Vi-n 1 …
Vi-n 2 Rồi Tôn giả Upavāna đi đến Thế Tôn …
Vi-n 3 Ngồi xuống một bên, Tôn giả Upavāna bạch Thế Tôn:
: “Thiết thực hiện tại, thiết thực hiện tại (Sanditthika)”, bạch Thế Tôn, như vậy được nói đến. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, là thiết thực hiện tại, có kết quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được những người có trí tự mình giác hiểu?
Vi-n 4 —Ở đây, này Upavāna, sau khi mắt thấy sắc, Tỷ-kheo cảm thọ sắc và cảm thọ tham sắc có nội tham đối với các sắc; vị ấy biết rõ: “Tôi có nội tham đối với các sắc”. Cho đến chừng nào sau khi mắt thấy sắc, Tỷ-kheo cảm thọ sắc và cảm thọ tham sắc, và có nội tham đối với các sắc; vị ấy biết rõ: “Tôi có nội tham đối với các sắc”. Như vậy, này Upavāna, là thiết thực hiện tại, có kết quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được những người trí tự mình giác hiểu.
Vi-n 5-6. Lại nữa, này Upavāna, Tỷ-kheo sau khi tai nghe tiếng … sau khi mũi ngửi hương …
Vi-n 7-8. Lại nữa, này Upavāna, Tỷ-kheo sau khi lưỡi nếm vị … thân cảm xúc …
Vi-n 9 Lại nữa, này Upavāna, sau khi ý nhận biết pháp, Tỷ-kheo cảm thọ pháp và cảm thọ tham pháp, và có nội tham đối với các pháp; vị ấy biết rõ: “Tôi có nội tham đối với các pháp”. Cho đến chừng nào sau khi ý nhận biết pháp, Tỷ-kheo cảm thọ pháp và cảm thọ tham pháp, và có nội tham đối với các pháp; vị ấy biết rõ: “Tôi có nội tham đối với các pháp”. Như vậy, này Upavāna, là thiết thực hiện tại, có kết quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được những người trí tự mình giác hiểu.
Vi-n 10 Ở đấy, này Upavāna, sau khi mắt thấy sắc, Tỷ-kheo cảm thọ sắc, nhưng không cảm thọ tham sắc, và không có nội tham đối với sắc; vị ấy biết rõ: “Tôi không có nội tham đối với sắc”. Cho đến chừng nào, này Upavāna, sau khi mắt thấy sắc, Tỷ-kheo cảm thọ sắc, nhưng không cảm thọ tham sắc, và không có nội tham đối với các sắc; vị ấy biết rõ: “Tôi không có nội tham đối với các sắc”. Như vậy, này Upavāna, là thiết thực hiện tại, có kết quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được những người trí tự mình giác hiểu.
Vi-n 11-14. Lại nữa, này Upavāna, Tỷ-kheo sau khi tai nghe tiếng … mũi ngửi hương … lưỡi nếm vị … thân cảm xúc …
Vi-n 15 Lại nữa, này Upavāna, sau khi ý nhận thức pháp, Tỷ-kheo cảm thọ pháp nhưng không cảm thọ tham pháp, và không có nội tham đối với pháp; vị ấy biết rõ: “Tôi không có nội tham đối với pháp”. Cho đến chừng nào, này Upavāna, Tỷ-kheo sau khi ý nhận thức pháp, cảm thọ pháp nhưng không cảm thọ tham pháp, và không có nội tham đối với pháp; vị ấy biết rõ: “Tôi không có nội tham đối với pháp”. Như vậy, này Upavāna, là thiết thực hiện tại, có kết quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, chỉ những người có trí tự mình giác hiểu.
Atha kho āyasmā upavāṇo yena bhagavā tenupasaṅkami …pe…
ekamantaṁ nisinno kho āyasmā upavāṇo bhagavantaṁ etadavoca:
“‘sandiṭṭhiko dhammo, sandiṭṭhiko dhammo’ti, bhante, vuccati.
