Vi-n 1 Một thời, Thế Tôn trú ở giữa dân chúng họ Thích, tại Kapilavatthu, khu vườn các cây bàng.
Vi-n 2 Lúc bấy giờ, nhiều Tỷ-kheo đang làm y cho Thế Tôn, nghĩ rằng khi y làm xong, Thế Tôn sau ba tháng sẽ đi du hành.
Vi-n 3 Họ Thích Mahānāma được nghe: “Nhiều Tỷ-kheo đang làm y cho Thế Tôn và họ nghĩ rằng: “Khi y làm xong, Thế Tôn sau ba tháng sẽ đi du hành” ”. Rồi họ Thích Mahānāma đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, họ Thích Mahānāma bạch Thế Tôn:
Vi-n 4 —Bạch Thế Tôn, con được nghe nhiều Tỷ-kheo đang làm y cho Thế Tôn và họ nghĩ rằng: “Sau khi y làm xong, Thế Tôn sau ba tháng sẽ ra đi du hành”. Chúng con chưa được tự thân nghe từ Thế Tôn, tự thân lãnh thọ từ Thế Tôn điều này. Bạch Thế Tôn, một cư sĩ có trí bị bệnh, đau đớn, bị trọng bệnh, cần phải được một cư sĩ có trí giáo giới như thế nào?
Vi-n 5 —Này Mahānāma, một cư sĩ có trí bị bệnh, đau đớn, bị trọng bệnh, cần phải được an ủi với bốn pháp an ủi như sau (assàsaniya dhamma): Tôn giả hãy yên tâm, với lòng tịnh tín bất động của Tôn giả đối với đức Phật: “Ðây là bậc Ứng Cúng … Phật, Thế Tôn”. Tôn giả hãy yên tâm, với lòng tịnh tín bất động của Tôn giả đối với Pháp … Tôn giả hãy yên tâm, với lòng tịnh tín bất động của của Tôn giả đối với chúng Tăng … Tôn giả hãy yên tâm, với các giới của Tôn giả được các bậc Thánh ái kính … đưa đến Thiền định.
Vi-n 6 Một cư sĩ có trí bị bệnh, đau đớn, bị trọng bệnh, này Mahānāma, phải được một cư sĩ có trí giáo giới với bốn pháp an ủi này. Cần phải nói như vậy.
Vi-n 7 Tôn giả ấy có lòng thương nhớ cha mẹ. Nếu vị ấy nói: “Tôi còn có lòng thương nhớ cha mẹ”, thời nên nói với vị ấy như sau: “Thưa Tôn giả, Tôn giả thế nào cũng phải chết. Dầu Tôn giả có lòng thương nhớ cha mẹ, Tôn giả cũng sẽ chết. Dầu Tôn giả không có lòng thương nhớ cha mẹ, Tôn giả cũng sẽ chết. Vậy tốt hơn là Tôn giả hãy từ bỏ lòng thương nhớ đối với cha mẹ của Tôn giả”.
Vi-n 8 Nếu vị ấy nói như sau: “Lòng thương nhớ của tôi đối với cha mẹ, lòng thương nhớ ấy đã được đoạn tận”, vị ấy cần phải được nói như sau: “Tôn giả có lòng thương nhớ vợ con hay không?” Nếu vị ấy nói: “Tôi có lòng thương nhớ vợ con”, thời vị ấy cần phải được nói như sau: “Tôn giả thế nào cũng chết. Dầu Tôn giả có lòng thương nhớ vợ con, Tôn giả cũng sẽ chết. Dầu Tôn giả không có lòng thương nhớ vợ con, Tôn giả cũng sẽ chết. Vậy tốt hơn là Tôn giả hãy từ bỏ lòng thương nhớ đối với vợ con của Tôn giả”.
