Vi-n 1 Ở Sāvatthī.
Vi-n 2 —Này các Tỷ-kheo. Ta sẽ thuyết về bốn mươi bốn căn bản của trí cho các ông. Hãy nghe và khéo suy nghiệm, Ta sẽ nói.
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.
Vi-n 3 Thế Tôn nói như sau:
—Và này các Tỷ-kheo, thế nào là bốn mươi bốn căn bản của trí?
Vi-n 4 Già chết trí, già chết tập trí, già chết diệt trí, trí về con đường đưa đến già chết diệt.
Vi-n 5 Sanh trí, sanh tập trí, sanh diệt trí, trí về con đường đưa đến sanh diệt.
Vi-n 6 Hữu trí, hữu tập trí, hữu diệt trí, trí về con đường đưa đến hữu diệt.
Vi-n 7 Thủ trí, thủ tập trí, thủ diệt trí, trí về con đường đưa đến thủ diệt.
Vi-n 8 Ái trí, ái tập trí, ái diệt trí, trí về con đường đưa đến ái diệt.
Vi-n 9 Thọ trí, thọ tập trí, thọ diệt trí, trí về con đường đưa đến thọ diệt.
Vi-n 10 Xúc trí…
Vi-n 11 Sáu xứ trí…
Vi-n 12 Danh sắc trí…
Vi-n 13 Thức trí…
Vi-n 14 Hành trí, hành tập trí, hành diệt trí, trí về con đường đưa đến hành diệt.
Này các Tỷ-kheo, đây gọi là bốn mươi bốn căn bản của trí.
Vi-n 15 Này các Tỷ-kheo, thế nào là già chết? Cái gì thuộc về chúng sanh này hay chúng sanh khác, thuộc bộ loại chúng sanh này hay bộ loại chúng sanh khác, bị già yếu, suy nhược, răng rụng, tóc bạc, da nhăn, tuổi thọ đồi bại, các căn chín muồi; đây gọi là già. Cái gì thuộc chúng sanh này hay chúng sanh khác, thuộc bộ loại chúng sanh này hay thuộc bộ loại chúng sanh khác, bị hoại diệt, hủy hoại, tiêu mất, tử vong, các uẩn tàn lụn, thân thể hoại diệt, vất bỏ; đây gọi là chết. Như vậy là già, đây là chết. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là già chết.
Vi-n 16 Do sanh tập khởi nên già chết tập khởi. Do sanh diệt nên già chết diệt. Ðây là Thánh đạo tám ngành đưa đến già chết diệt; tức là chánh tri kiến… chánh định.
Vi-n 17 Này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử biết già chết như vậy, biết già chết tập khởi như vậy, biết già chết diệt như vậy, biết con đường đưa đến già chết diệt như vậy.
Vi-n 18 Ðây là pháp trí của vị ấy. Vị ấy với pháp này được thấy, được biết, được quả tức thời, được đạt đến, được thể nhập (pariyogāḷhena) hướng dẫn thái độ (nayaṁ) của mình đối với quá khứ và tương lai.
Vi-n 19 Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong quá khứ đã hiểu rõ già chết, đã hiểu rõ già chết tập khởi, đã hiểu rõ già chết diệt, đã hiểu rõ con đường đưa đến già chết diệt, tất cả những vị ấy đều hiểu biết như vậy, như vậy; như hiện nay Ta vậy.
Vi-n 20 Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong tương lai sẽ hiểu rõ (abhijānissanti) già chết, sẽ hiểu rõ già chết tập khởi, sẽ hiểu rõ già chết diệt, sẽ hiểu rõ con đường đưa đến già chết diệt, tất cả những vị ấy sẽ hiểu biết như vậy, như vậy; như hiện nay Ta vậy. Ðây tức là tùy trí (anvaye ñāṇaṁ) của vị ấy.
