindful and clearly comprehending, he experiences happiness with the body; he enters and dwells in the third jhana of which the noble ones declare: ‘He is equanimous, mindful, one who dwells happily.’ This is that other kind of happiness more excellent and sublime than the previous kind of happiness.
SC 12“Though some may say, ‘This is the supreme pleasure and joy that beings experience,’ I would not concede this to them. Why is that? Because there is another kind of happiness more excellent and sublime than that happiness. And what is that other kind of happiness? Here, Ānanda, with the abandoning of pleasure and pain, and with the previous passing away of joy and displeasure, a bhikkhu enters and dwells in the fourth jhana, which is neither painful nor pleasant and includes the purification of mindfulness by equanimity. This is that other kind of happiness more excellent and sublime than the previous kind of happiness. “Though some may say, ‘This is the supreme pleasure and joy that beings experience,’ I would not concede this to them. sn.iv.227 Why is that? Because there is another kind of happiness more excellent and sublime than that happiness. And what is that other kind of happiness? Here, Ānanda, with the complete transcendence of perceptions of forms, with the passing away of perceptions of sensory impingement, with nonattention to perceptions of diversity, aware that ‘space is infinite,’ a bhikkhu enters and dwells in the base of the infinity of space. This is that other kind of happiness more excellent and sublime than the previous kind of happiness.
SC 13“Though some may say, ‘This is the supreme pleasure and joy that beings experience,’ I would not concede this to them. Why is that? Because there is another kind of happiness more excellent and sublime than that happiness. And what is that other kind of happiness? Here, Ānanda, by completely transcending the base of the infinity of space, aware that ‘consciousness is infinite,’ a bhikkhu enters and dwells in the base of the infinity of consciousness. This is that other kind of happiness more excellent and sublime than the previous kind of happiness.
SC 14“Though some may say, ‘This is the supreme pleasure and joy that beings experience,’ I would not concede this to them. Why is that? Because there is another kind of happiness more excellent and sublime than that happiness. And what is that other kind of happiness? Here, Ānanda, by completely transcending the base of the infinity of consciousness, aware that ‘there is nothing,’ a bhikkhu enters and dwells in the base of nothingness. This sn.iv.228 is that other kind of happiness more excellent and sublime than the previous kind of happiness.
SC 15“Though some may say, ‘This is the supreme pleasure and joy that beings experience,’ I would not concede this to them. Why is that? Because there is another kind of happiness more excellent and sublime than that happiness. And what is that other kind of happiness? Here, Ānanda, by completely transcending the base of nothingness, a bhikkhu enters and dwells in the base of neither-perception-nor-nonperception. This is that other kind of happiness more excellent and sublime than the previous kind of happiness.
SC 16“Though some may say, ‘This is the supreme pleasure and joy that beings experience,’ I would not concede this to them. Why is that? Because there is another kind of happiness more excellent and sublime than that happiness. And what is that other kind of happiness? Here, Ānanda, by completely transcending the base of neither-perception-nor-nonperception, a bhikkhu enters and dwells in the cessation of perception and feeling. This is that other kind of happiness more excellent and sublime than the previous kind of happiness.
SC 17“Now it is possible, Ānanda, that wanderers of other sects might speak thus: ‘The ascetic Gotama speaks of the cessation of perception and feeling, and he maintains that it is included in happiness. What is that? How is that?’ When wanderers of other sects speak thus, Ānanda, they should be told: ‘The Blessed One, friends, does not describe a state as included in happiness only with reference to pleasant feeling. But rather, friends, wherever happiness is found and in whatever way, the Tathagata describes that as included in happiness.’”
S.iv,223Vi-n 1 …
Vi-n 2 Rồi người thợ mộc Pancakanga đi đến Tôn giả Udāyi; sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Udāyi rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 3 Ngồi xuống một bên, thợ mộc Pancakanga thưa với Tôn giả Udāyi:
—Thưa Tôn giả Udāyi, Thế Tôn dạy có bao nhiêu thọ?
—Có ba thọ, này Pancakanga, được Thế Tôn nói đến: lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Ba thọ này, này Pancakanga, được Thế Tôn nói đến.