Vi-n 9 Nếu vị ấy nói như sau: “Lòng thương nhớ của tôi đối với vợ con, lòng thương nhớ ấy đã được đoạn tận”, vị ấy cần phải được nói như sau: “Tôn giả có lòng thương tiếc năm dục công đức của loài Người không?” Nếu vị ấy nói như sau: “Tôi có lòng thương nhớ năm dục công đức của loài Người”, vị ấy cần phải được nói như sau: “Các Thiên dục đối với nhân dục, còn hấp dẫn hơn, còn thù diệu hơn. Vậy tốt hơn Tôn giả hãy từ bỏ tâm khỏi các nhân dục, và hướng tâm đến Tứ đại thiên vương thiên”.
Vi-n 10 Nếu vị ấy nói như sau: “Tâm tôi đã từ bỏ nhân dục và hướng đến Tứ đại thiên vương thiên”, vị ấy cần được nói như sau: “Chư Thiên ở cõi Ba mươi ba còn hấp dẫn hơn, còn thù diệu hơn Tứ đại thiên vương thiên. Tốt hơn Tôn giả hãy từ bỏ tâm khỏi Tứ đại thiên vương thiên và hướng tâm đến chư Thiên ở cõi trời Ba mươi ba”.
Vi-n 11-16. Nếu vị ấy nói như sau: “Tâm tôi đã từ bỏ Tứ đại thiên vương thiên và hướng đến chư Thiên ở cõi trời Ba mươi ba”, vị ấy cần được nói như sau: “Chư Thiên Yamà, chư Thiên Tusità, chư Thiên Hóa lạc thiên, chư Thiên Tha hóa tự tại thiên còn hấp dẫn hơn, còn thù diệu hơn chư Thiên ở cõi trời Ba mươi ba”.
Vi-n 17 … “Chư Thiên ở Phạm thế còn hấp dẫn hơn, còn thù diệu hơn chư Thiên ở Tha hóa tự tại thiên. Tốt hơn Tôn giả từ bỏ tâm khỏi chư Thiên Tha hóa tự tại thiên và hướng tâm đến Phạm thế, Phạm thiên giới”.
Vi-n 18 Nếu vị ấy nói như sau: “Tâm tôi đã từ bỏ chư Thiên Tha hóa tự tại thiên và hướng tâm về chư Thiên ở Phạm thế”, thời vị ấy cần phải được nói như sau: “Này Tôn giả, Phạm thiên giới là vô thường, không thường hằng, bị thân kiến giới hạn. Tốt hơn là Tôn giả hãy từ bỏ tâm khỏi Phạm thế và hướng tâm đến đoạn diệt thân kiến (Sakkāya)”.
Vi-n 19 Nếu vị ấy nói như sau: “Tâm tôi đã từ bỏ Phạm thế và hướng đến đoạn diệt thân kiến”; vị cư sĩ nói như vậy, này Mahànàama, và với Tỷ-kheo có tâm giải thoát khỏi các lậu hoặc, Ta nói rằng không có gì sai biệt, tức là về phương diện giải thoát.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā sakkesu viharati kapilavatthusmiṁ nigrodhārāme.
Tena kho pana samayena sambahulā bhikkhū bhagavato cīvarakammaṁ karonti:
“niṭṭhitacīvaro bhagavā temāsaccayena cārikaṁ pakkamissatī”ti.
Assosi kho mahānāmo sakko:
“sambahulā kira bhikkhū bhagavato cīvarakammaṁ karonti:
‘niṭṭhitacīvaro bhagavā temāsaccayena cārikaṁ pakkamissatī’”ti.
Atha kho mahānāmo sakko yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho mahānāmo sakko bhagavantaṁ etadavoca:
“sutametaṁ, bhante:
‘sambahulā kira bhikkhū bhagavato cīvarakammaṁ karonti—
niṭṭhitacīvaro bhagavā temāsaccayena cārikaṁ pakkamissatī’ti.
Na kho netaṁ, bhante, bhagavato sammukhā sutaṁ sammukhā paṭiggahitaṁ
sappaññena upāsakena sappañño upāsako ābādhiko dukkhito bāḷhagilāno ovaditabbo”ti.