Vi-n 21 Này các Tỷ-kheo, vì rằng vị Thánh đệ tử được thanh tịnh và thuần tịnh hai loại trí, pháp trí và tùy trí; này các Tỷ-kheo, vị ấy được gọi là Thánh đệ tử đạt tri kiến, (diṭṭhisampanno) đạt kiến, đã đi đến diệu pháp này, đã thấy diệu pháp này, đã đầy đủ hữu học trí, đã đầy đủ hữu học minh, đã nhập được pháp lưu, là bậc Thánh minh đạt tuệ (nibbedhikapañño), đã đứng gõ vào cửa bất tử.
Vi-n 22 Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sanh?…
Vi-n 23 Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hữu?…
Vi-n 24 Và này các Tỷ-kheo, thế nào là thủ?…
Vi-n 25 Và này các Tỷ-kheo, thế nào là ái?…
Vi-n 26 Và này các Tỷ-kheo, thế nào là thọ?…
Vi-n 27 Và này các Tỷ-kheo, thế nào là xúc?…
Vi-n 28 Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sáu xứ?…
Vi-n 29 Và này các Tỷ-kheo, thế nào là danh sắc?…
Vi-n 30 Và này các Tỷ-kheo, thế nào là thức?…
Vi-n 31 Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hành? Có ba hành này, này các Tỷ-kheo, thân hành, khẩu hành, ý hành. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là hành.
Vi-n 32 Do vô minh tập khởi, hành tập khởi. Do vô minh diệt, hành diệt. Ðây là Thánh đạo tám ngành, con đường đưa đến hành diệt; tức là chánh tri kiến… chánh định.
Vi-n 33 Vì rằng này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử biết hành như vậy, biết hành tập khởi như vậy, biết hành diệt như vậy, biết con đường đưa đến hành diệt như vậy. Ðây là pháp trí của vị ấy, vị ấy với pháp này được thấy, được biết, được quả tức thời, được đạt đến, được thể nhập, hướng dẫn thái độ (nayaṁ) của mình đối với quá khứ, tương lai.
Vi-n 34 Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong quá khứ đã hiểu rõ các hành, đã hiểu rõ hành tập khởi, đã hiểu rõ hành diệt, đã hiểu rõ con đường đưa đến hành diệt; tất cả những vị ấy đều hiểu biết như vậy, như vậy; như hiện nay Ta vậy.
Vi-n 35 Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong tương lai sẽ hiểu rõ các hành, sẽ hiểu rõ hành tập khởi, sẽ hiểu rõ hành diệt, sẽ hiểu rõ con đường đưa đến hành diệt, tất cả những vị ấy sẽ hiểu biết như vậy; như vậy, như hiện nay Ta vậy. Ðây tức là tùy trí của vị ấy.
Vi-n 36 Này các Tỷ-kheo, vì rằng vị Thánh đệ tử được thanh tịnh, thuần tịnh hai loại trí, pháp trí và tùy trí; này các Tỷ-kheo, vị ấy được gọi là vị Thánh đệ tử đạt tri kiến, đạt kiến, đã đi đến diệu pháp này, thấy diệu pháp này, đầy đủ hữu học trí, đã đầy đủ hữu học minh, đã nhập được pháp lưu, là bậc Thánh minh đạt tuệ, đã đứng gõ vào cửa bất tử.
Sāvatthiyaṁ …
“Catucattārīsaṁ vo, bhikkhave, ñāṇavatthūni desessāmi,
taṁ suṇātha, sādhukaṁ manasi karotha, bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ.
Bhagavā etadavoca:
“Katamāni, bhikkhave, catucattārīsaṁ ñāṇavatthūni?