Kittāvatā nu kho, bhante, sandiṭṭhiko dhammo hoti, akāliko ehipassiko opaneyyiko paccattaṁ veditabbo viññūhī”ti?
“Idha pana, upavāṇa, bhikkhu cakkhunā rūpaṁ disvā rūpappaṭisaṁvedī ca hoti rūparāgappaṭisaṁvedī ca.
Santañca ajjhattaṁ rūpesu rāgaṁ ‘atthi me ajjhattaṁ rūpesu rāgo’ti pajānāti.
Yaṁ taṁ, upavāṇa, bhikkhu cakkhunā rūpaṁ disvā rūpappaṭisaṁvedī ca hoti rūparāgappaṭisaṁvedī ca.
Santañca ajjhattaṁ rūpesu rāgaṁ ‘atthi me ajjhattaṁ rūpesu rāgo’ti pajānāti.
Evampi kho, upavāṇa, sandiṭṭhiko dhammo hoti akāliko ehipassiko opaneyyiko paccattaṁ veditabbo viññūhi …pe….
Puna caparaṁ, upavāṇa, bhikkhu jivhāya rasaṁ sāyitvā rasappaṭisaṁvedī ca hoti rasarāgappaṭisaṁvedī ca.
Santañca ajjhattaṁ rasesu rāgaṁ ‘atthi me ajjhattaṁ rasesu rāgo’ti pajānāti.
Yaṁ taṁ, upavāṇa, bhikkhu jivhāya rasaṁ sāyitvā rasappaṭisaṁvedī ca hoti rasarāgappaṭisaṁvedī ca.
Santañca ajjhattaṁ rasesu rāgaṁ ‘atthi me ajjhattaṁ rasesu rāgo’ti pajānāti. Evampi kho, upavāṇa, sandiṭṭhiko dhammo hoti akāliko ehipassiko opaneyyiko paccattaṁ veditabbo viññūhi …pe….
Puna caparaṁ, upavāṇa, bhikkhu manasā dhammaṁ viññāya dhammappaṭisaṁvedī ca hoti dhammarāgappaṭisaṁvedī ca.
Santañca ajjhattaṁ dhammesu rāgaṁ ‘atthi me ajjhattaṁ dhammesu rāgo’ti pajānāti.
Yaṁ taṁ, upavāṇa, bhikkhu manasā dhammaṁ viññāya dhammappaṭisaṁvedī ca hoti dhammarāgappaṭisaṁvedī ca.
Santañca ajjhattaṁ dhammesu rāgaṁ ‘atthi me ajjhattaṁ dhammesu rāgo’ti pajānāti.
Evampi kho, upavāṇa, sandiṭṭhiko dhammo hoti …pe… paccattaṁ veditabbo viññūhi …pe….
Idha pana, upavāṇa, bhikkhu cakkhunā rūpaṁ disvā rūpappaṭisaṁvedī ca hoti, no ca rūparāgappaṭisaṁvedī.
Asantañca ajjhattaṁ rūpesu rāgaṁ ‘natthi me ajjhattaṁ rūpesu rāgo’ti pajānāti.
Yaṁ taṁ, upavāṇa, bhikkhu cakkhunā rūpaṁ disvā rūpappaṭisaṁvedīhi kho hoti, no ca rūparāgappaṭisaṁvedī.
Asantañca ajjhattaṁ rūpesu rāgaṁ ‘natthi me ajjhattaṁ rūpesu rāgo’ti pajānāti.
Evampi kho, upavāṇa, sandiṭṭhiko dhammo hoti, akāliko ehipassiko opaneyyiko paccattaṁ veditabbo viññūhi …pe….
Puna caparaṁ, upavāṇa, bhikkhu jivhāya rasaṁ sāyitvā rasappaṭisaṁvedīhi kho hoti, no ca rasarāgappaṭisaṁvedī. Asantañca ajjhattaṁ rasesu rāgaṁ ‘natthi me ajjhattaṁ rasesu rāgo’ti pajānāti …pe….
