Vi-n 1 Một thời Thế Tôn trú ở Rājagaha (Vương Xá), tại Trúc Lâm, chỗ nuôi dưỡng các con sóc.
Vi-n 2 Rồi Talaputa, nhà vũ kịch sư (natagàmani), đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 3 Ngồi một bên, vũ kịch sư Talaputa bạch Thế Tôn:
—Con được nghe, bạch Thế Tôn, các vị Ðạo sư, Tổ sư thuở xưa nói về các nhà vũ kịch, nói rằng: “Ai là nhà vũ kịch, trên sân khấu giữa kịch trường, với các điệu bộ giả sự thật, làm quần chúng vui cười, thích thú; người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh cọng trú với chư Thiên hay cười (pahàsadeve)”. Ở đây, Thế Tôn nói như thế nào?
—Thôi vừa rồi, này Thôn trưởng. Hãy dừng ở đây. Chớ có hỏi Ta về điều này.
Vi-n 4 Lần thứ hai, vũ kịch sư Talaputa bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, con có nghe các vị Ðạo sư, Tổ sư thuở xưa nói về các nhà vũ kịch, nói rằng: “Ai là nhà vũ kịch, trên sân khấu hay giữa kịch trường, với các điệu bộ giả sự thật, làm quần chúng vui cười, thích thú; người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh cọng trú với chư Thiên hay cười”. Ở đây, Thế Tôn nói như thế nào?
—Thôi vừa rồi, này Thôn trưởng. Hãy dừng ở đây. Chớ có hỏi Ta về điều này.
Vi-n 5 Lần thứ ba, vũ kịch sư Talaputa bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, con có nghe các vị Ðạo sư, các vị Tổ sư thuở xưa nói về các nhà vũ kịch, nói rằng: “Ai là nhà vũ kịch, trên sân khấu hay giữa kịch trường, với các điệu bộ giả sự thật, làm quần chúng vui cười, thích thú; người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh cộng trú với chư Thiên hay cười”. Ở đây, Thế Tôn nói như thế nào?
—Thật sự, Ta đã không chấp nhận và nói rằng: “Thôi vừa rồi, này Thôn trưởng. Hãy dừng ở đây. Chớ có hỏi Ta về điều này”. Tuy vậy, Ta sẽ trả lời cho Ông.
Vi-n 6 Này Thôn trưởng, đối với những loài hữu tình thuở trước chưa đoạn trừ lòng tham, còn bị lòng tham trói buộc, nếu nhà vũ kịch trên sân khấu hay trong kịch trường, tập trung những pháp hấp dẫn, thời khiến lòng tham của họ càng tăng thịnh. Này Thôn trưởng, đối với những loại hữu tình thuở trước chưa đoạn trừ lòng sân, còn bị lòng sân trói buộc, nếu nhà vũ kịch trên sân khấu hay trong kịch trường tập trung những pháp liên hệ đến sân, thời khiến cho lòng sân của họ càng tăng thịnh. Này Thôn trưởng, đối với loài hữu tình thuở trước chưa đoạn trừ lòng si, còn bị lòng si trói buộc, nếu nhà vũ kịch trên sân khấu hay trong kịch trường tập trung những pháp liên hệ đến si, thời khiến cho lòng si của họ càng tăng thịnh.
Vi-n 7 Người ấy tự mình đắm say, phóng dật, làm người khác đắm say và phóng dật, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh trong địa ngục Hý tiếu (Pahàso). Nếu người ấy có (tà) kiến như sau: “Người vũ kịch nào, trên sân khấu hay giữa kịch trường, với các điệu bộ giả sự thật, làm quần chúng vui cười, thích thú; người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh cộng trú với chư Thiên hay cười”. Như vậy là tà kiến. Ai rơi vào tà kiến, này Thôn trưởng, Ta nói rằng người ấy chỉ có một trong hai sanh thú: một là địa ngục, hai là súc sanh.
Vi-n 8 Khi được nói vậy, vũ kịch sư Talaputa phát khóc và rơi nước mắt.
