Vi-n 1 Tại Sāvatthi, Jetavana.
Vi-n 2 Tại đây … Thế Tôn nói như sau:
Vi-n 3 —Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, có một Dạ-xoa xấu xí, thấp lùn, bụng to (Okotimako), đến ngồi trên chỗ ngồi của Thiên chủ Sakka.
Vi-n 4 Ở đây, này các Tỷ-kheo, chư Thiên ở Tam thập tam thiên bực tức, chán ghét, phẫn uất: “Thật vi diệu thay! Thật hy hữu thay! Tên Dạ-xoa xấu xí, thấp lùn, bụng to lại đến ngồi trên chỗ ngồi của Thiên chủ Sakka!”.
Vi-n 5 Này các Tỷ-kheo, chư Thiên ở Tam thập tam thiên càng bực tức, chán ghét, phẫn uất bao nhiêu, thời Dạ-xoa ấy càng đẹp hơn, càng dễ nhìn, càng dễ thương bấy nhiêu.
Vi-n 6 Rồi này các Tỷ-kheo, chư Thiên ở Tam thập tam thiên đi đến Thiên chủ Sakka; sau khi đến, nói với Thiên chủ Sakka:
Vi-n 7 “—Ở đây, này Tôn giả, có một Dạ-xoa xấu xí, thấp lùn, bụng to đến ngồi trên chỗ ngồi của Ngài. Ở đây, này Tôn giả, chư Thiên ở Tam thập tam thiên, bực tức, chán ghét, phẫn uất: “Thật vi diệu thay! Thật hy hữu thay! Dạ-xoa này xấu xí, thấp lùn, bụng to lại đến ngồi trên chỗ ngồi của Thiên chủ Sakka!”. Nhưng này Tôn giả, chư Thiên ở Tam thập tam thiên càng bực tức, chán ghét, phẫn uất bao nhiêu, thời Dạ-xoa xấu xí, thấp lùn, bụng to ấy càng tốt đẹp, càng dễ nhìn và càng dễ thương bấy nhiêu. Thưa Tôn giả, có phải Dạ-xoa ấy sẽ trở thành Dạ-xoa nuôi dưỡng với phẫn nộ?”
Vi-n 8 Rồi này các Tỷ-kheo, Thiên chủ Sakka đi đến Dạ-xoa nuôi dưỡng bằng phẫn nộ ấy; sau khi đến đắp thượng y vào một bên vai, đầu gối phải quỳ trên đất, chấp tay vái Dạ-xoa nuôi dưỡng với phẫn nộ và nói lên tên của mình ba lần: “Thưa Tôn giả, tôi là Thiên chủ Sakka! Thưa Tôn giả, tôi là Thiên chủ Sakka!”.
Vi-n 9 Này các Tỷ-kheo, Thiên chủ Sakka càng nói lên tên của mình bao nhiêu thời Dạ-xoa ấy càng trở thành xấu xí, thấp lùn, bụng to bấy nhiêu; và sau khi trở thành càng xấu xí, càng thấp lùn, bụng to hơn, vị ấy biến mất tại chỗ ấy.
Vi-n 10 Này các Tỷ-kheo, Thiên chủ Sakka, sau khi ngồi xuống trên chỗ ngồi của mình, làm cho hòa dịu chư Thiên ở Tam thập tam thiên, ngay lúc ấy, nói lên những bài kệ này:
Tâm ta không dễ dàng,
Ðể cho bị thất trận,
Không dễ bị lôi kéo,
Trong xoáy nước dục tình.
Người biết đã từ lâu,
Ta không còn phẫn nộ,
Phẫn nộ không chân đứng
Một chỗ nào trong ta.
Ta không nói ác ngữ,
Vì phẫn nộ giận hờn,
Và không có khen tặng,
Những đức tánh của ta.
Thấy được lợi ích mình,
Ta tự thân chế ngự.
Sāvatthiyaṁ jetavane.
Tatra kho …pe… etadavoca:
“bhūtapubbaṁ, bhikkhave, aññataro yakkho dubbaṇṇo okoṭimako sakkassa devānamindassa āsane nisinno ahosi.
Tatra sudaṁ, bhikkhave, devā tāvatiṁsā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti:
‘acchariyaṁ vata bho, abbhutaṁ vata bho.
Ayaṁ yakkho dubbaṇṇo okoṭimako sakkassa devānamindassa āsane nisinno’ti.
Yathā yathā kho, bhikkhave, devā tāvatiṁsā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti tathā tathā so yakkho abhirūpataro ceva hoti dassanīyataro ca pāsādikataro ca.
Atha kho, bhikkhave, devā tāvatiṁsā yena sakko devānamindo tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā sakkaṁ devānamindaṁ etadavocuṁ:
‘idha te, mārisa, aññataro yakkho dubbaṇṇo okoṭimako sakkassa devānamindassa āsane nisinno.
Tatra sudaṁ, mārisa, devā tāvatiṁsā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti:
“acchariyaṁ vata bho, abbhutaṁ vata bho.
Ayaṁ yakkho dubbaṇṇo okoṭimako sakkassa devānamindassa āsane nisinno”ti.