“Sappaññena, mahānāma, upāsakena sappañño upāsako ābādhiko dukkhito bāḷhagilāno catūhi assāsanīyehi dhammehi assāsetabbo:
‘assāsatāyasmā—
atthāyasmato buddhe aveccappasādo itipi so bhagavā …pe… satthā devamanussānaṁ buddho bhagavāti.
Assāsatāyasmā—
atthāyasmato dhamme …pe…
saṅghe …pe…
ariyakantāni sīlāni akhaṇḍāni …pe… samādhisaṁvattanikānī’ti.
Sappaññena, mahānāma, upāsakena sappañño upāsako ābādhiko dukkhito bāḷhagilāno imehi catūhi assāsanīyehi dhammehi assāsetvā evamassa vacanīyo:
‘atthāyasmato mātāpitūsu apekkhā’ti?
So ce evaṁ vadeyya:
‘atthi me mātāpitūsu apekkhā’ti, so evamassa vacanīyo:
‘āyasmā kho māriso maraṇadhammo.
Sacepāyasmā mātāpitūsu apekkhaṁ karissati, marissateva;
no cepāyasmā mātāpitūsu apekkhaṁ karissati, marissateva.
Sādhāyasmā, yā te mātāpitūsu apekkhā taṁ pajahā’ti.
So ce evaṁ vadeyya:
‘yā me mātāpitūsu apekkhā sā pahīnā’ti, so evamassa vacanīyo:
‘atthi panāyasmato puttadāresu apekkhā’ti?
So ce evaṁ vadeyya:
‘atthi me puttadāresu apekkhā’ti, so evamassa vacanīyo:
‘āyasmā kho māriso maraṇadhammo.
Sacepāyasmā puttadāresu apekkhaṁ karissati, marissateva;
no cepāyasmā puttadāresu apekkhaṁ karissati, marissateva.
Sādhāyasmā, yā te puttadāresu apekkhā taṁ pajahā’ti.
So ce evaṁ vadeyya:
‘yā me puttadāresu apekkhā sā pahīnā’ti, so evamassa vacanīyo:
‘atthi panāyasmato mānusakesu pañcasu kāmaguṇesu apekkhā’ti?
So ce evaṁ vadeyya:
‘atthi me mānusakesu pañcasu kāmaguṇesu apekkhā’ti, so evamassa vacanīyo:
‘mānusakehi kho, āvuso, kāmehi dibbā kāmā abhikkantatarā ca paṇītatarā ca.
Sādhāyasmā, mānusakehi kāmehi cittaṁ vuṭṭhāpetvā cātumahārājikesu devesu cittaṁ adhimocehī’ti.
So ce evaṁ vadeyya:
‘mānusakehi me kāmehi cittaṁ vuṭṭhitaṁ, cātumahārājikesu devesu cittaṁ adhimocitan’ti, so evamassa vacanīyo:
‘cātumahārājikehi kho, āvuso, devehi tāvatiṁsā devā abhikkantatarā ca paṇītatarā ca.
Sādhāyasmā, cātumahārājikehi devehi cittaṁ vuṭṭhāpetvā tāvatiṁsesu devesu cittaṁ adhimocehī’ti.
So ce evaṁ vadeyya:
‘cātumahārājikehi me devehi cittaṁ vuṭṭhitaṁ, tāvatiṁsesu devesu cittaṁ adhimocitan’ti, so evamassa vacanīyo:
‘tāvatiṁsehi kho, āvuso, devehi yāmā devā …pe…
tusitā devā …pe…
nimmānaratī devā …pe…
paranimmitavasavattī devā …pe…
paranimmitavasavattīhi kho, āvuso, devehi brahmaloko abhikkantataro ca paṇītataro ca.
Sādhāyasmā, paranimmitavasavattīhi devehi cittaṁ vuṭṭhāpetvā brahmaloke cittaṁ adhimocehī’ti.
So ce evaṁ vadeyya:
‘paranimmitavasavattīhi me devehi cittaṁ vuṭṭhitaṁ, brahmaloke cittaṁ adhimocitan’ti, so evamassa vacanīyo:
‘brahmalokopi kho, āvuso, anicco addhuvo sakkāyapariyāpanno.