Vi-n 4 Ðược nghe nói vậy, thợ mộc Pancakanga thưa với Tôn giả Udāyi:
—Thưa Tôn giả Udāyi, Thế Tôn không dạy ba thọ. Thế Tôn dạy chỉ có hai thọ: lạc thọ và khổ thọ. Còn về bất khổ bất lạc thọ này, Thế Tôn dạy thuộc vào tế nhị lạc thọ.
Vi-n 5 Lần thứ hai, Tôn giả Udāyi nói với thợ mộc Pancakanga:
—Này Pancakanga, Thế Tôn không dạy hai thọ. Thế Tôn dạy có ba thọ: lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Ba thọ này được Thế Tôn nói đến.
Lần thứ hai, thợ mộc Pancakanga thưa với Tôn giả Udāyi:
—Thưa Tôn giả Udāyi, Thế Tôn không dạy có ba thọ. Thế Tôn dạy có hai thọ: lạc thọ và khổ thọ. Còn bất khổ bất lạc thọ này, Thế Tôn dạy thuộc vào tế nhị lạc thọ.
Vi-n 6 Lần thứ ba, Tôn giả Udāyi nói với thợ mộc Pancakanga:
—Này Pancakanga, Thế Tôn không dạy hai thọ. Thế Tôn dạy có ba thọ: lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Ba thọ này được Thế Tôn nói đến.
Lần thứ ba, thợ mộc Pancakanga thưa với Tôn giả Udāyi:
—Thưa Tôn giả Udāyi, Thế Tôn không dạy có ba thọ. Thế Tôn dạy có hai thọ: lạc thọ, khổ thọ. Còn bất khổ bất lạc thọ này, Thế Tôn dạy thuộc vào tế nhị lạc thọ.
Như vậy, Tôn giả Udāyi không có thể thuyết phục được thợ mộc Pancakanga, và thợ mộc Pancakanga không thể thuyết phục được Tôn giả Udāyi.
Vi-n 7 Tôn giả Ānanda nghe được câu chuyện này giữa Tôn giả Udāyi và thợ mộc Pancakanga.
Vi-n 8 Rồi Tôn giả Ānanda đi đến Thế Tôn; sau khi đến, liền ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Tôn giả Ānanda thuật lại với Thế Tôn tất cả câu chuyện xảy ra giữa Tôn giả Udāyi và thợ mộc Pancakanga.
Vi-n 9 —Dầu thật có pháp môn (pariyàyam), này Ānanda, nhưng thợ mộc Pancakanga không tín thọ Tỷ-kheo Udāyi. Và dầu thật có pháp môn, này Ānanda, nhưng Tỷ-kheo Udāyi không tín thọ thợ mộc Pancakanga. Có hai thọ, này Ānanda, theo pháp môn giải thích của Ta. Cũng có ba thọ theo pháp giải thích của Ta. Cũng có năm thọ theo pháp môn giải thích của Ta. Cũng có sáu thọ theo pháp môn giải thích của Ta. Cũng có 16 thọ theo pháp môn giải thích của Ta. Cũng có 108 thọ theo pháp môn giải thích của Ta. Như vậy, này Ānanda, là pháp được Ta tuyên bố tùy theo pháp môn.
Vi-n 10 Này Ānanda, dầu cho như vậy là pháp được Ta tuyên bố tùy theo pháp môn, này Ānanda, những ai không chịu chấp nhận, không chịu tán đồng, không chịu tùy hỷ lời khéo nói, khéo thuyết với nhau; đối với những người ấy sẽ xảy đến như sau: Họ sẽ sống đấu tranh nhau, hủy báng nhau, tranh luận nhau với những khí giới miệng lưỡi. Như vậy là pháp được Ta tuyên bố tùy theo pháp môn. Này Ānanda, dầu cho như vậy là pháp được Ta tuyên bố tùy theo pháp môn, những ai chịu chấp nhận, chịu tán đồng, chịu tùy hỷ lời khéo nói, khéo thuyết với nhau; đối với những người ấy, sẽ xảy đến như sau: Họ sẽ sống hòa hợp, hoan hỷ với nhau, không có tranh luận nhau, như nước với sữa, sống nhìn nhau với cặp mắt từ ái.