Yathā yathā kho, mārisa, devā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti tathā tathā so yakkho abhirūpataro ceva hoti dassanīyataro ca pāsādikataro cāti.
So hi nūna, mārisa, kodhabhakkho yakkho bhavissatī’ti.
Atha kho, bhikkhave, sakko devānamindo yena so kodhabhakkho yakkho tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ karitvā dakkhiṇajāṇumaṇḍalaṁ pathaviyaṁ nihantvā yena so kodhabhakkho yakkho tenañjaliṁ paṇāmetvā tikkhattuṁ nāmaṁ sāveti:
‘sakkohaṁ, mārisa, devānamindo, sakkohaṁ, mārisa, devānamindo’ti.
Yathā yathā kho, bhikkhave, sakko devānamindo nāmaṁ sāvesi tathā tathā so yakkho dubbaṇṇataro ceva ahosi okoṭimakataro ca.
Dubbaṇṇataro ceva hutvā okoṭimakataro ca tatthevantaradhāyīti.
Atha kho, bhikkhave, sakko devānamindo sake āsane nisīditvā deve tāvatiṁse anunayamāno tāyaṁ velāyaṁ imā gāthāyo abhāsi:
‘Na sūpahatacittomhi,
nāvattena suvānayo;
Na vo cirāhaṁ kujjhāmi,
kodho mayi nāvatiṭṭhati.
Kuddhāhaṁ na pharusaṁ brūmi,
Na ca dhammāni kittaye;
Sanniggaṇhāmi attānaṁ,
Sampassaṁ atthamattano’”ti.
SC 1At Savatthī in Jeta’s Grove. There the Blessed One said this: “Bhikkhus, once in the past a certain ugly deformed yakkha sat down on the seat of Sakka, lord of the devas. Thereupon the Tavatiṁsa devas found fault with this, grumbled, and complained about it, saying: ‘It is wonderful indeed, sir! It is amazing indeed, sir! This ugly deformed yakkha has sat down on the seat of Sakka, lord of the devas!’ But to whatever extent the Tavatiṁsa devas found fault with this, grumbled, and complained about it, to the same extent that yakkha became more and more handsome, more and more comely, more and more graceful.
SC 2“Then, bhikkhus, the Tavatiṁsa devas approached Sakka and said to him: ‘Here, dear sir, an ugly deformed yakkha has sat down on your seat…. But to whatever extent the devas found fault with this … sn.i.238 that yakkha became more and more handsome, more and more comely, more and more graceful.’—‘That must be the anger-eating yakkha.’
SC 3“Then, bhikkhus, Sakka, lord of the devas, approached that anger-eating yakkha. Having approached, he arranged his upper robe over one shoulder, knelt down with his right knee on the ground, and, raising his joined hands in reverential salutation towards that yakkha, he announced his name three times: ‘I, dear sir, am Sakka, lord of the devas! I, dear sir, am Sakka, lord of the devas!’ To whatever extent Sakka announced his name, to the same extent that yakkha became uglier and uglier and more and more deformed until he disappeared right there.
SC 4“Then, bhikkhus, having sat down on his own seat, instructing the Tavatiṁsa devas, Sakka, lord of the devas, on that occasion recited these verses:
SC 5 “‘I am not one afflicted in mind,
Nor easily drawn by anger’s whirl.
I never become angry for long,
Nor does anger persist in me.
SC 6 “‘When I’m angry I don’t speak harshly
And I don’t praise my virtues.
I keep myself well restrained
Out of regard for my own good.’”
Vi-n 1 Tại Sāvatthi, Jetavana.
Vi-n 2 Tại đây … Thế Tôn nói như sau:
Vi-n 3 —Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, có một Dạ-xoa xấu xí, thấp lùn, bụng to (Okotimako), đến ngồi trên chỗ ngồi của Thiên chủ Sakka.
Vi-n 4 Ở đây, này các Tỷ-kheo, chư Thiên ở Tam thập tam thiên bực tức, chán ghét, phẫn uất: “Thật vi diệu thay! Thật hy hữu thay! Tên Dạ-xoa xấu xí, thấp lùn, bụng to lại đến ngồi trên chỗ ngồi của Thiên chủ Sakka!”.
Vi-n 5 Này các Tỷ-kheo, chư Thiên ở Tam thập tam thiên càng bực tức, chán ghét, phẫn uất bao nhiêu, thời Dạ-xoa ấy càng đẹp hơn, càng dễ nhìn, càng dễ thương bấy nhiêu.
Vi-n 6 Rồi này các Tỷ-kheo, chư Thiên ở Tam thập tam thiên đi đến Thiên chủ Sakka; sau khi đến, nói với Thiên chủ Sakka:
Vi-n 7 “—Ở đây, này Tôn giả, có một Dạ-xoa xấu xí, thấp lùn, bụng to đến ngồi trên chỗ ngồi của Ngài. Ở đây, này Tôn giả, chư Thiên ở Tam thập tam thiên, bực tức, chán ghét, phẫn uất: “Thật vi diệu thay! Thật hy hữu thay! Dạ-xoa này xấu xí, thấp lùn, bụng to lại đến ngồi trên chỗ ngồi của Thiên chủ Sakka!”. Nhưng này Tôn giả, chư Thiên ở Tam thập tam thiên càng bực tức, chán ghét, phẫn uất bao nhiêu, thời Dạ-xoa xấu xí, thấp lùn, bụng to ấy càng tốt đẹp, càng dễ nhìn và càng dễ thương bấy nhiêu. Thưa Tôn giả, có phải Dạ-xoa ấy sẽ trở thành Dạ-xoa nuôi dưỡng với phẫn nộ?”
