Vi-n 1 Một thời Thế Tôn trú ở Sāvatthi, Jetavana, tại vườn ông Anāthapiṇḍika.
Vi-n 2 Lúc bấy giờ, Sānu, con một nữ cư sĩ bị Dạ-xoa ám ảnh.
Vi-n 3 Nữ cư sĩ ấy than khóc, ngay lúc ấy nói lên bài kệ này:
Con ta là La-hán,
Ðối với ta là vậy,
Và chính ta được nghe,
Vị La-hán nói vậy.
Nay ta thấy Sānu,
Bị Dạ-xoa ám ảnh.
Ngày mười bốn, mười lăm,
Và ngày tám nửa tháng,
Cả ngày lễ đặc biệt,
Khéo tu tám trai giới,
Tuân trì lễ Bố-tát.
Và chính ta được nghe,
Vị La-hán nói vậy,
Nay ta thấy Sānu,
Bị Dạ-xoa ám ảnh.
Ngày mười bốn, mười lăm,
Và ngày tám nửa tháng,
Cả ngày lễ đặc biệt,
Khéo tu tám trai giới,
Tuân trì lễ Bố-tát.
Những ai sống Phạm hạnh,
Dạ-xoa không ám ảnh,
Và chính ta được nghe,
Vị La-hán nói vậy.
Người nói với Sānu,
Có trí và sáng suốt,
Ðây là lời Dạ-xoa,
Chớ có làm điều ác,
Công khai hay bí mật.
Nếu người làm điều ác,
Sẽ làm hay đang làm,
Ông không thoát khổ đau,
Dầu có đứng lên chạy,
Chạy một mạch, chạy dài.
Vi-n 4 (Sānu được khỏi ám ảnh):
Này mẹ, người ta khóc,
Là khóc cho người chết,
Hay khóc cho người sống,
Nhưng không được thấy mặt?
Này mẹ, chúng thấy con,
Hiện có mặt đang sống.
Vậy sao mẹ khóc con,
Này người mẹ thân yêu?
Vi-n 5 (Bà mẹ):
Người ta khóc cho con,
Là khóc cho con chết,
Hay khóc cho con sống,
Nhưng không được thấy mặt.
Ai đã bỏ dục vọng,
Lại trở lui đời này,
Này con, người ta khóc,
Là khóc cho người ấy,
Vì người ấy được xem,
Còn sống cũng như chết.
Nay con được kéo ra,
Khỏi than hừng đỏ rực,
Con còn muốn rơi vào,
Ðống than hồng ấy chăng?
Nay con được thoát ra,
Khỏi địa ngục đau khổ,
Con còn muốn rơi vào,
Cõi địa ngục ấy chăng?
Hãy dong ruổi đời con,
Ta chúc con hạnh phúc,
Hãy sống như thế nào,
Không làm ai bực phiền.
Ðồ vật thoát lửa cháy,
Con muốn đốt lại chăng?
Ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Tena kho pana samayena aññatarissā upāsikāya sānu nāma putto yakkhena gahito hoti.
Atha kho sā upāsikā paridevamānā tāyaṁ velāyaṁ imā gāthāyo abhāsi:
“Cātuddasiṁ pañcadasiṁ,
yā ca pakkhassa aṭṭhamī;
Pāṭihāriyapakkhañca,
aṭṭhaṅgasusamāgataṁ.
Uposathaṁ upavasanti,
brahmacariyaṁ caranti ye;
Na tehi yakkhā kīḷanti,
iti me arahataṁ sutaṁ;
Sā dāni ajja passāmi,
yakkhā kīḷanti sānunā”ti.
“Cātuddasiṁ pañcadasiṁ,
yā ca pakkhassa aṭṭhamī;
Pāṭihāriyapakkhañca,
aṭṭhaṅgasusamāgataṁ;
Uposathaṁ upavasanti,
brahmacariyaṁ caranti ye.
Na tehi yakkhā kīḷanti,
sāhu te arahataṁ sutaṁ;
Sānuṁ pabuddhaṁ vajjāsi,
yakkhānaṁ vacanaṁ idaṁ;
Mākāsi pāpakaṁ kammaṁ,
āvi vā yadi vā raho.
Sace ca pāpakaṁ kammaṁ,
karissasi karosi vā;
Na te dukkhā pamutyatthi,
uppaccāpi palāyato”ti.
“Mataṁ vā amma rodanti,
yo vā jīvaṁ na dissati;
Jīvantaṁ amma passantī,
kasmā maṁ amma rodasī”ti.
“Mataṁ vā putta rodanti,
yo vā jīvaṁ na dissati;
Yo ca kāme cajitvāna,
punarāgacchate idha;
Taṁ vāpi putta rodanti,
puna jīvaṁ mato hi so.
Kukkuḷā ubbhato tāta,
kukkuḷaṁ patitumicchasi;
Narakā ubbhato tāta,
narakaṁ patitumicchasi.
Abhidhāvatha bhaddante,
kassa ujjhāpayāmase;
Ādittā nīhataṁ bhaṇḍaṁ,
puna ḍayhitumicchasī”ti.
At one time the Buddha was staying near Sāvatthī in Jeta’s Grove, Anāthapiṇḍika’s monastery.
Now at that time a certain lay woman had a son named Sānu who had been seized by a native spirit.
And as that lay woman wept, on that occasion she recited these verses:
“I have heard this from the perfected ones.
The native spirits will not mess with anyone
who leads the spiritual life
by observing the sabbath
complete in all eight factors
on the fourteenth and the fifteenth days,
and the eighth day of the fortnight,
as well as on the fortnight of special displays.
But now today I see
native spirits messing with Sānu.”
“What you heard from the perfected ones is right.
The native spirits will not mess with anyone
who leads the spiritual life
by observing the sabbath
complete in all eight factors
on the fourteenth and the fifteenth days,
and the eighth day of the fortnight,
as well as on the fortnight of special displays.
When Sānu regains consciousness tell him
this saying of the native spirits:
Don’t do bad deeds
either openly or in secret.
If you should do a bad deed,
or you’re doing one now,
you won’t be freed from suffering,
though you fly away and flee.”
“Mum, they cry for the dead,
or for one who’s alive but missing.
I’m alive and you can see me,
so mum, why do you weep for me?”
“Son, they cry for the dead,
or for one who’s alive but missing.
But someone who has given up sensual pleasures
only to come back here again:
they cry for them as well,
for though still alive they’re really dead.
My dear, you’ve been rescued from hot coals,
and you want to plunge right back in them!
My dear, you’ve been rescued from the abyss,
and you want to plunge right back there!
Hurry up, good luck to you!
To whom should we complain?
A valuable saved from a fire,
you want to burn again!”