—Chính vì vậy, này Thôn trưởng, Ta đã không chấp nhận và nói: “Thôi vừa rồi, này Thôn trưởng. Hãy dừng ở đây. Chớ có hỏi Ta về điều này”.
—Bạch Thế Tôn, con khóc không phải vì Thế Tôn đã nói như vậy. Nhưng, bạch Thế Tôn, vì con đã bị các Ðạo sư, các Tổ sư vũ kịch thời trước đã lâu ngày lừa dối con, dối trá con, dắt dẫn lầm lạc con rằng: “Người vũ kịch nào trên sân khấu hay giữa kịch trường, với các điệu bộ giả sự thật, làm quần chúng vui cười, thích thú; người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cộng trú với chư Thiên hay cười”.
Vi-n 9 Thật là vi diệu, bạch Thế Tôn! Thật là vi diệu, bạch Thế Tôn! Bạch Thế Tôn, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Bạch Thế Tôn, con nay xin quy y Phật, Pháp và chúng Tăng. Mong Thế Tôn cho con được xuất gia với Thế Tôn, được thọ đại giới!
Vi-n 10 Vũ kịch sư Talaputa được xuất gia với Thế Tôn, được thọ đại giới.
Vi-n 11 Thọ đại giới không bao lâu, Tôn giả Talaputa … trở thành một vị A-la-hán nữa.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā rājagahe viharati veḷuvane kalandakanivāpe.
Atha kho tālapuṭo naṭagāmaṇi yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho tālapuṭo naṭagāmaṇi bhagavantaṁ etadavoca:
“sutaṁ metaṁ, bhante, pubbakānaṁ ācariyapācariyānaṁ naṭānaṁ bhāsamānānaṁ:
‘yo so naṭo raṅgamajjhe samajjamajjhe saccālikena janaṁ hāseti rameti, so kāyassa bhedā paraṁ maraṇā pahāsānaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjatī’ti.
Idha bhagavā kimāhā”ti?
“Alaṁ, gāmaṇi, tiṭṭhatetaṁ. Mā maṁ etaṁ pucchī”ti.
Dutiyampi kho tālapuṭo naṭagāmaṇi bhagavantaṁ etadavoca:
“sutaṁ metaṁ, bhante, pubbakānaṁ ācariyapācariyānaṁ naṭānaṁ bhāsamānānaṁ:
‘yo so naṭo raṅgamajjhe samajjamajjhe saccālikena janaṁ hāseti rameti, so kāyassa bhedā paraṁ maraṇā pahāsānaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjatī’ti.
Idha bhagavā kimāhā”ti?
“Alaṁ, gāmaṇi, tiṭṭhatetaṁ. Mā maṁ etaṁ pucchī”ti.
Tatiyampi kho tālapuṭo naṭagāmaṇi bhagavantaṁ etadavoca:
“sutaṁ metaṁ, bhante, pubbakānaṁ ācariyapācariyānaṁ naṭānaṁ bhāsamānānaṁ:
‘yo so naṭo raṅgamajjhe samajjamajjhe saccālikena janaṁ hāseti rameti, so kāyassa bhedā paraṁ maraṇā pahāsānaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjatī’ti.
Idha bhagavā kimāhā”ti?
“Addhā kho tyāhaṁ, gāmaṇi, na labhāmi:
‘alaṁ, gāmaṇi, tiṭṭhatetaṁ,
mā maṁ etaṁ pucchī’ti.
Api ca tyāhaṁ byākarissāmi.
Pubbe kho, gāmaṇi, sattā avītarāgā rāgabandhanabaddhā.
Tesaṁ naṭo raṅgamajjhe samajjamajjhe ye dhammā rajanīyā te upasaṁharati bhiyyoso mattāya.
Pubbe kho, gāmaṇi, sattā avītadosā dosabandhanabaddhā.
Tesaṁ naṭo raṅgamajjhe samajjamajjhe ye dhammā dosanīyā te upasaṁharati bhiyyoso mattāya.
Pubbe kho, gāmaṇi, sattā avītamohā mohabandhanabaddhā.
