Vi-n 1 Nhân duyên ở Sāvatthi.
Vi-n 2 —Này các Tỷ-kheo, Ta muốn sống Thiền định trong nửa tháng, không có ai đến yết kiến Ta, trừ độc nhất người mang đồ ăn khất thực.
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Như vậy, không một ai đến yết kiến Thế Tôn, trừ một người người mang đồ ăn khất thực lại.
Vi-n 3 Rồi Thế Tôn sau nửa tháng, từ chỗ Thiền tịnh đứng dậy và gọi các Tỷ-kheo:
—Với sự an trú, Ta đã trú khi Ta mới chứng Chánh đẳng Chánh giác, nhưng Ta chỉ trú một phần thôi.
Vi-n 4 Như vậy, Ta rõ biết những gì được cảm thọ do duyên tà kiến, những gì được cảm thọ do duyên chánh kiến … những gì được cảm thọ do duyên tà định, những gì được cảm thọ do duyên chánh định, những gì được cảm thọ do duyên ước muốn (chanda), những gì được cảm thọ do duyên tầm (vitakka), những gì được cảm thọ do duyên tưởng (sannà).
Vi-n 5 Khi ước muốn không tịnh chỉ, thời tầm không tịnh chỉ, tưởng không tịnh chỉ; do duyên như vậy, có được những cảm thọ. Và khi ước muốn được tịnh chỉ, nhưng tầm chưa được tịnh chỉ, tưởng chưa được tịnh chỉ; do duyên như vậy, có được những cảm thọ. Và khi ước muốn được tịnh chỉ, tầm được tịnh chỉ, nhưng tưởng chưa được tịnh chỉ, do duyên như vậy, có được những cảm thọ. Và khi ước muốn được tịnh chỉ, tầm được tịnh chỉ, tưởng được tịnh chỉ, do duyên như vậy, có được những cảm thọ.
Vi-n 6 Ðối với người chưa chứng đạt, cần phải tinh tấn để được chứng đạt. Trong trường hợp đã được chứng đạt; do duyên như vậy, có được những cảm thọ.
Sāvatthinidānaṁ.
“Icchāmahaṁ, bhikkhave, aḍḍhamāsaṁ paṭisallīyituṁ.
Namhi kenaci upasaṅkamitabbo, aññatra ekena piṇḍapātanīhārakenā”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho te bhikkhū bhagavato paṭissutvā nāssudha koci bhagavantaṁ upasaṅkamati, aññatra ekena piṇḍapātanīhārakena.
Atha kho bhagavā tassa aḍḍhamāsassa accayena paṭisallānā vuṭṭhito bhikkhū āmantesi:
“yena svāhaṁ, bhikkhave, vihārena paṭhamābhisambuddho viharāmi, tassa padesena vihāsiṁ.
So evaṁ pajānāmi:
‘micchādiṭṭhipaccayāpi vedayitaṁ;
sammādiṭṭhipaccayāpi vedayitaṁ …pe…
micchāsamādhipaccayāpi vedayitaṁ;
sammāsamādhipaccayāpi vedayitaṁ;
chandapaccayāpi vedayitaṁ;
vitakkapaccayāpi vedayitaṁ;
saññāpaccayāpi vedayitaṁ;
chando ca avūpasanto hoti, vitakko ca avūpasanto hoti, saññā ca avūpasantā hoti, tappaccayāpi vedayitaṁ;
chando ca vūpasanto hoti, vitakko ca vūpasanto hoti, saññā ca vūpasantā hoti, tappaccayāpi vedayitaṁ;
appattassa pattiyā atthi āyāmaṁ, tasmimpi ṭhāne anuppatte tappaccayāpi vedayitan’”ti.
Paṭhamaṁ.
SC 1At Savatthī. “Bhikkhus, I wish to go into seclusion for half a month. I should not be approached by anyone except the one who brings me almsfood.”
SC 2“Yes, venerable sir,” those bhikkhus replied, and no one approached the Blessed One except the one who brought him almsfood.
SC 3Then, when that half-month had passed, the Blessed One emerged from seclusion and addressed the bhikkhus thus:
SC 4“Bhikkhus, I have been dwelling in part of the abode in which I dwelt just after I became fully enlightened. I have understood thus: ‘There is feeling with wrong view as condition, also feeling with right view as condition…. There is feeling with wrong concentration as condition, also feeling with right concentration as condition. There is feeling with desire as condition, also feeling with thought as condition, also feeling with perception as condition.