Puna caparaṁ, upavāṇa, bhikkhu manasā dhammaṁ viññāya dhammappaṭisaṁvedīhi kho hoti, no ca dhammarāgappaṭisaṁvedī.
Asantañca ajjhattaṁ dhammesu rāgaṁ ‘natthi me ajjhattaṁ dhammesu rāgo’ti pajānāti.
Yaṁ taṁ, upavāṇa, bhikkhu manasā dhammaṁ viññāya dhammappaṭisaṁvedīhi kho hoti, no ca dhammarāgappaṭisaṁvedī.
Asantañca ajjhattaṁ dhammesu rāgaṁ ‘natthi me ajjhattaṁ dhammesu rāgo’ti pajānāti.
Evampi kho, upavāṇa, sandiṭṭhiko dhammo hoti, akāliko ehipassiko opaneyyiko paccattaṁ veditabbo viññūhī”ti.
Aṭṭhamaṁ.
SC 1Then the Venerable Upavaṇa approached the Blessed One … and said to him: “Venerable sir, it is said, ‘the directly visible Dhamma, the directly visible Dhamma.’ In what way, venerable sir, is the Dhamma directly visible, immediate, inviting one to come and see, applicable, to be personally experienced by the wise?”
SC 2“Here, Upavaṇa, having seen a form with the eye, a bhikkhu experiences the form as well as lust for the form. He understands that lust for forms exists internally thus: ‘There is in me lust for forms internally.’ Since that is so, Upavaṇa, the Dhamma is directly visible, immediate, inviting one to come and see, applicable, to be personally experienced by the wise. sn.iv.42
SC 3“Further, Upavaṇa, having heard a sound with the ear … having cognized a mental phenomenon with the mind, a bhikkhu experiences the mental phenomenon as well as lust for the mental phenomenon. He understands that lust for mental phenomena exists internally thus: ‘There is in me lust for mental phenomena internally.’ Since that is so, Upavaṇa, the Dhamma is directly visible, immediate, inviting one to come and see, applicable, to be personally experienced by the wise.
SC 4“But here, Upavaṇa, having seen a form with the eye, a bhikkhu experiences the form without experiencing lust for the form. He understands that lust for forms does not exist internally thus: ‘There is in me no lust for forms internally.’ Since that is so, Upavaṇa, the Dhamma is directly visible, immediate, inviting one to come and see, applicable, to be personally experienced by the wise.
SC 5“Further, Upavaṇa, having heard a sound with the ear … sn.iv.43 … having cognized a mental phenomenon with the mind, a bhikkhu experiences the mental phenomenon without experiencing lust for the mental phenomenon. He understands that lust for mental phenomena does not exist internally thus: ‘There is in me no lust for mental phenomena internally.’ Since that is so, Upavaṇa, the Dhamma is directly visible, immediate, inviting one to come and see, applicable, to be personally experienced by the wise.”
Vi-n 1 …
Vi-n 2 Rồi Tôn giả Upavāna đi đến Thế Tôn …
Vi-n 3 Ngồi xuống một bên, Tôn giả Upavāna bạch Thế Tôn:
: “Thiết thực hiện tại, thiết thực hiện tại (Sanditthika)”, bạch Thế Tôn, như vậy được nói đến. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, là thiết thực hiện tại, có kết quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được những người có trí tự mình giác hiểu?
Vi-n 4 —Ở đây, này Upavāna, sau khi mắt thấy sắc, Tỷ-kheo cảm thọ sắc và cảm thọ tham sắc có nội tham đối với các sắc; vị ấy biết rõ: “Tôi có nội tham đối với các sắc”. Cho đến chừng nào sau khi mắt thấy sắc, Tỷ-kheo cảm thọ sắc và cảm thọ tham sắc, và có nội tham đối với các sắc; vị ấy biết rõ: “Tôi có nội tham đối với các sắc”. Như vậy, này Upavāna, là thiết thực hiện tại, có kết quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được những người trí tự mình giác hiểu.