Sādhāyasmā, brahmalokā cittaṁ vuṭṭhāpetvā sakkāyanirodhe cittaṁ upasaṁharāhī’ti.
So ce evaṁ vadeyya:
‘brahmalokā me cittaṁ vuṭṭhitaṁ, sakkāyanirodhe cittaṁ upasaṁharāmī’ti;
evaṁ vimuttacittassa kho, mahānāma, upāsakassa āsavā vimuttacittena bhikkhunā na kiñci nānākaraṇaṁ vadāmi, yadidaṁ—
vimuttiyā vimuttan”ti.
Catutthaṁ.
At one time the Buddha was staying in the land of the Sakyans, near Kapilavatthu in the Banyan Tree Monastery.
At that time several mendicants were making a robe for the Buddha, thinking that
when his robe was finished and the three months of the rains residence had passed the Buddha would set out wandering.
Mahānāma the Sakyan heard about this.
Then he went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and told him that he had heard that the Buddha was leaving. He added,
“Sir, I haven’t heard and learned it in the presence of the Buddha
how a wise lay follower should advise another wise lay follower who is sick, suffering, gravely ill.”
“Mahānāma, a wise lay follower should put at ease another wise lay follower who is sick, suffering, gravely ill with four consolations.
‘Be at ease, sir.
You have experiential confidence in the Buddha …
the teaching …
the Saṅgha …
And you have the ethical conduct loved by the noble ones … leading to immersion.’
When a wise lay follower has put at ease another wise lay follower who is sick, suffering, gravely ill with these four consolations, they should say:
‘Are you concerned for your mother and father?’
If they reply,
‘I am,’ they should say:
‘But sir, it’s your nature to die.
Whether or not you are concerned for your mother and father,
you will die anyway.
It would be good to give up concern for your mother and father.’
If they reply,
‘I have given up concern for my mother and father,’ they should say:
‘But are you concerned for your partners and children?’
If they reply,
‘I am,’ they should say:
‘But sir, it’s your nature to die.
Whether or not you are concerned for your partners and children,
you will die anyway.
It would be good to give up concern for your partners and children.’
If they reply,
‘I have given up concern for my partners and children,’ they should say:
‘But are you concerned for the five kinds of human sensual stimulation?’
If they reply,
‘I am,’ they should say:
‘Respectable sir, heavenly sensual pleasures are better than human sensual pleasures.
It would be good to turn your mind away from human sensual pleasures and focus it on the gods of the four great kings.’
If they reply,
‘I have done so,’ they should say:
‘Respectable sir, the gods of the thirty-three are better than the gods of the four great kings …
Respectable sir, the gods of Yama …
the joyful gods …
the gods who love to create …
the gods who control what is created by others …
the gods of the realm of divinity are better than the gods who control what is created by others.
It would be good to turn your mind away from the gods who control what is created by others and focus it on the gods of the realm of divinity.’
If they reply,
‘I have done so,’ they should say:
‘Respectable sir, the realm of divinity is impermanent, not lasting, and included within substantial reality.
It would be good to turn your mind away from the realm of divinity and apply it to the cessation of substantial reality.’
If they reply,
‘I have done so,’
then there is no difference between a lay follower whose mind is freed in this way and a mendicant whose mind is freed from defilements; that is,
between the freedom of one and the other.”
Vi-n 1 Một thời, Thế Tôn trú ở giữa dân chúng họ Thích, tại Kapilavatthu, khu vườn các cây bàng.
Vi-n 2 Lúc bấy giờ, nhiều Tỷ-kheo đang làm y cho Thế Tôn, nghĩ rằng khi y làm xong, Thế Tôn sau ba tháng sẽ đi du hành.