Tesaṁ naṭo raṅgamajjhe samajjamajjhe ye dhammā mohanīyā te upasaṁharati bhiyyoso mattāya.
So attanā matto pamatto pare madetvā pamādetvā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā pahāso nāma nirayo tattha upapajjati.
Sace kho panassa evaṁdiṭṭhi hoti:
‘yo so naṭo raṅgamajjhe samajjamajjhe saccālikena janaṁ hāseti rameti, so kāyassa bhedā paraṁ maraṇā pahāsānaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjatī’ti, sāssa hoti micchādiṭṭhi.
Micchādiṭṭhikassa kho panāhaṁ, gāmaṇi, purisapuggalassa dvinnaṁ gatīnaṁ aññataraṁ gatiṁ vadāmi—
nirayaṁ vā tiracchānayoniṁ vā”ti.
Evaṁ vutte, tālapuṭo naṭagāmaṇi parodi assūni pavattesi.
“Etaṁ kho tyāhaṁ, gāmaṇi, nālatthaṁ:
‘alaṁ, gāmaṇi, tiṭṭhatetaṁ; mā maṁ etaṁ pucchī’”ti.
“Nāhaṁ, bhante, etaṁ rodāmi yaṁ maṁ bhagavā evamāha;
api cāhaṁ, bhante, pubbakehi ācariyapācariyehi naṭehi dīgharattaṁ nikato vañcito paluddho:
‘yo so naṭo raṅgamajjhe samajjamajjhe saccālikena janaṁ hāseti rameti so kāyassa bhedā paraṁ maraṇā pahāsānaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjatī’”ti.
“Abhikkantaṁ, bhante, abhikkantaṁ, bhante.
Seyyathāpi, bhante, nikkujjitaṁ vā ukkujjeyya, paṭicchannaṁ vā vivareyya, mūḷhassa vā maggaṁ ācikkheyya, andhakāre vā telapajjotaṁ dhāreyya: ‘cakkhumanto rūpāni dakkhantī’ti; evamevaṁ bhagavatā anekapariyāyena dhammo pakāsito.
Esāhaṁ, bhante, bhagavantaṁ saraṇaṁ gacchāmi dhammañca bhikkhusaṅghañca.
Labheyyāhaṁ, bhante, bhagavato santike pabbajjaṁ, labheyyaṁ upasampadan”ti.
Alattha kho tālapuṭo naṭagāmaṇi bhagavato santike pabbajjaṁ, alattha upasampadaṁ.
Acirūpasampanno ca panāyasmā tālapuṭo …pe…
arahataṁ ahosīti.
Dutiyaṁ.
At one time the Buddha was staying near Rājagaha, in the Bamboo Grove, the squirrels’ feeding ground.
Then Tālapuṭa the dancing chief came up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to the Buddha:
“Sir, I have heard that the dancers of the past who were tutors of tutors said:
‘Suppose a dancer entertains and amuses people on a stage or at a festival with mixed truth and lies. When their body breaks up, after death, they’re reborn in the company of laughing gods.’
What does the Buddha say about this?”
“Enough, chief, let it be. Don’t ask me that.”
For a second time …
And for a third time Tālapuṭa said to the Buddha:
“Sir, I have heard that the dancers of the past who were tutors of tutors said:
‘Suppose a dancer entertains and amuses people on a stage or at a festival with mixed truth and lies. When their body breaks up, after death, they’re reborn in the company of laughing gods.’
What does the Buddha say about this?”
“Clearly, chief, I’m not getting through to you when I say:
‘Enough, chief, let it be.
Don’t ask me that.’
Nevertheless, I will answer you.
When sentient beings are still not free of greed, and are still bound by greed,
a dancer in a stage or festival presents them with even more arousing things.
When sentient beings are still not free of hate, and are still bound by hate,
a dancer in a stage or festival presents them with even more hateful things.
When sentient beings are still not free of delusion, and are still bound by delusion,
a dancer in a stage or festival presents them with even more delusory things.