Vi-n 5-6. Lại nữa, này Upavāna, Tỷ-kheo sau khi tai nghe tiếng … sau khi mũi ngửi hương …
Vi-n 7-8. Lại nữa, này Upavāna, Tỷ-kheo sau khi lưỡi nếm vị … thân cảm xúc …
Vi-n 9 Lại nữa, này Upavāna, sau khi ý nhận biết pháp, Tỷ-kheo cảm thọ pháp và cảm thọ tham pháp, và có nội tham đối với các pháp; vị ấy biết rõ: “Tôi có nội tham đối với các pháp”. Cho đến chừng nào sau khi ý nhận biết pháp, Tỷ-kheo cảm thọ pháp và cảm thọ tham pháp, và có nội tham đối với các pháp; vị ấy biết rõ: “Tôi có nội tham đối với các pháp”. Như vậy, này Upavāna, là thiết thực hiện tại, có kết quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được những người trí tự mình giác hiểu.
Vi-n 10 Ở đấy, này Upavāna, sau khi mắt thấy sắc, Tỷ-kheo cảm thọ sắc, nhưng không cảm thọ tham sắc, và không có nội tham đối với sắc; vị ấy biết rõ: “Tôi không có nội tham đối với sắc”. Cho đến chừng nào, này Upavāna, sau khi mắt thấy sắc, Tỷ-kheo cảm thọ sắc, nhưng không cảm thọ tham sắc, và không có nội tham đối với các sắc; vị ấy biết rõ: “Tôi không có nội tham đối với các sắc”. Như vậy, này Upavāna, là thiết thực hiện tại, có kết quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được những người trí tự mình giác hiểu.
Vi-n 11-14. Lại nữa, này Upavāna, Tỷ-kheo sau khi tai nghe tiếng … mũi ngửi hương … lưỡi nếm vị … thân cảm xúc …
Vi-n 15 Lại nữa, này Upavāna, sau khi ý nhận thức pháp, Tỷ-kheo cảm thọ pháp nhưng không cảm thọ tham pháp, và không có nội tham đối với pháp; vị ấy biết rõ: “Tôi không có nội tham đối với pháp”. Cho đến chừng nào, này Upavāna, Tỷ-kheo sau khi ý nhận thức pháp, cảm thọ pháp nhưng không cảm thọ tham pháp, và không có nội tham đối với pháp; vị ấy biết rõ: “Tôi không có nội tham đối với pháp”. Như vậy, này Upavāna, là thiết thực hiện tại, có kết quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, chỉ những người có trí tự mình giác hiểu.
Atha kho āyasmā upavāṇo yena bhagavā tenupasaṅkami …pe…
ekamantaṁ nisinno kho āyasmā upavāṇo bhagavantaṁ etadavoca:
“‘sandiṭṭhiko dhammo, sandiṭṭhiko dhammo’ti, bhante, vuccati.
Kittāvatā nu kho, bhante, sandiṭṭhiko dhammo hoti, akāliko ehipassiko opaneyyiko paccattaṁ veditabbo viññūhī”ti?
“Idha pana, upavāṇa, bhikkhu cakkhunā rūpaṁ disvā rūpappaṭisaṁvedī ca hoti rūparāgappaṭisaṁvedī ca.
Santañca ajjhattaṁ rūpesu rāgaṁ ‘atthi me ajjhattaṁ rūpesu rāgo’ti pajānāti.
Yaṁ taṁ, upavāṇa, bhikkhu cakkhunā rūpaṁ disvā rūpappaṭisaṁvedī ca hoti rūparāgappaṭisaṁvedī ca.
Santañca ajjhattaṁ rūpesu rāgaṁ ‘atthi me ajjhattaṁ rūpesu rāgo’ti pajānāti.
Evampi kho, upavāṇa, sandiṭṭhiko dhammo hoti akāliko ehipassiko opaneyyiko paccattaṁ veditabbo viññūhi …pe….
