Vi-n 1 Một thời, Thế Tôn trú ở Bārānasī, tại Isipatana, ở vườn nai.
Vi-n 2 Rồi cư sĩ Dhammadinna với năm trăm cư sĩ đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, cư sĩ Dhammadinna bạch Thế Tôn:
Vi-n 3 —Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy giảng dạy cho chúng con. Thế Tôn hãy giáo giới cho chúng con! Nhờ vậy chúng con được hạnh phúc, an lạc lâu dài.
—Nếu vậy, này Dhammadinna, các Ông cần phải học tập như sau: Các kinh điển nào do Như Lai thuyết giảng thâm sâu, nghĩa lý thâm sâu, siêu thế, liên hệ đến nghĩa không, cần phải thường thường được tìm đến và an trú (học hỏi). Như vậy, này Dhammadinna, các Ông cần phải học tập.
Vi-n 4 —Bạch Thế Tôn, thật không dễ gì cho chúng con, phải sống trong những ngôi nhà đầy những trẻ con, sử dụng hương chiên-đàn từ Kāsi, đeo các vòng hoa, hương và phấn sáp, thọ dụng vàng và bạc, đối với các kinh điển do Thế Tôn thuyết giảng thâm sâu, với ý nghĩa thâm sâu, siêu thế, liên hệ đến nghĩa không, có thể thường thường tìm đến những kinh điển ấy và học hỏi. Bạch Thế Tôn, chúng con là những người an trú trên năm học pháp, Thế Tôn hãy giảng cho chúng con các pháp khác!
Vi-n 5 —Do vậy, này Dhammadinna, các Ông hãy học tập như sau: “Chúng ta sẽ thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với đức Phật: “Ðây là bậc Ứng Cúng … Phật, Thế Tôn” … đối với Pháp … đối với chúng Tăng … thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính … đưa đến Thiền định. Như vậy, này Dhammadinna, các Ông cần phải học tập.
—Bạch Thế Tôn, bốn Dự lưu phần này được Thế Tôn thuyết giảng, các pháp ấy có mặt ở nơi chúng con. Chúng con thực hiện các pháp ấy.
Vi-n 6 Bạch Thế Tôn, chúng con thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với đức Phật: “Ðây là bậc Ứng Cúng, … Phật, Thế Tôn” … đối với Pháp … đối với chúng Tăng … chúng con thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính … đưa đến Thiền định.
Vi-n 7 —Lợi đắc thay cho Ông, này Dhammadinna! Thật khéo lợi đắc thay cho Ông, này Dhammadinna! Này Dhammadinna, Ông đã tuyên bố về Dự lưu quả.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā bārāṇasiyaṁ viharati isipatane migadāye.
Atha kho dhammadinno upāsako pañcahi upāsakasatehi saddhiṁ yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho dhammadinno upāsako bhagavantaṁ etadavoca:
“ovadatu no, bhante, bhagavā;
anusāsatu no, bhante, bhagavā yaṁ amhākaṁ assa dīgharattaṁ hitāya sukhāyā”ti.
“Tasmātiha vo, dhammadinna, evaṁ sikkhitabbaṁ:
‘ye te suttantā tathāgatabhāsitā gambhīrā gambhīratthā lokuttarā suññatapaṭisaṁyuttā te kālena kālaṁ upasampajja viharissāmā’ti.
Evañhi vo, dhammadinna, sikkhitabban”ti.
“Na kho netaṁ, bhante, sukaraṁ amhehi puttasambādhasayanaṁ ajjhāvasantehi kāsikacandanaṁ paccanubhontehi mālāgandhavilepanaṁ dhārayantehi jātarūparajataṁ sādiyantehi—
ye te suttantā tathāgatabhāsitā gambhīrā gambhīratthā lokuttarā suññatapaṭisaṁyuttā te kālena kālaṁ upasampajja viharituṁ.
Tesaṁ no, bhante, bhagavā amhākaṁ pañcasu sikkhāpadesu ṭhitānaṁ uttaridhammaṁ desetū”ti.