Vi-n 11 Và này Ānanda, có năm dục công đức này. Thế nào là năm? Có những sắc do mắt nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn … Có những xúc do thân nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Này Ānanda, có năm dục công đức này. Do duyên năm dục công đức này, này Ānanda, khởi lên lạc hỷ gì, đây gọi là dục lạc.
Vi-n 12 Này Ānanda, có thể có những người nói như sau: “Ðây là lạc và hỷ tối thượng mà chúng sanh cảm thọ được”. Nhưng Ta không chấp nhận quan điểm này. Vì sao? Có lạc khác với lạc ấy, này Ānanda, còn vi diệu hơn, còn tế nhị hơn. Ở đây, này Ānanda, Tỷ-kheo ly dục, ly bất thiện pháp, chứng đạt và trú Thiền thứ nhất. Lạc này là lạc khác với lạc kia, này Ānanda, còn vi diệu hơn, còn tốt đẹp hơn.
Vi-n 13 Này Ānanda, có thể có những người nói như sau: “Ðây là lạc và hỷ tối thượng mà chúng sanh cảm thọ được”. Nhưng Ta không chấp nhận quan điểm này. Vì sao? Vì rằng có lạc khác với lạc ấy, này Ānanda, còn vi diệu hơn, còn tế nhị hơn. Và này Ānanda, thế nào là lạc khác với lạc ấy còn vi diệu hơn, còn tế nhị hơn? Ở đây, này Ānanda, Tỷ-kheo tịnh chỉ các tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tỉnh nhứt tâm. Lạc này là lạc khác với lạc kia, này Ānanda, còn vi diệu hơn, còn tế nhị hơn.
Vi-n 14 Này Ānanda, có thể có những người nói như sau: “Ðây là lạc và hỷ tối thượng mà chúng sanh cảm thọ được”. Nhưng Ta không chấp nhận quan điểm này. Vì sao? Vì rằng có lạc khác với lạc ấy, này Ānanda, còn vi diệu hơn, còn tế nhị hơn. Và này Ānanda, thế nào là lạc khác với lạc ấy còn vi diệu hơn, còn tế nhị hơn? Ở đây, này Ānanda, Tỷ-kheo ly hỷ, trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và trú Thiền thứ ba. Lạc này là lạc khác với lạc kia, này Ānanda, còn vi diệu hơn, còn tế nhị hơn.
Vi-n 15 Này Ānanda, có thể có những người nói như sau: “Ðây là lạc và hỷ tối thượng mà chúng sanh cảm thọ được”. Nhưng Ta không chấp nhận quan điểm này. Vì sao? Vì rằng có lạc khác với lạc ấy, này Ānanda, còn vi diệu hơn, còn tế nhị hơn. Và này Ānanda, thế nào là lạc khác với lạc ấy còn vi diệu hơn, còn tế nhị hơn? Ở đây, này Ānanda, Tỷ-kheo xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ từ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh. Lạc này là lạc khác với lạc kia, này Ānanda, còn vi diệu hơn, còn tế nhị hơn.
Vi-n 16 Này Ānanda, có thể có những người nói như sau: “Ðây là lạc và hỷ tối thượng mà chúng sanh cảm thọ được”. Nhưng Ta không chấp nhận quan điểm này. Vì sao? Vì rằng có lạc khác với lạc ấy, này Ānanda, còn vi diệu hơn, còn tế nhị hơn. Và này Ānanda, thế nào là lạc khác với lạc ấy còn vi diệu hơn, còn tế nhị hơn? Ở đây, này Ānanda, Tỷ-kheo vượt qua các sắc tưởng một cách hoàn toàn, chấm dứt các đối ngại tưởng, không tác ý sai biệt tưởng, biết rằng: “Hư không là vô biên”, chứng và trú Không vô biên xứ. Lạc này là lạc khác với lạc kia, này Ānanda, còn vi diệu hơn, còn tế nhị hơn.
Vi-n 17 Này Ānanda, có thể có những người nói như sau: “Ðây là lạc và hỷ tối thượng mà chúng sanh cảm thọ được”. Nhưng Ta không chấp nhận quan điểm này. Vì sao? Vì rằng có lạc khác với lạc ấy, này Ānanda, còn vi diệu hơn, còn tế nhị hơn … Ở đây, này Ānanda, Tỷ-kheo vượt qua Không vô biên xứ một cách hoàn toàn, biết rằng: “Thức là vô biên”, chứng và trú Thức vô biên xứ. Lạc này là lạc khác với lạc kia, này Ānanda, còn vi diệu hơn, còn tế nhị hơn.