Puna caparaṁ, upavāṇa, bhikkhu jivhāya rasaṁ sāyitvā rasappaṭisaṁvedī ca hoti rasarāgappaṭisaṁvedī ca.
Santañca ajjhattaṁ rasesu rāgaṁ ‘atthi me ajjhattaṁ rasesu rāgo’ti pajānāti.
Yaṁ taṁ, upavāṇa, bhikkhu jivhāya rasaṁ sāyitvā rasappaṭisaṁvedī ca hoti rasarāgappaṭisaṁvedī ca.
Santañca ajjhattaṁ rasesu rāgaṁ ‘atthi me ajjhattaṁ rasesu rāgo’ti pajānāti. Evampi kho, upavāṇa, sandiṭṭhiko dhammo hoti akāliko ehipassiko opaneyyiko paccattaṁ veditabbo viññūhi …pe….
Puna caparaṁ, upavāṇa, bhikkhu manasā dhammaṁ viññāya dhammappaṭisaṁvedī ca hoti dhammarāgappaṭisaṁvedī ca.
Santañca ajjhattaṁ dhammesu rāgaṁ ‘atthi me ajjhattaṁ dhammesu rāgo’ti pajānāti.
Yaṁ taṁ, upavāṇa, bhikkhu manasā dhammaṁ viññāya dhammappaṭisaṁvedī ca hoti dhammarāgappaṭisaṁvedī ca.
Santañca ajjhattaṁ dhammesu rāgaṁ ‘atthi me ajjhattaṁ dhammesu rāgo’ti pajānāti.
Evampi kho, upavāṇa, sandiṭṭhiko dhammo hoti …pe… paccattaṁ veditabbo viññūhi …pe….
Idha pana, upavāṇa, bhikkhu cakkhunā rūpaṁ disvā rūpappaṭisaṁvedī ca hoti, no ca rūparāgappaṭisaṁvedī.
Asantañca ajjhattaṁ rūpesu rāgaṁ ‘natthi me ajjhattaṁ rūpesu rāgo’ti pajānāti.
Yaṁ taṁ, upavāṇa, bhikkhu cakkhunā rūpaṁ disvā rūpappaṭisaṁvedīhi kho hoti, no ca rūparāgappaṭisaṁvedī.
Asantañca ajjhattaṁ rūpesu rāgaṁ ‘natthi me ajjhattaṁ rūpesu rāgo’ti pajānāti.
Evampi kho, upavāṇa, sandiṭṭhiko dhammo hoti, akāliko ehipassiko opaneyyiko paccattaṁ veditabbo viññūhi …pe….
Puna caparaṁ, upavāṇa, bhikkhu jivhāya rasaṁ sāyitvā rasappaṭisaṁvedīhi kho hoti, no ca rasarāgappaṭisaṁvedī. Asantañca ajjhattaṁ rasesu rāgaṁ ‘natthi me ajjhattaṁ rasesu rāgo’ti pajānāti …pe….
Puna caparaṁ, upavāṇa, bhikkhu manasā dhammaṁ viññāya dhammappaṭisaṁvedīhi kho hoti, no ca dhammarāgappaṭisaṁvedī.
Asantañca ajjhattaṁ dhammesu rāgaṁ ‘natthi me ajjhattaṁ dhammesu rāgo’ti pajānāti.
Yaṁ taṁ, upavāṇa, bhikkhu manasā dhammaṁ viññāya dhammappaṭisaṁvedīhi kho hoti, no ca dhammarāgappaṭisaṁvedī.
Asantañca ajjhattaṁ dhammesu rāgaṁ ‘natthi me ajjhattaṁ dhammesu rāgo’ti pajānāti.
Evampi kho, upavāṇa, sandiṭṭhiko dhammo hoti, akāliko ehipassiko opaneyyiko paccattaṁ veditabbo viññūhī”ti.
Aṭṭhamaṁ.