Vi-n 1-2. Nhân duyên ở Sāvatthi.
Vi-n 3 —Này các Tỷ-kheo, các Bà-la-môn trình bày một đạo lộ hướng thượng (udayagàminim). Họ khuyến khích các đệ tử như sau: “Hãy đến, này các Ông! Sáng sớm dậy, hãy đi hướng mặt về phía Ðông. Chớ có tránh những lỗ hổng, lỗ trũng, khúc cây, chỗ có gai, hố nước nhớp, chớ có tránh đường mương. Nếu có rơi vào các chỗ ấy và đi đến chết, như vậy, này các Ông, sau khi thân hoại mạng chung, các Ông sẽ sanh lên thiện thú, thiên giới, cõi đời này”.
Vi-n 4 Nhưng này các Tỷ-kheo, con đường ấy của các Bà-la-môn là con đường của kẻ ngu, con đường của kẻ si, không đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Này các Tỷ-kheo, nay Ta trình bày một đạo lộ hướng thượng trong luật của bậc Thánh, và con đường ấy nhứt hướng đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Và này các Tỷ-kheo, đạo lộ hướng thượng ấy là gì, đạo lộ đưa đến nhứt hướng yếm ly … Niết-bàn?
Vi-n 5 Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử thành tựu lòng tin bất động đối với đức Phật: “Ðây là bậc Ứng Cúng, … ” … đối với pháp … đối với chúng Tăng … Vị ấy thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính … đưa đến Thiền định.
Vi-n 6 Ðây là đạo lộ đưa đến hướng thượng, này các Tỷ-kheo, … nhứt hướng yếm ly … đưa đến Niết-bàn.
Sāvatthinidānaṁ.
“Brāhmaṇā, bhikkhave, udayagāminiṁ nāma paṭipadaṁ paññapenti.
Te sāvakaṁ evaṁ samādapenti:
‘ehi tvaṁ, ambho purisa, kālasseva uṭṭhāya pācīnamukho yāhi.
So tvaṁ mā sobbhaṁ parivajjehi, mā papātaṁ, mā khāṇuṁ, mā kaṇḍakaṭhānaṁ, mā candaniyaṁ, mā oḷigallaṁ.
Yattha papateyyāsi tattheva maraṇaṁ āgameyyāsi.
Evaṁ tvaṁ, ambho purisa, kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjissasī’ti.
Taṁ kho panetaṁ, bhikkhave, brāhmaṇānaṁ bālagamanametaṁ mūḷhagamanametaṁ na nibbidāya na virāgāya na nirodhāya na upasamāya na abhiññāya na sambodhāya na nibbānāya saṁvattati.
Ahañca kho, bhikkhave, ariyassa vinaye udayagāminiṁ paṭipadaṁ paññāpemi;
yā ekantanibbidāya virāgāya nirodhāya upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṁvattati.
Katamā ca sā, bhikkhave, udayagāminī paṭipadā;
yā ekantanibbidāya …pe… nibbānāya saṁvattati?
Idha, bhikkhave, ariyasāvako buddhe aveccappasādena samannāgato hoti—
itipi so bhagavā arahaṁ sammāsambuddho …pe… satthā devamanussānaṁ buddho bhagavāti;
dhamme …pe…
saṅghe …pe…
ariyakantehi sīlehi samannāgato hoti akhaṇḍehi …pe… samādhisaṁvattanikehi.
Ayaṁ kho sā, bhikkhave, udayagāminī paṭipadā ekantanibbidāya …pe…
nibbānāya saṁvattatī”ti.
Dutiyaṁ.
At Sāvatthī.
“Mendicants, the brahmins advocate a practice called ‘get up and go’.
They encourage their disciples:
‘Please, good people, rising early you should face east and walk.
Do not avoid a pit, a cliff, a stump, thorny ground, a swamp, or a sewer.
You should await death in the place that you fall.
And when your body breaks up, after death, you’ll be reborn in a good place, a heaven realm.’
But this practice of the brahmins is a foolish procedure, a stupid procedure. It doesn’t lead to disillusionment, dispassion, cessation, peace, insight, awakening, or extinguishment.