Vi-n 18 Này Ānanda, có thể có những người nói như sau: “Ðây là lạc và hỷ tối thượng mà chúng sanh cảm thọ được”. Nhưng Ta không chấp nhận quan điểm này. Vì sao? Vì rằng có lạc khác với lạc ấy, này Ānanda, còn vi diệu hơn, còn tế nhị hơn … Ở đây, này Ānanda, Tỷ-kheo vượt qua Thức vô biên xứ một cách hoàn toàn, biết rằng: “Không có sở hữu gì”, chứng và trú Vô sở hữu xứ. Lạc này là lạc khác với lạc kia, này Ānanda, còn vi diệu hơn, còn tế nhị hơn.
Vi-n 19 Này Ānanda, có thể có những người nói như sau: “Ðây là lạc và hỷ tối thượng mà chúng sanh cảm thọ được”. Nhưng Ta không chấp nhận quan điểm này. Vì sao? Vì rằng có lạc khác với lạc ấy, này Ānanda, còn vi diệu hơn, còn tế nhị hơn … Ở đây, này Ānanda, Tỷ-kheo vượt qua Vô sở hữu xứ một cách hoàn toàn, chứng và trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Lạc này là lạc khác với lạc kia, này Ānanda, còn vi diệu hơn, còn tế nhị hơn.
Vi-n 20 Này Ānanda, có thể có những người nói như sau: “Ðây là lạc và hỷ tối thượng mà chúng sanh cảm thọ được”. Nhưng Ta không chấp nhận quan điểm này. Vì sao? Vì rằng có lạc khác với lạc ấy, này Ānanda, còn vi diệu hơn, còn tế nhị hơn … Ở đây, này Ānanda, Tỷ-kheo vượt qua Phi tưởng phi phi tưởng xứ một cách hoàn toàn, chứng và trú Diệt thọ tưởng định. Lạc này là lạc khác với lạc kia, này Ānanda, còn vi diệu hơn, còn tế nhị hơn.
Vi-n 21 Sự kiện này xảy ra, này Ānanda. Có các du sĩ ngoại đạo có thể hỏi như sau: “Sa-môn Gotama nói đến Diệt thọ tưởng định, và tuyên bố là Diệt thọ tưởng định ấy thuộc về lạc. Ý nghĩa này là gì và như thế nào?”. Ðược nói vậy, này Ānanda, các du sĩ ngoại đạo cần được trả lời như sau: “Này chư Hiền, Thế Tôn không tuyên bố thuộc về lạc, dựa vào lạc thọ. Nhưng chỗ nào, này chư Hiền, lạc được cảm thọ, chỗ ấy, Thế Tôn tuyên bố cảm thọ thuộc vào lạc thọ”.
Atha kho pañcakaṅgo thapati yenāyasmā udāyī tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ udāyiṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho pañcakaṅgo thapati āyasmantaṁ udāyiṁ etadavoca:
“kati nu kho, bhante udāyi, vedanā vuttā bhagavatā”ti?
“Tisso kho, thapati, vedanā vuttā bhagavatā.
Sukhā vedanā, dukkhā vedanā, adukkhamasukhā vedanā—
imā kho, thapati, tisso vedanā vuttā bhagavatā”ti.
Evaṁ vutte, pañcakaṅgo thapati āyasmantaṁ udāyiṁ etadavoca:
“na kho, bhante udāyi, tisso vedanā vuttā bhagavatā.
Dve vedanā vuttā bhagavatā—
sukhā vedanā, dukkhā vedanā.
Yāyaṁ, bhante, adukkhamasukhā vedanā, santasmiṁ esā paṇīte sukhe vuttā bhagavatā”ti.
Dutiyampi kho āyasmā udāyī pañcakaṅgaṁ thapatiṁ etadavoca:
“na kho, thapati, dve vedanā vuttā bhagavatā.
Tisso vedanā vuttā bhagavatā.