“Tasmātiha vo, dhammadinna, evaṁ sikkhitabbaṁ:
‘buddhe aveccappasādena samannāgatā bhavissāma—
itipi so bhagavā …pe… satthā devamanussānaṁ buddho bhagavāti.
Dhamme …pe…
saṅghe …pe…
ariyakantehi sīlehi samannāgatā bhavissāma akhaṇḍehi …pe… samādhisaṁvattanikehī’ti.
Evañhi vo, dhammadinna, sikkhitabban”ti.
“Yānimāni, bhante, bhagavatā cattāri sotāpattiyaṅgāni desitāni, saṁvijjante dhammā amhesu, mayañca tesu dhammesu sandissāma.
Mayañhi, bhante, buddhe aveccappasādena samannāgatā—
itipi so bhagavā …pe… satthā devamanussānaṁ buddho bhagavāti.
Dhamme …pe…
saṅghe …pe…
ariyakantehi sīlehi samannāgatā akhaṇḍehi …pe… samādhisaṁvattanikehī”ti.
“Lābhā vo, dhammadinna, suladdhaṁ vo, dhammadinna.
Sotāpattiphalaṁ tumhehi byākatan”ti.
Tatiyaṁ.
At one time the Buddha was staying near Varanasi, in the deer park at Isipatana.
Then the lay follower Dhammadinna, together with five hundred lay followers, went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him:
“May the Buddha please advise
and instruct us. It will be for our lasting welfare and happiness.”
“So, Dhammadinna, you should train like this:
‘From time to time we will undertake and dwell upon the discourses spoken by the Realized One that are deep, profound, transcendent, dealing with emptiness.’
That’s how you should train yourselves.”
“Sir, we live at home with our children, using sandalwood imported from Kāsi, wearing garlands, fragrance, and makeup, and accepting gold and currency.
It’s not easy for us to undertake and dwell from time to time upon the discourses spoken by the Realized One that are deep, profound, transcendent, dealing with emptiness.
Since we are established in the five training rules, please teach us further.”
“So, Dhammadinna, you should train like this:
‘We will have experiential confidence in the Buddha …
the teaching …
the Saṅgha …
And we will have the ethical conduct loved by the noble ones … leading to immersion.’
That’s how you should train yourselves.”
“Sir, these four factors of stream-entry that were taught by the Buddha are found in us, and we embody them.
For we have experiential confidence in the Buddha …
the teaching …
the Saṅgha …
And we have the ethical conduct loved by the noble ones … leading to immersion.”
“You’re fortunate, Dhammadinna, so very fortunate!
You have all declared the fruit of stream-entry.”
Vi-n 1 Một thời, Thế Tôn trú ở Bārānasī, tại Isipatana, ở vườn nai.
Vi-n 2 Rồi cư sĩ Dhammadinna với năm trăm cư sĩ đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, cư sĩ Dhammadinna bạch Thế Tôn:
Vi-n 3 —Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy giảng dạy cho chúng con. Thế Tôn hãy giáo giới cho chúng con! Nhờ vậy chúng con được hạnh phúc, an lạc lâu dài.
—Nếu vậy, này Dhammadinna, các Ông cần phải học tập như sau: Các kinh điển nào do Như Lai thuyết giảng thâm sâu, nghĩa lý thâm sâu, siêu thế, liên hệ đến nghĩa không, cần phải thường thường được tìm đến và an trú (học hỏi). Như vậy, này Dhammadinna, các Ông cần phải học tập.
Vi-n 4 —Bạch Thế Tôn, thật không dễ gì cho chúng con, phải sống trong những ngôi nhà đầy những trẻ con, sử dụng hương chiên-đàn từ Kāsi, đeo các vòng hoa, hương và phấn sáp, thọ dụng vàng và bạc, đối với các kinh điển do Thế Tôn thuyết giảng thâm sâu, với ý nghĩa thâm sâu, siêu thế, liên hệ đến nghĩa không, có thể thường thường tìm đến những kinh điển ấy và học hỏi. Bạch Thế Tôn, chúng con là những người an trú trên năm học pháp, Thế Tôn hãy giảng cho chúng con các pháp khác!