Vi-n 3 Họ Thích Mahānāma được nghe: “Nhiều Tỷ-kheo đang làm y cho Thế Tôn và họ nghĩ rằng: “Khi y làm xong, Thế Tôn sau ba tháng sẽ đi du hành” ”. Rồi họ Thích Mahānāma đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, họ Thích Mahānāma bạch Thế Tôn:
Vi-n 4 —Bạch Thế Tôn, con được nghe nhiều Tỷ-kheo đang làm y cho Thế Tôn và họ nghĩ rằng: “Sau khi y làm xong, Thế Tôn sau ba tháng sẽ ra đi du hành”. Chúng con chưa được tự thân nghe từ Thế Tôn, tự thân lãnh thọ từ Thế Tôn điều này. Bạch Thế Tôn, một cư sĩ có trí bị bệnh, đau đớn, bị trọng bệnh, cần phải được một cư sĩ có trí giáo giới như thế nào?
Vi-n 5 —Này Mahānāma, một cư sĩ có trí bị bệnh, đau đớn, bị trọng bệnh, cần phải được an ủi với bốn pháp an ủi như sau (assàsaniya dhamma): Tôn giả hãy yên tâm, với lòng tịnh tín bất động của Tôn giả đối với đức Phật: “Ðây là bậc Ứng Cúng … Phật, Thế Tôn”. Tôn giả hãy yên tâm, với lòng tịnh tín bất động của Tôn giả đối với Pháp … Tôn giả hãy yên tâm, với lòng tịnh tín bất động của của Tôn giả đối với chúng Tăng … Tôn giả hãy yên tâm, với các giới của Tôn giả được các bậc Thánh ái kính … đưa đến Thiền định.
Vi-n 6 Một cư sĩ có trí bị bệnh, đau đớn, bị trọng bệnh, này Mahānāma, phải được một cư sĩ có trí giáo giới với bốn pháp an ủi này. Cần phải nói như vậy.
Vi-n 7 Tôn giả ấy có lòng thương nhớ cha mẹ. Nếu vị ấy nói: “Tôi còn có lòng thương nhớ cha mẹ”, thời nên nói với vị ấy như sau: “Thưa Tôn giả, Tôn giả thế nào cũng phải chết. Dầu Tôn giả có lòng thương nhớ cha mẹ, Tôn giả cũng sẽ chết. Dầu Tôn giả không có lòng thương nhớ cha mẹ, Tôn giả cũng sẽ chết. Vậy tốt hơn là Tôn giả hãy từ bỏ lòng thương nhớ đối với cha mẹ của Tôn giả”.
Vi-n 8 Nếu vị ấy nói như sau: “Lòng thương nhớ của tôi đối với cha mẹ, lòng thương nhớ ấy đã được đoạn tận”, vị ấy cần phải được nói như sau: “Tôn giả có lòng thương nhớ vợ con hay không?” Nếu vị ấy nói: “Tôi có lòng thương nhớ vợ con”, thời vị ấy cần phải được nói như sau: “Tôn giả thế nào cũng chết. Dầu Tôn giả có lòng thương nhớ vợ con, Tôn giả cũng sẽ chết. Dầu Tôn giả không có lòng thương nhớ vợ con, Tôn giả cũng sẽ chết. Vậy tốt hơn là Tôn giả hãy từ bỏ lòng thương nhớ đối với vợ con của Tôn giả”.
Vi-n 9 Nếu vị ấy nói như sau: “Lòng thương nhớ của tôi đối với vợ con, lòng thương nhớ ấy đã được đoạn tận”, vị ấy cần phải được nói như sau: “Tôn giả có lòng thương tiếc năm dục công đức của loài Người không?” Nếu vị ấy nói như sau: “Tôi có lòng thương nhớ năm dục công đức của loài Người”, vị ấy cần phải được nói như sau: “Các Thiên dục đối với nhân dục, còn hấp dẫn hơn, còn thù diệu hơn. Vậy tốt hơn Tôn giả hãy từ bỏ tâm khỏi các nhân dục, và hướng tâm đến Tứ đại thiên vương thiên”.