SC 5“‘When desire has not subsided, and thought has not subsided, and perception has not subsided, there is feeling with that as condition. [When desire has subsided, and thoughts have not subsided, sn.v.13 and perceptions have not subsided, there is also feeling with that as condition. When desire has subsided, and thoughts have subsided, and perceptions have not subsided, there is also feeling with that as condition.] When desire has subsided, and thought has subsided, and perception has subsided, there is also feeling with that as condition. There is effort for the attainment of the as-yet-unattained. When that stage has been reached, there is also feeling with that as condition.’”
Vi-n 1 Nhân duyên ở Sāvatthi.
Vi-n 2 —Này các Tỷ-kheo, Ta muốn sống Thiền định trong nửa tháng, không có ai đến yết kiến Ta, trừ độc nhất người mang đồ ăn khất thực.
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Như vậy, không một ai đến yết kiến Thế Tôn, trừ một người người mang đồ ăn khất thực lại.
Vi-n 3 Rồi Thế Tôn sau nửa tháng, từ chỗ Thiền tịnh đứng dậy và gọi các Tỷ-kheo:
—Với sự an trú, Ta đã trú khi Ta mới chứng Chánh đẳng Chánh giác, nhưng Ta chỉ trú một phần thôi.
Vi-n 4 Như vậy, Ta rõ biết những gì được cảm thọ do duyên tà kiến, những gì được cảm thọ do duyên chánh kiến … những gì được cảm thọ do duyên tà định, những gì được cảm thọ do duyên chánh định, những gì được cảm thọ do duyên ước muốn (chanda), những gì được cảm thọ do duyên tầm (vitakka), những gì được cảm thọ do duyên tưởng (sannà).
Vi-n 5 Khi ước muốn không tịnh chỉ, thời tầm không tịnh chỉ, tưởng không tịnh chỉ; do duyên như vậy, có được những cảm thọ. Và khi ước muốn được tịnh chỉ, nhưng tầm chưa được tịnh chỉ, tưởng chưa được tịnh chỉ; do duyên như vậy, có được những cảm thọ. Và khi ước muốn được tịnh chỉ, tầm được tịnh chỉ, nhưng tưởng chưa được tịnh chỉ, do duyên như vậy, có được những cảm thọ. Và khi ước muốn được tịnh chỉ, tầm được tịnh chỉ, tưởng được tịnh chỉ, do duyên như vậy, có được những cảm thọ.
Vi-n 6 Ðối với người chưa chứng đạt, cần phải tinh tấn để được chứng đạt. Trong trường hợp đã được chứng đạt; do duyên như vậy, có được những cảm thọ.
Sāvatthinidānaṁ.
“Icchāmahaṁ, bhikkhave, aḍḍhamāsaṁ paṭisallīyituṁ.
Namhi kenaci upasaṅkamitabbo, aññatra ekena piṇḍapātanīhārakenā”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho te bhikkhū bhagavato paṭissutvā nāssudha koci bhagavantaṁ upasaṅkamati, aññatra ekena piṇḍapātanīhārakena.
Atha kho bhagavā tassa aḍḍhamāsassa accayena paṭisallānā vuṭṭhito bhikkhū āmantesi:
“yena svāhaṁ, bhikkhave, vihārena paṭhamābhisambuddho viharāmi, tassa padesena vihāsiṁ.
So evaṁ pajānāmi:
‘micchādiṭṭhipaccayāpi vedayitaṁ;
sammādiṭṭhipaccayāpi vedayitaṁ …pe…
micchāsamādhipaccayāpi vedayitaṁ;
sammāsamādhipaccayāpi vedayitaṁ;
chandapaccayāpi vedayitaṁ;
vitakkapaccayāpi vedayitaṁ;
saññāpaccayāpi vedayitaṁ;
chando ca avūpasanto hoti, vitakko ca avūpasanto hoti, saññā ca avūpasantā hoti, tappaccayāpi vedayitaṁ;
chando ca vūpasanto hoti, vitakko ca vūpasanto hoti, saññā ca vūpasantā hoti, tappaccayāpi vedayitaṁ;
appattassa pattiyā atthi āyāmaṁ, tasmimpi ṭhāne anuppatte tappaccayāpi vedayitan’”ti.
Paṭhamaṁ.