Vi-n 1 Một thời, nhiều Tỷ-kheo trú giữa dân chúng Kosala tại một khu rừng.
Vi-n 2 Các Tỷ-kheo ấy an cư mùa mưa xong, sau ba tháng, bắt đầu đi du hành.
Vi-n 3 Một vị Thiên trú ở khu rừng ấy, không thấy các Tỷ-kheo ấy, liền than van, ưu buồn, ngay lúc ấy nói lên bài kệ này:
Hôm nay tâm của ta,
Cảm thấy không vui vẻ,
Khi thấy nhiều chỗ ngồi,
Trống không, không có người.
Những bậc Ða văn ấy,
Thuyết pháp thật mỹ diệu.
Ðệ tử Gotama,
Hiện nay đang ở đâu?
Vi-n 4 Khi nghe nói vậy, một vị Thiên khác nói lên những bài kệ cho vị Thiên ấy:
Họ đi Magadha,
Họ đi Kosala,
Và một số vị ấy,
Ði đến đất Vajjà.
Như nai thoát bẫy sập,
Chạy nhảy khắp bốn phương.
Tỷ-kheo không nhà cửa,
Sống giải thoát như vậy.
Ekaṁ samayaṁ sambahulā bhikkhū kosalesu viharanti aññatarasmiṁ vanasaṇḍe.
Atha kho te bhikkhū vassaṁvuṭṭhā temāsaccayena cārikaṁ pakkamiṁsu.
Atha kho yā tasmiṁ vanasaṇḍe adhivatthā devatā te bhikkhū apassantī paridevamānā tāyaṁ velāyaṁ imaṁ gāthaṁ abhāsi:
“Arati viya mejja khāyati,
Bahuke disvāna vivitte āsane;
Te cittakathā bahussutā,
Kome gotamasāvakā gatā”ti.
Evaṁ vutte, aññatarā devatā taṁ devataṁ gāthāya paccabhāsi:
“Māgadhaṁ gatā kosalaṁ gatā,
Ekacciyā pana vajjibhūmiyā;
Magā viya asaṅgacārino,
Aniketā viharanti bhikkhavo”ti.
At one time several mendicants were staying in the land of the Kosalans in a certain forest grove.
Then after completing the three months of the rainy season residence, those mendicants set out wandering.
Not seeing those mendicants, the deity haunting that forest cried. And on that occasion they spoke this verse:
“Dissatisfaction, it seems to me today,
seeing so many vacated seats.
They were so learned, such brilliant speakers!
Where have these disciples of Gotama gone?”
When they had spoken, another deity replied with this verse:
“They’ve gone to Magadha, they’ve gone to Kosala,
and some are in the Vajjian lands.
Like deer that wander free of ties,
the mendicants live with no abode.”
Vi-n 1 Một thời, nhiều Tỷ-kheo trú giữa dân chúng Kosala tại một khu rừng.
Vi-n 2 Các Tỷ-kheo ấy an cư mùa mưa xong, sau ba tháng, bắt đầu đi du hành.
Vi-n 3 Một vị Thiên trú ở khu rừng ấy, không thấy các Tỷ-kheo ấy, liền than van, ưu buồn, ngay lúc ấy nói lên bài kệ này:
Hôm nay tâm của ta,
Cảm thấy không vui vẻ,
Khi thấy nhiều chỗ ngồi,
Trống không, không có người.
Những bậc Ða văn ấy,
Thuyết pháp thật mỹ diệu.
Ðệ tử Gotama,
Hiện nay đang ở đâu?
Vi-n 4 Khi nghe nói vậy, một vị Thiên khác nói lên những bài kệ cho vị Thiên ấy:
Họ đi Magadha,
Họ đi Kosala,
Và một số vị ấy,
Ði đến đất Vajjà.
Như nai thoát bẫy sập,
Chạy nhảy khắp bốn phương.
Tỷ-kheo không nhà cửa,
Sống giải thoát như vậy.
Ekaṁ samayaṁ sambahulā bhikkhū kosalesu viharanti aññatarasmiṁ vanasaṇḍe.
Atha kho te bhikkhū vassaṁvuṭṭhā temāsaccayena cārikaṁ pakkamiṁsu.
Atha kho yā tasmiṁ vanasaṇḍe adhivatthā devatā te bhikkhū apassantī paridevamānā tāyaṁ velāyaṁ imaṁ gāthaṁ abhāsi:
“Arati viya mejja khāyati,
Bahuke disvāna vivitte āsane;
Te cittakathā bahussutā,
Kome gotamasāvakā gatā”ti.
Evaṁ vutte, aññatarā devatā taṁ devataṁ gāthāya paccabhāsi:
“Māgadhaṁ gatā kosalaṁ gatā,
Ekacciyā pana vajjibhūmiyā;
Magā viya asaṅgacārino,
Aniketā viharanti bhikkhavo”ti.