S.iv,205Vi-n 1-2~1 …
Vi-n 3~2 —Này các Tỷ-kheo, có ba thọ này. Thế nào là ba? Lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ.
Vi-n 4~3 Này các Tỷ-kheo, tham tùy miên đối với lạc thọ cần phải đoạn tận. Sân tùy miên đối với khổ thọ cần phải đoạn tận. Vô minh tùy miên đối với bất khổ bất lạc thọ cần phải đoạn tận.
Vi-n 5~4 Này các Tỷ-kheo, khi nào Tỷ-kheo đoạn tận tham tùy miên đối với lạc thọ, đoạn tận sân tùy miên đối với khổ thọ, đoạn tận vô minh tùy miên đối với bất khổ bất lạc thọ; thời này các Tỷ-kheo, sự từ bỏ tham tùy miên của Tỷ-kheo được gọi là chánh kiến, ái được đoạn tận, kiết sử được hủy hoại. Với minh kiến chơn chánh đối với ngã mạn (sammà mànabhisamayà), vị ấy đoạn tận khổ đau.
Vi-n 1~5 Nếu cảm giác lạc thọ,
Không tuệ tri cảm thọ,
Ðây gọi tham tùy miên,
Không thấy rõ xuất ly.
Vi-n 2~6 Nếu cảm giác khổ thọ,
Không tuệ tri cảm thọ,
Ðây gọi sân tùy miên,
Không thấy rõ xuất ly.
Vi-n 3~7 Với bất khổ bất lạc,
Bậc Ðại trí thuyết giảng,
Nếu hoan hỷ thọ ấy,
Không thoát được khổ đau.
Vi-n 4~8 Vị Tỷ-kheo nhiệt tình,
Tỉnh giác, không cuồng trí,
Ðối với tất cả thọ,
Bậc Hiền trí liễu tri.
Vi-n 5~9 Vị ấy liễu tri thọ,
Hiện tại không lậu hoặc,
Thân hoại, bậc Pháp trú
Ðại trí vượt ước lường.
“Tisso imā, bhikkhave, vedanā.
Katamā tisso?
Sukhā vedanā, dukkhā vedanā, adukkhamasukhā vedanā.
Sukhāya, bhikkhave, vedanāya rāgānusayo pahātabbo, dukkhāya vedanāya paṭighānusayo pahātabbo, adukkhamasukhāya vedanāya avijjānusayo pahātabbo.
Yato kho, bhikkhave, bhikkhuno sukhāya vedanāya rāgānusayo pahīno hoti, dukkhāya vedanāya paṭighānusayo pahīno hoti, adukkhamasukhāya vedanāya avijjānusayo pahīno hoti, ayaṁ vuccati, bhikkhave, ‘bhikkhu niranusayo sammaddaso acchecchi taṇhaṁ, vivattayi saṁyojanaṁ, sammā mānābhisamayā antamakāsi dukkhassā’ti.
Sukhaṁ vedayamānassa,
vedanaṁ appajānato;
So rāgānusayo hoti,
anissaraṇadassino.
Dukkhaṁ vedayamānassa,
vedanaṁ appajānato;
Paṭighānusayo hoti,
anissaraṇadassino.
Adukkhamasukhaṁ santaṁ,
bhūripaññena desitaṁ;
Tañcāpi abhinandati,
neva dukkhā pamuccati.
Yato ca bhikkhu ātāpī,
sampajaññaṁ na riñcati;
Tato so vedanā sabbā,
parijānāti paṇḍito.
So vedanā pariññāya,
diṭṭhe dhamme anāsavo;
Kāyassa bhedā dhammaṭṭho,
saṅkhyaṁ nopeti vedagū”ti.
Tatiyaṁ.
SC 1“Bhikkhus, there are these three feelings. What three? Pleasant feeling, painful feeling, neither-painful-nor-pleasant feeling. The underlying tendency to lust should be abandoned in regard to pleasant feeling. The underlying tendency to aversion should be abandoned in regard to painful feeling. The underlying tendency to ignorance should be abandoned in regard to neither-painful-nor-pleasant feeling.
SC 2“When, bhikkhus, a bhikkhu has abandoned the underlying tendency to lust in regard to pleasant feeling, the underlying tendency to aversion in regard to painful feeling, and the underlying tendency to ignorance in regard to neither-painful-nor-pleasant feeling, then he is called a bhikkhu without underlying tendencies, one who sees rightly. He has cut off craving, severed the fetters, and by completely breaking through conceit, he has made an end to suffering.”