And so, being heedless and negligent themselves, they’ve encouraged others to be heedless and negligent. When their body breaks up, after death, they’re reborn in the hell called ‘Laughter’.
But if you have such a view:
‘Suppose a dancer entertains and amuses people on a stage or at a festival with mixed truth and lies. When their body breaks up, after death, they’re reborn in the company of laughing gods.’ This is your wrong view.
An individual with wrong view is reborn in one of two places, I say:
hell or the animal realm.”
When he said this, Tālapuṭa cried and burst out in tears.
“This is what I didn’t get through to you when I said:
‘Enough, chief, let it be. Don’t ask me that.’”
“Sir, I’m not crying because of what the Buddha said.
But sir, for a long time I’ve been cheated, tricked, and deceived by the dancers of the past who were tutors of tutors, who said:
‘Suppose a dancer entertains and amuses people on a stage or at a festival with mixed truth and lies. When their body breaks up, after death, they’re reborn in the company of laughing gods.’
Excellent, sir! Excellent!
As if he were righting the overturned, or revealing the hidden, or pointing out the path to the lost, or lighting a lamp in the dark so people with clear eyes can see what’s there, the Buddha has made the teaching clear in many ways.
I go for refuge to the Buddha, to the teaching, and to the mendicant Saṅgha.
Sir, may I receive the going forth, the ordination in the Buddha’s presence?”
And Tālapuṭa the dancing chief received the going forth, the ordination in the Buddha’s presence.
Not long after his ordination, Venerable Tālapuṭa
became one of the perfected.
Vi-n 1 Một thời Thế Tôn trú ở Rājagaha (Vương Xá), tại Trúc Lâm, chỗ nuôi dưỡng các con sóc.
Vi-n 2 Rồi Talaputa, nhà vũ kịch sư (natagàmani), đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 3 Ngồi một bên, vũ kịch sư Talaputa bạch Thế Tôn:
—Con được nghe, bạch Thế Tôn, các vị Ðạo sư, Tổ sư thuở xưa nói về các nhà vũ kịch, nói rằng: “Ai là nhà vũ kịch, trên sân khấu giữa kịch trường, với các điệu bộ giả sự thật, làm quần chúng vui cười, thích thú; người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh cọng trú với chư Thiên hay cười (pahàsadeve)”. Ở đây, Thế Tôn nói như thế nào?
—Thôi vừa rồi, này Thôn trưởng. Hãy dừng ở đây. Chớ có hỏi Ta về điều này.
Vi-n 4 Lần thứ hai, vũ kịch sư Talaputa bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, con có nghe các vị Ðạo sư, Tổ sư thuở xưa nói về các nhà vũ kịch, nói rằng: “Ai là nhà vũ kịch, trên sân khấu hay giữa kịch trường, với các điệu bộ giả sự thật, làm quần chúng vui cười, thích thú; người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh cọng trú với chư Thiên hay cười”. Ở đây, Thế Tôn nói như thế nào?
—Thôi vừa rồi, này Thôn trưởng. Hãy dừng ở đây. Chớ có hỏi Ta về điều này.
Vi-n 5 Lần thứ ba, vũ kịch sư Talaputa bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, con có nghe các vị Ðạo sư, các vị Tổ sư thuở xưa nói về các nhà vũ kịch, nói rằng: “Ai là nhà vũ kịch, trên sân khấu hay giữa kịch trường, với các điệu bộ giả sự thật, làm quần chúng vui cười, thích thú; người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh cộng trú với chư Thiên hay cười”. Ở đây, Thế Tôn nói như thế nào?
—Thật sự, Ta đã không chấp nhận và nói rằng: “Thôi vừa rồi, này Thôn trưởng. Hãy dừng ở đây. Chớ có hỏi Ta về điều này”. Tuy vậy, Ta sẽ trả lời cho Ông.