Vi-n 5 —Do vậy, này Dhammadinna, các Ông hãy học tập như sau: “Chúng ta sẽ thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với đức Phật: “Ðây là bậc Ứng Cúng … Phật, Thế Tôn” … đối với Pháp … đối với chúng Tăng … thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính … đưa đến Thiền định. Như vậy, này Dhammadinna, các Ông cần phải học tập.
—Bạch Thế Tôn, bốn Dự lưu phần này được Thế Tôn thuyết giảng, các pháp ấy có mặt ở nơi chúng con. Chúng con thực hiện các pháp ấy.
Vi-n 6 Bạch Thế Tôn, chúng con thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với đức Phật: “Ðây là bậc Ứng Cúng, … Phật, Thế Tôn” … đối với Pháp … đối với chúng Tăng … chúng con thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính … đưa đến Thiền định.
Vi-n 7 —Lợi đắc thay cho Ông, này Dhammadinna! Thật khéo lợi đắc thay cho Ông, này Dhammadinna! Này Dhammadinna, Ông đã tuyên bố về Dự lưu quả.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā bārāṇasiyaṁ viharati isipatane migadāye.
Atha kho dhammadinno upāsako pañcahi upāsakasatehi saddhiṁ yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho dhammadinno upāsako bhagavantaṁ etadavoca:
“ovadatu no, bhante, bhagavā;
anusāsatu no, bhante, bhagavā yaṁ amhākaṁ assa dīgharattaṁ hitāya sukhāyā”ti.
“Tasmātiha vo, dhammadinna, evaṁ sikkhitabbaṁ:
‘ye te suttantā tathāgatabhāsitā gambhīrā gambhīratthā lokuttarā suññatapaṭisaṁyuttā te kālena kālaṁ upasampajja viharissāmā’ti.
Evañhi vo, dhammadinna, sikkhitabban”ti.
“Na kho netaṁ, bhante, sukaraṁ amhehi puttasambādhasayanaṁ ajjhāvasantehi kāsikacandanaṁ paccanubhontehi mālāgandhavilepanaṁ dhārayantehi jātarūparajataṁ sādiyantehi—
ye te suttantā tathāgatabhāsitā gambhīrā gambhīratthā lokuttarā suññatapaṭisaṁyuttā te kālena kālaṁ upasampajja viharituṁ.
Tesaṁ no, bhante, bhagavā amhākaṁ pañcasu sikkhāpadesu ṭhitānaṁ uttaridhammaṁ desetū”ti.
“Tasmātiha vo, dhammadinna, evaṁ sikkhitabbaṁ:
‘buddhe aveccappasādena samannāgatā bhavissāma—
itipi so bhagavā …pe… satthā devamanussānaṁ buddho bhagavāti.
Dhamme …pe…
saṅghe …pe…
ariyakantehi sīlehi samannāgatā bhavissāma akhaṇḍehi …pe… samādhisaṁvattanikehī’ti.
Evañhi vo, dhammadinna, sikkhitabban”ti.
“Yānimāni, bhante, bhagavatā cattāri sotāpattiyaṅgāni desitāni, saṁvijjante dhammā amhesu, mayañca tesu dhammesu sandissāma.
Mayañhi, bhante, buddhe aveccappasādena samannāgatā—
itipi so bhagavā …pe… satthā devamanussānaṁ buddho bhagavāti.
Dhamme …pe…
saṅghe …pe…
ariyakantehi sīlehi samannāgatā akhaṇḍehi …pe… samādhisaṁvattanikehī”ti.
“Lābhā vo, dhammadinna, suladdhaṁ vo, dhammadinna.
Sotāpattiphalaṁ tumhehi byākatan”ti.
Tatiyaṁ.