Vi-n 10 Nếu vị ấy nói như sau: “Tâm tôi đã từ bỏ nhân dục và hướng đến Tứ đại thiên vương thiên”, vị ấy cần được nói như sau: “Chư Thiên ở cõi Ba mươi ba còn hấp dẫn hơn, còn thù diệu hơn Tứ đại thiên vương thiên. Tốt hơn Tôn giả hãy từ bỏ tâm khỏi Tứ đại thiên vương thiên và hướng tâm đến chư Thiên ở cõi trời Ba mươi ba”.
Vi-n 11-16. Nếu vị ấy nói như sau: “Tâm tôi đã từ bỏ Tứ đại thiên vương thiên và hướng đến chư Thiên ở cõi trời Ba mươi ba”, vị ấy cần được nói như sau: “Chư Thiên Yamà, chư Thiên Tusità, chư Thiên Hóa lạc thiên, chư Thiên Tha hóa tự tại thiên còn hấp dẫn hơn, còn thù diệu hơn chư Thiên ở cõi trời Ba mươi ba”.
Vi-n 17 … “Chư Thiên ở Phạm thế còn hấp dẫn hơn, còn thù diệu hơn chư Thiên ở Tha hóa tự tại thiên. Tốt hơn Tôn giả từ bỏ tâm khỏi chư Thiên Tha hóa tự tại thiên và hướng tâm đến Phạm thế, Phạm thiên giới”.
Vi-n 18 Nếu vị ấy nói như sau: “Tâm tôi đã từ bỏ chư Thiên Tha hóa tự tại thiên và hướng tâm về chư Thiên ở Phạm thế”, thời vị ấy cần phải được nói như sau: “Này Tôn giả, Phạm thiên giới là vô thường, không thường hằng, bị thân kiến giới hạn. Tốt hơn là Tôn giả hãy từ bỏ tâm khỏi Phạm thế và hướng tâm đến đoạn diệt thân kiến (Sakkāya)”.
Vi-n 19 Nếu vị ấy nói như sau: “Tâm tôi đã từ bỏ Phạm thế và hướng đến đoạn diệt thân kiến”; vị cư sĩ nói như vậy, này Mahànàama, và với Tỷ-kheo có tâm giải thoát khỏi các lậu hoặc, Ta nói rằng không có gì sai biệt, tức là về phương diện giải thoát.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā sakkesu viharati kapilavatthusmiṁ nigrodhārāme.
Tena kho pana samayena sambahulā bhikkhū bhagavato cīvarakammaṁ karonti:
“niṭṭhitacīvaro bhagavā temāsaccayena cārikaṁ pakkamissatī”ti.
Assosi kho mahānāmo sakko:
“sambahulā kira bhikkhū bhagavato cīvarakammaṁ karonti:
‘niṭṭhitacīvaro bhagavā temāsaccayena cārikaṁ pakkamissatī’”ti.
Atha kho mahānāmo sakko yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho mahānāmo sakko bhagavantaṁ etadavoca:
“sutametaṁ, bhante:
‘sambahulā kira bhikkhū bhagavato cīvarakammaṁ karonti—
niṭṭhitacīvaro bhagavā temāsaccayena cārikaṁ pakkamissatī’ti.
Na kho netaṁ, bhante, bhagavato sammukhā sutaṁ sammukhā paṭiggahitaṁ
sappaññena upāsakena sappañño upāsako ābādhiko dukkhito bāḷhagilāno ovaditabbo”ti.
“Sappaññena, mahānāma, upāsakena sappañño upāsako ābādhiko dukkhito bāḷhagilāno catūhi assāsanīyehi dhammehi assāsetabbo:
‘assāsatāyasmā—
atthāyasmato buddhe aveccappasādo itipi so bhagavā …pe… satthā devamanussānaṁ buddho bhagavāti.
Assāsatāyasmā—
atthāyasmato dhamme …pe…
saṅghe …pe…
ariyakantāni sīlāni akhaṇḍāni …pe… samādhisaṁvattanikānī’ti.
Sappaññena, mahānāma, upāsakena sappañño upāsako ābādhiko dukkhito bāḷhagilāno imehi catūhi assāsanīyehi dhammehi assāsetvā evamassa vacanīyo:
‘atthāyasmato mātāpitūsu apekkhā’ti?