But in the training of the Noble One I advocate a ‘get up and go’ practice
which does lead solely to disillusionment, dispassion, cessation, peace, insight, awakening, and extinguishment.
And what is that ‘get up and go’ practice?
It’s when a noble disciple has experiential confidence in the Buddha …
the teaching …
the Saṅgha …
And they have the ethical conduct loved by the noble ones … leading to immersion.
This is that ‘get up and go’ practice
which does lead solely to disillusionment, dispassion, cessation, peace, insight, awakening, and extinguishment.”
Vi-n 1-2. Nhân duyên ở Sāvatthi.
Vi-n 3 —Này các Tỷ-kheo, các Bà-la-môn trình bày một đạo lộ hướng thượng (udayagàminim). Họ khuyến khích các đệ tử như sau: “Hãy đến, này các Ông! Sáng sớm dậy, hãy đi hướng mặt về phía Ðông. Chớ có tránh những lỗ hổng, lỗ trũng, khúc cây, chỗ có gai, hố nước nhớp, chớ có tránh đường mương. Nếu có rơi vào các chỗ ấy và đi đến chết, như vậy, này các Ông, sau khi thân hoại mạng chung, các Ông sẽ sanh lên thiện thú, thiên giới, cõi đời này”.
Vi-n 4 Nhưng này các Tỷ-kheo, con đường ấy của các Bà-la-môn là con đường của kẻ ngu, con đường của kẻ si, không đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Này các Tỷ-kheo, nay Ta trình bày một đạo lộ hướng thượng trong luật của bậc Thánh, và con đường ấy nhứt hướng đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Và này các Tỷ-kheo, đạo lộ hướng thượng ấy là gì, đạo lộ đưa đến nhứt hướng yếm ly … Niết-bàn?
Vi-n 5 Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử thành tựu lòng tin bất động đối với đức Phật: “Ðây là bậc Ứng Cúng, … ” … đối với pháp … đối với chúng Tăng … Vị ấy thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính … đưa đến Thiền định.
Vi-n 6 Ðây là đạo lộ đưa đến hướng thượng, này các Tỷ-kheo, … nhứt hướng yếm ly … đưa đến Niết-bàn.
Sāvatthinidānaṁ.
“Brāhmaṇā, bhikkhave, udayagāminiṁ nāma paṭipadaṁ paññapenti.
Te sāvakaṁ evaṁ samādapenti:
‘ehi tvaṁ, ambho purisa, kālasseva uṭṭhāya pācīnamukho yāhi.
So tvaṁ mā sobbhaṁ parivajjehi, mā papātaṁ, mā khāṇuṁ, mā kaṇḍakaṭhānaṁ, mā candaniyaṁ, mā oḷigallaṁ.
Yattha papateyyāsi tattheva maraṇaṁ āgameyyāsi.
Evaṁ tvaṁ, ambho purisa, kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjissasī’ti.
Taṁ kho panetaṁ, bhikkhave, brāhmaṇānaṁ bālagamanametaṁ mūḷhagamanametaṁ na nibbidāya na virāgāya na nirodhāya na upasamāya na abhiññāya na sambodhāya na nibbānāya saṁvattati.
Ahañca kho, bhikkhave, ariyassa vinaye udayagāminiṁ paṭipadaṁ paññāpemi;
yā ekantanibbidāya virāgāya nirodhāya upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṁvattati.
Katamā ca sā, bhikkhave, udayagāminī paṭipadā;
yā ekantanibbidāya …pe… nibbānāya saṁvattati?
Idha, bhikkhave, ariyasāvako buddhe aveccappasādena samannāgato hoti—
itipi so bhagavā arahaṁ sammāsambuddho …pe… satthā devamanussānaṁ buddho bhagavāti;
dhamme …pe…
saṅghe …pe…
ariyakantehi sīlehi samannāgato hoti akhaṇḍehi …pe… samādhisaṁvattanikehi.
Ayaṁ kho sā, bhikkhave, udayagāminī paṭipadā ekantanibbidāya …pe…
nibbānāya saṁvattatī”ti.
Dutiyaṁ.