SC 3When one experiences pleasure,
If one does not understand feeling
The tendency to lust is present
For one not seeing the escape from it.
SC 4When one experiences pain,
If one does not understand feeling
The tendency to aversion is present
For one not seeing the escape from it.
SC 5The One of Broad Wisdom has taught
With reference to that peaceful feeling,
Neither-painful-nor-pleasant:
If one seeks delight even in this,
One is still not released from suffering. sn.iv.206
SC 6But when a bhikkhu who is ardent
Does not neglect clear comprehension,
Then that wise man fully understands
Feelings in their entirety.
SC 7Having fully understood feelings,
He is taintless in this very life.
Standing in Dhamma, with the body’s breakup
The knowledge-master cannot be reckoned.
S.iv,205Vi-n 1-2~1 …
Vi-n 3~2 —Này các Tỷ-kheo, có ba thọ này. Thế nào là ba? Lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ.
Vi-n 4~3 Này các Tỷ-kheo, tham tùy miên đối với lạc thọ cần phải đoạn tận. Sân tùy miên đối với khổ thọ cần phải đoạn tận. Vô minh tùy miên đối với bất khổ bất lạc thọ cần phải đoạn tận.
Vi-n 5~4 Này các Tỷ-kheo, khi nào Tỷ-kheo đoạn tận tham tùy miên đối với lạc thọ, đoạn tận sân tùy miên đối với khổ thọ, đoạn tận vô minh tùy miên đối với bất khổ bất lạc thọ; thời này các Tỷ-kheo, sự từ bỏ tham tùy miên của Tỷ-kheo được gọi là chánh kiến, ái được đoạn tận, kiết sử được hủy hoại. Với minh kiến chơn chánh đối với ngã mạn (sammà mànabhisamayà), vị ấy đoạn tận khổ đau.
Vi-n 1~5 Nếu cảm giác lạc thọ,
Không tuệ tri cảm thọ,
Ðây gọi tham tùy miên,
Không thấy rõ xuất ly.
Vi-n 2~6 Nếu cảm giác khổ thọ,
Không tuệ tri cảm thọ,
Ðây gọi sân tùy miên,
Không thấy rõ xuất ly.
Vi-n 3~7 Với bất khổ bất lạc,
Bậc Ðại trí thuyết giảng,
Nếu hoan hỷ thọ ấy,
Không thoát được khổ đau.
Vi-n 4~8 Vị Tỷ-kheo nhiệt tình,
Tỉnh giác, không cuồng trí,
Ðối với tất cả thọ,
Bậc Hiền trí liễu tri.
Vi-n 5~9 Vị ấy liễu tri thọ,
Hiện tại không lậu hoặc,
Thân hoại, bậc Pháp trú
Ðại trí vượt ước lường.
“Tisso imā, bhikkhave, vedanā.
Katamā tisso?
Sukhā vedanā, dukkhā vedanā, adukkhamasukhā vedanā.
Sukhāya, bhikkhave, vedanāya rāgānusayo pahātabbo, dukkhāya vedanāya paṭighānusayo pahātabbo, adukkhamasukhāya vedanāya avijjānusayo pahātabbo.
Yato kho, bhikkhave, bhikkhuno sukhāya vedanāya rāgānusayo pahīno hoti, dukkhāya vedanāya paṭighānusayo pahīno hoti, adukkhamasukhāya vedanāya avijjānusayo pahīno hoti, ayaṁ vuccati, bhikkhave, ‘bhikkhu niranusayo sammaddaso acchecchi taṇhaṁ, vivattayi saṁyojanaṁ, sammā mānābhisamayā antamakāsi dukkhassā’ti.
Sukhaṁ vedayamānassa,
vedanaṁ appajānato;
So rāgānusayo hoti,
anissaraṇadassino.
Dukkhaṁ vedayamānassa,
vedanaṁ appajānato;
Paṭighānusayo hoti,
anissaraṇadassino.
Adukkhamasukhaṁ santaṁ,
bhūripaññena desitaṁ;
Tañcāpi abhinandati,
neva dukkhā pamuccati.
Yato ca bhikkhu ātāpī,
sampajaññaṁ na riñcati;
Tato so vedanā sabbā,
parijānāti paṇḍito.
So vedanā pariññāya,
diṭṭhe dhamme anāsavo;
Kāyassa bhedā dhammaṭṭho,
saṅkhyaṁ nopeti vedagū”ti.
Tatiyaṁ.