Sukhā vedanā, dukkhā vedanā, adukkhamasukhā vedanā—
imā tisso vedanā vuttā bhagavatā”ti.
Dutiyampi kho pañcakaṅgo thapati āyasmantaṁ udāyiṁ etadavoca:
“na kho, bhante udāyi, tisso vedanā vuttā bhagavatā.
Dve vedanā vuttā bhagavatā—
sukhā vedanā, dukkhā vedanā.
Yāyaṁ, bhante, adukkhamasukhā vedanā, santasmiṁ esā paṇīte sukhe vuttā bhagavatā”ti.
Tatiyampi kho āyasmā udāyī pañcakaṅgaṁ thapatiṁ etadavoca:
“na kho, thapati, dve vedanā vuttā bhagavatā.
Tisso vedanā vuttā bhagavatā.
Sukhā vedanā, dukkhā vedanā, adukkhamasukhā vedanā—
imā tisso vedanā vuttā bhagavatā”ti.
Tatiyampi kho pañcakaṅgo thapati āyasmantaṁ udāyiṁ etadavoca:
“na kho, bhante udāyi, tisso vedanā vuttā bhagavatā.
Dve vedanā vuttā bhagavatā—
sukhā vedanā, dukkhā vedanā.
Yāyaṁ, bhante, adukkhamasukhā vedanā, santasmiṁ esā paṇīte sukhe vuttā bhagavatā”ti.
Neva sakkhi āyasmā udāyī pañcakaṅgaṁ thapatiṁ saññāpetuṁ, na panāsakkhi pañcakaṅgo thapati āyasmantaṁ udāyiṁ saññāpetuṁ.
Assosi kho āyasmā ānando āyasmato udāyissa pañcakaṅgena thapatinā saddhiṁ imaṁ kathāsallāpaṁ.
Atha kho āyasmā ānando yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā ekamantaṁ nisīdi.
Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā ānando yāvatako āyasmato udāyissa pañcakaṅgena thapatinā saddhiṁ ahosi kathāsallāpo taṁ sabbaṁ bhagavato ārocesi.
“Santameva, ānanda, pariyāyaṁ pañcakaṅgo thapati udāyissa bhikkhuno nābbhanumodi;
santañca panānanda, pariyāyaṁ udāyī bhikkhu pañcakaṅgassa thapatino nābbhanumodi.
Dvepi mayā, ānanda, vedanā vuttā pariyāyena.
Tissopi mayā vedanā vuttā pariyāyena.
Pañcapi mayā vedanā vuttā pariyāyena.
Chapi mayā vedanā vuttā pariyāyena.
Aṭṭhārasāpi mayā vedanā vuttā pariyāyena.
Chattiṁsāpi mayā vedanā vuttā pariyāyena.
Aṭṭhasatampi mayā vedanā vuttā pariyāyena.
Evaṁ pariyāyadesito kho, ānanda, mayā dhammo.
Evaṁ pariyāyadesite kho, ānanda, mayā dhamme ye aññamaññassa subhāsitaṁ sulapitaṁ, na samanumaññissanti, na samanujānissanti, na samanumodissanti, tesaṁ etaṁ pāṭikaṅkhaṁ—bhaṇḍanajātā kalahajātā vivādāpannā aññamaññaṁ mukhasattīhi vitudantā viharissantīti.
Evaṁ pariyāyadesito kho, ānanda, mayā dhammo.
Evaṁ pariyāyadesite kho, ānanda, mayā dhamme ye aññamaññassa subhāsitaṁ sulapitaṁ samanumaññissanti samanujānissanti samanumodissanti, tesaṁ etaṁ pāṭikaṅkhaṁ—samaggā sammodamānā avivadamānā khīrodakībhūtā aññamaññaṁ piyacakkhūhi sampassantā viharissantīti.
Pañcime, ānanda, kāmaguṇā.
Katame pañca?
Cakkhuviññeyyā rūpā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṁhitā rajanīyā …pe…
kāyaviññeyyā phoṭṭhabbā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṁhitā rajanīyā.
Ime kho, ānanda, pañca kāmaguṇā.
Yaṁ kho, ānanda, ime pañca kāmaguṇe paṭicca uppajjati sukhaṁ somanassaṁ—
idaṁ vuccati kāmasukhaṁ.