Vi-n 6 Này Thôn trưởng, đối với những loài hữu tình thuở trước chưa đoạn trừ lòng tham, còn bị lòng tham trói buộc, nếu nhà vũ kịch trên sân khấu hay trong kịch trường, tập trung những pháp hấp dẫn, thời khiến lòng tham của họ càng tăng thịnh. Này Thôn trưởng, đối với những loại hữu tình thuở trước chưa đoạn trừ lòng sân, còn bị lòng sân trói buộc, nếu nhà vũ kịch trên sân khấu hay trong kịch trường tập trung những pháp liên hệ đến sân, thời khiến cho lòng sân của họ càng tăng thịnh. Này Thôn trưởng, đối với loài hữu tình thuở trước chưa đoạn trừ lòng si, còn bị lòng si trói buộc, nếu nhà vũ kịch trên sân khấu hay trong kịch trường tập trung những pháp liên hệ đến si, thời khiến cho lòng si của họ càng tăng thịnh.
Vi-n 7 Người ấy tự mình đắm say, phóng dật, làm người khác đắm say và phóng dật, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh trong địa ngục Hý tiếu (Pahàso). Nếu người ấy có (tà) kiến như sau: “Người vũ kịch nào, trên sân khấu hay giữa kịch trường, với các điệu bộ giả sự thật, làm quần chúng vui cười, thích thú; người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh cộng trú với chư Thiên hay cười”. Như vậy là tà kiến. Ai rơi vào tà kiến, này Thôn trưởng, Ta nói rằng người ấy chỉ có một trong hai sanh thú: một là địa ngục, hai là súc sanh.
Vi-n 8 Khi được nói vậy, vũ kịch sư Talaputa phát khóc và rơi nước mắt.
—Chính vì vậy, này Thôn trưởng, Ta đã không chấp nhận và nói: “Thôi vừa rồi, này Thôn trưởng. Hãy dừng ở đây. Chớ có hỏi Ta về điều này”.
—Bạch Thế Tôn, con khóc không phải vì Thế Tôn đã nói như vậy. Nhưng, bạch Thế Tôn, vì con đã bị các Ðạo sư, các Tổ sư vũ kịch thời trước đã lâu ngày lừa dối con, dối trá con, dắt dẫn lầm lạc con rằng: “Người vũ kịch nào trên sân khấu hay giữa kịch trường, với các điệu bộ giả sự thật, làm quần chúng vui cười, thích thú; người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cộng trú với chư Thiên hay cười”.
Vi-n 9 Thật là vi diệu, bạch Thế Tôn! Thật là vi diệu, bạch Thế Tôn! Bạch Thế Tôn, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Bạch Thế Tôn, con nay xin quy y Phật, Pháp và chúng Tăng. Mong Thế Tôn cho con được xuất gia với Thế Tôn, được thọ đại giới!
Vi-n 10 Vũ kịch sư Talaputa được xuất gia với Thế Tôn, được thọ đại giới.
Vi-n 11 Thọ đại giới không bao lâu, Tôn giả Talaputa … trở thành một vị A-la-hán nữa.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā rājagahe viharati veḷuvane kalandakanivāpe.
Atha kho tālapuṭo naṭagāmaṇi yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho tālapuṭo naṭagāmaṇi bhagavantaṁ etadavoca:
“sutaṁ metaṁ, bhante, pubbakānaṁ ācariyapācariyānaṁ naṭānaṁ bhāsamānānaṁ:
‘yo so naṭo raṅgamajjhe samajjamajjhe saccālikena janaṁ hāseti rameti, so kāyassa bhedā paraṁ maraṇā pahāsānaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjatī’ti.
Idha bhagavā kimāhā”ti?
“Alaṁ, gāmaṇi, tiṭṭhatetaṁ. Mā maṁ etaṁ pucchī”ti.
Dutiyampi kho tālapuṭo naṭagāmaṇi bhagavantaṁ etadavoca:
“sutaṁ metaṁ, bhante, pubbakānaṁ ācariyapācariyānaṁ naṭānaṁ bhāsamānānaṁ:
‘yo so naṭo raṅgamajjhe samajjamajjhe saccālikena janaṁ hāseti rameti, so kāyassa bhedā paraṁ maraṇā pahāsānaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjatī’ti.
Idha bhagavā kimāhā”ti?