Vi-n 8 Rồi này các Tỷ-kheo, Thiên chủ Sakka đi đến Dạ-xoa nuôi dưỡng bằng phẫn nộ ấy; sau khi đến đắp thượng y vào một bên vai, đầu gối phải quỳ trên đất, chấp tay vái Dạ-xoa nuôi dưỡng với phẫn nộ và nói lên tên của mình ba lần: “Thưa Tôn giả, tôi là Thiên chủ Sakka! Thưa Tôn giả, tôi là Thiên chủ Sakka!”.
Vi-n 9 Này các Tỷ-kheo, Thiên chủ Sakka càng nói lên tên của mình bao nhiêu thời Dạ-xoa ấy càng trở thành xấu xí, thấp lùn, bụng to bấy nhiêu; và sau khi trở thành càng xấu xí, càng thấp lùn, bụng to hơn, vị ấy biến mất tại chỗ ấy.
Vi-n 10 Này các Tỷ-kheo, Thiên chủ Sakka, sau khi ngồi xuống trên chỗ ngồi của mình, làm cho hòa dịu chư Thiên ở Tam thập tam thiên, ngay lúc ấy, nói lên những bài kệ này:
Tâm ta không dễ dàng,
Ðể cho bị thất trận,
Không dễ bị lôi kéo,
Trong xoáy nước dục tình.
Người biết đã từ lâu,
Ta không còn phẫn nộ,
Phẫn nộ không chân đứng
Một chỗ nào trong ta.
Ta không nói ác ngữ,
Vì phẫn nộ giận hờn,
Và không có khen tặng,
Những đức tánh của ta.
Thấy được lợi ích mình,
Ta tự thân chế ngự.
Sāvatthiyaṁ jetavane.
Tatra kho …pe… etadavoca:
“bhūtapubbaṁ, bhikkhave, aññataro yakkho dubbaṇṇo okoṭimako sakkassa devānamindassa āsane nisinno ahosi.
Tatra sudaṁ, bhikkhave, devā tāvatiṁsā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti:
‘acchariyaṁ vata bho, abbhutaṁ vata bho.
Ayaṁ yakkho dubbaṇṇo okoṭimako sakkassa devānamindassa āsane nisinno’ti.
Yathā yathā kho, bhikkhave, devā tāvatiṁsā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti tathā tathā so yakkho abhirūpataro ceva hoti dassanīyataro ca pāsādikataro ca.
Atha kho, bhikkhave, devā tāvatiṁsā yena sakko devānamindo tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā sakkaṁ devānamindaṁ etadavocuṁ:
‘idha te, mārisa, aññataro yakkho dubbaṇṇo okoṭimako sakkassa devānamindassa āsane nisinno.
Tatra sudaṁ, mārisa, devā tāvatiṁsā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti:
“acchariyaṁ vata bho, abbhutaṁ vata bho.
Ayaṁ yakkho dubbaṇṇo okoṭimako sakkassa devānamindassa āsane nisinno”ti.
Yathā yathā kho, mārisa, devā ujjhāyanti khiyyanti vipācenti tathā tathā so yakkho abhirūpataro ceva hoti dassanīyataro ca pāsādikataro cāti.
So hi nūna, mārisa, kodhabhakkho yakkho bhavissatī’ti.
Atha kho, bhikkhave, sakko devānamindo yena so kodhabhakkho yakkho tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ karitvā dakkhiṇajāṇumaṇḍalaṁ pathaviyaṁ nihantvā yena so kodhabhakkho yakkho tenañjaliṁ paṇāmetvā tikkhattuṁ nāmaṁ sāveti:
‘sakkohaṁ, mārisa, devānamindo, sakkohaṁ, mārisa, devānamindo’ti.
Yathā yathā kho, bhikkhave, sakko devānamindo nāmaṁ sāvesi tathā tathā so yakkho dubbaṇṇataro ceva ahosi okoṭimakataro ca.
Dubbaṇṇataro ceva hutvā okoṭimakataro ca tatthevantaradhāyīti.
Atha kho, bhikkhave, sakko devānamindo sake āsane nisīditvā deve tāvatiṁse anunayamāno tāyaṁ velāyaṁ imā gāthāyo abhāsi:
‘Na sūpahatacittomhi,
nāvattena suvānayo;
Na vo cirāhaṁ kujjhāmi,
kodho mayi nāvatiṭṭhati.
Kuddhāhaṁ na pharusaṁ brūmi,
Na ca dhammāni kittaye;
Sanniggaṇhāmi attānaṁ,
Sampassaṁ atthamattano’”ti.