Ye kho, ānanda, evaṁ vadeyyuṁ:
‘etapparamaṁ santaṁ sukhaṁ somanassaṁ paṭisaṁvedentī’ti—
idaṁ nesāhaṁ nānujānāmi.
Taṁ kissa hetu?
Atthānanda, etamhā sukhā aññaṁ sukhaṁ abhikkantatarañca paṇītatarañca.
Katamañcānanda, etamhā sukhā aññaṁ sukhaṁ abhikkantatarañca paṇītatarañca?
Idhānanda, bhikkhu vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
Idaṁ kho, ānanda, etamhā sukhā aññaṁ sukhaṁ abhikkantatarañca paṇītatarañca.
Ye kho, ānanda, evaṁ vadeyyuṁ:
‘etapparamaṁ santaṁ sukhaṁ somanassaṁ paṭisaṁvedentī’ti—
idaṁ nesāhaṁ nānujānāmi.
Taṁ kissa hetu?
Atthānanda, etamhā sukhā aññaṁ sukhaṁ abhikkantatarañca paṇītatarañca.
Katamañcānanda, etamhā sukhā aññaṁ sukhaṁ abhikkantatarañca paṇītatarañca?
Idhānanda, bhikkhu, vitakkavicārānaṁ vūpasamā ajjhattaṁ sampasādanaṁ cetaso ekodibhāvaṁ avitakkaṁ avicāraṁ samādhijaṁ pītisukhaṁ dutiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
Idaṁ kho, ānanda, etamhā sukhā aññaṁ sukhaṁ abhikkantatarañca paṇītatarañca.
Ye kho, ānanda, evaṁ vadeyyuṁ:
‘etapparamaṁ santaṁ sukhaṁ somanassaṁ paṭisaṁvedentī’ti—
idaṁ nesāhaṁ nānujānāmi.
Taṁ kissa hetu?
Atthānanda, etamhā sukhā aññaṁ sukhaṁ abhikkantatarañca paṇītatarañca.
Katamañcānanda, etamhā sukhā aññaṁ sukhaṁ abhikkantatarañca paṇītatarañca?
Idhānanda, bhikkhu pītiyā ca virāgā upekkhako ca viharati sato ca sampajāno, sukhañca kāyena paṭisaṁvedeti, yaṁ taṁ ariyā ācikkhanti: ‘upekkhako satimā sukhavihārī’ti tatiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
Idaṁ kho, ānanda, etamhā sukhā aññaṁ sukhaṁ abhikkantatarañca paṇītatarañca.
Ye kho, ānanda, evaṁ vadeyyuṁ:
‘etapparamaṁ santaṁ sukhaṁ somanassaṁ paṭisaṁvedentī’ti—
idaṁ nesāhaṁ nānujānāmi.
Taṁ kissa hetu?
Atthānanda, etamhā sukhā aññaṁ sukhaṁ abhikkantatarañca paṇītatarañca.
Katamañcānanda, etamhā sukhā aññaṁ sukhaṁ abhikkantatarañca paṇītatarañca?
Idhānanda, bhikkhu sukhassa ca pahānā dukkhassa ca pahānā pubbeva somanassadomanassānaṁ atthaṅgamā adukkhamasukhaṁ upekkhāsatipārisuddhiṁ catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
Idaṁ kho, ānanda, etamhā sukhā aññaṁ sukhaṁ abhikkantatarañca paṇītatarañca.
Ye kho, ānanda, evaṁ vadeyyuṁ:
‘etapparamaṁ santaṁ sukhaṁ somanassaṁ paṭisaṁvedentī’ti—
idaṁ nesāhaṁ nānujānāmi.
Taṁ kissa hetu?
Atthānanda, etamhā sukhā aññaṁ sukhaṁ abhikkantatarañca paṇītatarañca.
Katamañcānanda, etamhā sukhā aññaṁ sukhaṁ abhikkantatarañca paṇītatarañca?
Idhānanda, bhikkhu sabbaso rūpasaññānaṁ samatikkamā, paṭighasaññānaṁ atthaṅgamā, nānattasaññānaṁ amanasikārā, ‘ananto ākāso’ti ākāsānañcāyatanaṁ upasampajja viharati.