So ce evaṁ vadeyya:
‘atthi me mātāpitūsu apekkhā’ti, so evamassa vacanīyo:
‘āyasmā kho māriso maraṇadhammo.
Sacepāyasmā mātāpitūsu apekkhaṁ karissati, marissateva;
no cepāyasmā mātāpitūsu apekkhaṁ karissati, marissateva.
Sādhāyasmā, yā te mātāpitūsu apekkhā taṁ pajahā’ti.
So ce evaṁ vadeyya:
‘yā me mātāpitūsu apekkhā sā pahīnā’ti, so evamassa vacanīyo:
‘atthi panāyasmato puttadāresu apekkhā’ti?
So ce evaṁ vadeyya:
‘atthi me puttadāresu apekkhā’ti, so evamassa vacanīyo:
‘āyasmā kho māriso maraṇadhammo.
Sacepāyasmā puttadāresu apekkhaṁ karissati, marissateva;
no cepāyasmā puttadāresu apekkhaṁ karissati, marissateva.
Sādhāyasmā, yā te puttadāresu apekkhā taṁ pajahā’ti.
So ce evaṁ vadeyya:
‘yā me puttadāresu apekkhā sā pahīnā’ti, so evamassa vacanīyo:
‘atthi panāyasmato mānusakesu pañcasu kāmaguṇesu apekkhā’ti?
So ce evaṁ vadeyya:
‘atthi me mānusakesu pañcasu kāmaguṇesu apekkhā’ti, so evamassa vacanīyo:
‘mānusakehi kho, āvuso, kāmehi dibbā kāmā abhikkantatarā ca paṇītatarā ca.
Sādhāyasmā, mānusakehi kāmehi cittaṁ vuṭṭhāpetvā cātumahārājikesu devesu cittaṁ adhimocehī’ti.
So ce evaṁ vadeyya:
‘mānusakehi me kāmehi cittaṁ vuṭṭhitaṁ, cātumahārājikesu devesu cittaṁ adhimocitan’ti, so evamassa vacanīyo:
‘cātumahārājikehi kho, āvuso, devehi tāvatiṁsā devā abhikkantatarā ca paṇītatarā ca.
Sādhāyasmā, cātumahārājikehi devehi cittaṁ vuṭṭhāpetvā tāvatiṁsesu devesu cittaṁ adhimocehī’ti.
So ce evaṁ vadeyya:
‘cātumahārājikehi me devehi cittaṁ vuṭṭhitaṁ, tāvatiṁsesu devesu cittaṁ adhimocitan’ti, so evamassa vacanīyo:
‘tāvatiṁsehi kho, āvuso, devehi yāmā devā …pe…
tusitā devā …pe…
nimmānaratī devā …pe…
paranimmitavasavattī devā …pe…
paranimmitavasavattīhi kho, āvuso, devehi brahmaloko abhikkantataro ca paṇītataro ca.
Sādhāyasmā, paranimmitavasavattīhi devehi cittaṁ vuṭṭhāpetvā brahmaloke cittaṁ adhimocehī’ti.
So ce evaṁ vadeyya:
‘paranimmitavasavattīhi me devehi cittaṁ vuṭṭhitaṁ, brahmaloke cittaṁ adhimocitan’ti, so evamassa vacanīyo:
‘brahmalokopi kho, āvuso, anicco addhuvo sakkāyapariyāpanno.
Sādhāyasmā, brahmalokā cittaṁ vuṭṭhāpetvā sakkāyanirodhe cittaṁ upasaṁharāhī’ti.
So ce evaṁ vadeyya:
‘brahmalokā me cittaṁ vuṭṭhitaṁ, sakkāyanirodhe cittaṁ upasaṁharāmī’ti;
evaṁ vimuttacittassa kho, mahānāma, upāsakassa āsavā vimuttacittena bhikkhunā na kiñci nānākaraṇaṁ vadāmi, yadidaṁ—
vimuttiyā vimuttan”ti.
Catutthaṁ.