“Alaṁ, gāmaṇi, tiṭṭhatetaṁ. Mā maṁ etaṁ pucchī”ti.
Tatiyampi kho tālapuṭo naṭagāmaṇi bhagavantaṁ etadavoca:
“sutaṁ metaṁ, bhante, pubbakānaṁ ācariyapācariyānaṁ naṭānaṁ bhāsamānānaṁ:
‘yo so naṭo raṅgamajjhe samajjamajjhe saccālikena janaṁ hāseti rameti, so kāyassa bhedā paraṁ maraṇā pahāsānaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjatī’ti.
Idha bhagavā kimāhā”ti?
“Addhā kho tyāhaṁ, gāmaṇi, na labhāmi:
‘alaṁ, gāmaṇi, tiṭṭhatetaṁ,
mā maṁ etaṁ pucchī’ti.
Api ca tyāhaṁ byākarissāmi.
Pubbe kho, gāmaṇi, sattā avītarāgā rāgabandhanabaddhā.
Tesaṁ naṭo raṅgamajjhe samajjamajjhe ye dhammā rajanīyā te upasaṁharati bhiyyoso mattāya.
Pubbe kho, gāmaṇi, sattā avītadosā dosabandhanabaddhā.
Tesaṁ naṭo raṅgamajjhe samajjamajjhe ye dhammā dosanīyā te upasaṁharati bhiyyoso mattāya.
Pubbe kho, gāmaṇi, sattā avītamohā mohabandhanabaddhā.
Tesaṁ naṭo raṅgamajjhe samajjamajjhe ye dhammā mohanīyā te upasaṁharati bhiyyoso mattāya.
So attanā matto pamatto pare madetvā pamādetvā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā pahāso nāma nirayo tattha upapajjati.
Sace kho panassa evaṁdiṭṭhi hoti:
‘yo so naṭo raṅgamajjhe samajjamajjhe saccālikena janaṁ hāseti rameti, so kāyassa bhedā paraṁ maraṇā pahāsānaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjatī’ti, sāssa hoti micchādiṭṭhi.
Micchādiṭṭhikassa kho panāhaṁ, gāmaṇi, purisapuggalassa dvinnaṁ gatīnaṁ aññataraṁ gatiṁ vadāmi—
nirayaṁ vā tiracchānayoniṁ vā”ti.
Evaṁ vutte, tālapuṭo naṭagāmaṇi parodi assūni pavattesi.
“Etaṁ kho tyāhaṁ, gāmaṇi, nālatthaṁ:
‘alaṁ, gāmaṇi, tiṭṭhatetaṁ; mā maṁ etaṁ pucchī’”ti.
“Nāhaṁ, bhante, etaṁ rodāmi yaṁ maṁ bhagavā evamāha;
api cāhaṁ, bhante, pubbakehi ācariyapācariyehi naṭehi dīgharattaṁ nikato vañcito paluddho:
‘yo so naṭo raṅgamajjhe samajjamajjhe saccālikena janaṁ hāseti rameti so kāyassa bhedā paraṁ maraṇā pahāsānaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjatī’”ti.
“Abhikkantaṁ, bhante, abhikkantaṁ, bhante.
Seyyathāpi, bhante, nikkujjitaṁ vā ukkujjeyya, paṭicchannaṁ vā vivareyya, mūḷhassa vā maggaṁ ācikkheyya, andhakāre vā telapajjotaṁ dhāreyya: ‘cakkhumanto rūpāni dakkhantī’ti; evamevaṁ bhagavatā anekapariyāyena dhammo pakāsito.
Esāhaṁ, bhante, bhagavantaṁ saraṇaṁ gacchāmi dhammañca bhikkhusaṅghañca.
Labheyyāhaṁ, bhante, bhagavato santike pabbajjaṁ, labheyyaṁ upasampadan”ti.
Alattha kho tālapuṭo naṭagāmaṇi bhagavato santike pabbajjaṁ, alattha upasampadaṁ.
Acirūpasampanno ca panāyasmā tālapuṭo …pe…
arahataṁ ahosīti.
Dutiyaṁ.