Idaṁ kho, ānanda, etamhā sukhā aññaṁ sukhaṁ abhikkantatarañca paṇītatarañca.
Ye kho, ānanda, evaṁ vadeyyuṁ:
‘etapparamaṁ santaṁ sukhaṁ somanassaṁ paṭisaṁvedentī’ti—
idaṁ nesāhaṁ nānujānāmi.
Taṁ kissa hetu?
Atthānanda, etamhā sukhā aññaṁ sukhaṁ abhikkantatarañca paṇītatarañca.
Katamañcānanda, etamhā sukhā aññaṁ sukhaṁ abhikkantatarañca paṇītatarañca?
Idhānanda, bhikkhu sabbaso ākāsānañcāyatanaṁ samatikkamma, ‘anantaṁ viññāṇan’ti viññāṇañcāyatanaṁ upasampajja viharati.
Idaṁ kho, ānanda, etamhā sukhā aññaṁ sukhaṁ abhikkantatarañca paṇītatarañca.
Ye kho, ānanda, evaṁ vadeyyuṁ:
‘etapparamaṁ santaṁ sukhaṁ somanassaṁ paṭisaṁvedentī’ti—
idaṁ nesāhaṁ nānujānāmi.
Taṁ kissa hetu?
Atthānanda, etamhā sukhā aññaṁ sukhaṁ abhikkantatarañca paṇītatarañca.
Katamañcānanda, etamhā sukhā aññaṁ sukhaṁ abhikkantatarañca paṇītatarañca?
Idhānanda, bhikkhu sabbaso viññāṇañcāyatanaṁ samatikkamma, ‘natthi kiñcī’ti ākiñcaññāyatanaṁ upasampajja viharati.
Idaṁ kho, ānanda, etamhā sukhā aññaṁ sukhaṁ abhikkantatarañca paṇītatarañca.
Ye kho, ānanda, evaṁ vadeyyuṁ:
‘etapparamaṁ santaṁ sukhaṁ somanassaṁ paṭisaṁvedentī’ti—
idaṁ nesāhaṁ nānujānāmi.
Taṁ kissa hetu?
Atthānanda, etamhā sukhā aññaṁ sukhaṁ abhikkantatarañca paṇītatarañca.
Katamañcānanda, etamhā sukhā aññaṁ sukhaṁ abhikkantatarañca paṇītatarañca?
Idhānanda, bhikkhu sabbaso ākiñcaññāyatanaṁ samatikkamma nevasaññānāsaññāyatanaṁ upasampajja viharati.
Idaṁ kho, ānanda, etamhā sukhā aññaṁ sukhaṁ abhikkantatarañca paṇītatarañca.
Ye kho, ānanda, evaṁ vadeyyuṁ:
‘etapparamaṁ santaṁ sukhaṁ somanassaṁ paṭisaṁvedentī’ti—
idaṁ nesāhaṁ nānujānāmi.
Taṁ kissa hetu?
Atthānanda, etamhā sukhā aññaṁ sukhaṁ abhikkantatarañca paṇītatarañca.
Katamañcānanda, etamhā sukhā aññaṁ sukhaṁ abhikkantatarañca paṇītatarañca?
Idhānanda, bhikkhu sabbaso nevasaññānāsaññāyatanaṁ samatikkamma saññāvedayitanirodhaṁ upasampajja viharati.
Idaṁ kho, ānanda, etamhā sukhā aññaṁ sukhaṁ abhikkantatarañca paṇītatarañca.
Ṭhānaṁ kho panetaṁ, ānanda, vijjati yaṁ aññatitthiyā paribbājakā evaṁ vadeyyuṁ:
‘saññāvedayitanirodhaṁ samaṇo gotamo āha, tañca sukhasmiṁ paññapeti.
Tayidaṁ kiṁsu, tayidaṁ kathaṁsū’ti?
Evaṁvādino, ānanda, aññatitthiyā paribbājakā evamassu vacanīyā:
‘na kho, āvuso, bhagavā sukhaññeva vedanaṁ sandhāya sukhasmiṁ paññapeti.
Yattha yattha, āvuso, sukhaṁ upalabbhati, yahiṁ yahiṁ, taṁ taṁ tathāgato sukhasmiṁ paññapetī’”ti.
Navamaṁ.