Jarāmaraṇe ñāṇaṁ, jarāmaraṇasamudaye ñāṇaṁ, jarāmaraṇanirodhe ñāṇaṁ, jarāmaraṇanirodhagāminiyā paṭipadāya ñāṇaṁ;
jātiyā ñāṇaṁ, jātisamudaye ñāṇaṁ, jātinirodhe ñāṇaṁ, jātinirodhagāminiyā paṭipadāya ñāṇaṁ;
bhave ñāṇaṁ, bhavasamudaye ñāṇaṁ, bhavanirodhe ñāṇaṁ, bhavanirodhagāminiyā paṭipadāya ñāṇaṁ;
upādāne ñāṇaṁ, upādānasamudaye ñāṇaṁ, upādānanirodhe ñāṇaṁ, upādānanirodhagāminiyā paṭipadāya ñāṇaṁ;
taṇhāya ñāṇaṁ, taṇhāsamudaye ñāṇaṁ, taṇhānirodhe ñāṇaṁ, taṇhānirodhagāminiyā paṭipadāya ñāṇaṁ;
vedanāya ñāṇaṁ, vedanāsamudaye ñāṇaṁ, vedanānirodhe ñāṇaṁ, vedanānirodhagāminiyā paṭipadāya ñāṇaṁ;
phasse ñāṇaṁ …pe…
saḷāyatane ñāṇaṁ …
nāmarūpe ñāṇaṁ …
viññāṇe ñāṇaṁ …
saṅkhāresu ñāṇaṁ, saṅkhārasamudaye ñāṇaṁ, saṅkhāranirodhe ñāṇaṁ, saṅkhāranirodhagāminiyā paṭipadāya ñāṇaṁ.
Imāni vuccanti, bhikkhave, catucattārīsaṁ ñāṇavatthūni.
Katamañca, bhikkhave, jarāmaraṇaṁ?
Yā tesaṁ tesaṁ sattānaṁ tamhi tamhi sattanikāye jarā jīraṇatā khaṇḍiccaṁ pāliccaṁ valittacatā āyuno saṁhāni indriyānaṁ paripāko,
ayaṁ vuccati jarā.
Yā tesaṁ tesaṁ sattānaṁ tamhā tamhā sattanikāyā cuti cavanatā bhedo antaradhānaṁ maccu maraṇaṁ kālakiriyā khandhānaṁ bhedo kaḷevarassa nikkhepo.
Idaṁ vuccati maraṇaṁ.
Iti ayañca jarā, idañca maraṇaṁ;
idaṁ vuccati, bhikkhave, jarāmaraṇaṁ.
Jātisamudayā jarāmaraṇasamudayo;
jātinirodhā jarāmaraṇanirodho;
ayameva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo jarāmaraṇanirodhagāminī paṭipadā, seyyathidaṁ—
sammādiṭṭhi …pe… sammāsamādhi.
Yato kho, bhikkhave, ariyasāvako evaṁ jarāmaraṇaṁ pajānāti, evaṁ jarāmaraṇasamudayaṁ pajānāti, evaṁ jarāmaraṇanirodhaṁ pajānāti, evaṁ jarāmaraṇanirodhagāminiṁ paṭipadaṁ pajānāti, idamassa dhamme ñāṇaṁ.
So iminā dhammena diṭṭhena viditena akālikena pattena pariyogāḷhena atītānāgate nayaṁ neti.
Ye kho keci atītamaddhānaṁ samaṇā vā brāhmaṇā vā jarāmaraṇaṁ abbhaññaṁsu, jarāmaraṇasamudayaṁ abbhaññaṁsu, jarāmaraṇanirodhaṁ abbhaññaṁsu, jarāmaraṇanirodhagāminiṁ paṭipadaṁ abbhaññaṁsu, sabbete evameva abbhaññaṁsu, seyyathāpāhaṁ etarahi.
Yepi hi keci anāgatamaddhānaṁ samaṇā vā brāhmaṇā vā jarāmaraṇaṁ abhijānissanti, jarāmaraṇasamudayaṁ abhijānissanti, jarāmaraṇanirodhaṁ abhijānissanti, jarāmaraṇanirodhagāminiṁ paṭipadaṁ abhijānissanti, sabbete evameva abhijānissanti, seyyathāpāhaṁ etarahīti.
Idamassa anvaye ñāṇaṁ.
Yato kho, bhikkhave, ariyasāvakassa imāni dve ñāṇāni parisuddhāni honti pariyodātāni—
dhamme ñāṇañca anvaye ñāṇañca.
Ayaṁ vuccati, bhikkhave, ariyasāvako diṭṭhisampanno itipi, dassanasampanno itipi, āgato imaṁ saddhammaṁ itipi, passati imaṁ saddhammaṁ itipi, sekkhena ñāṇena samannāgato itipi, sekkhāya vijjāya samannāgato itipi, dhammasotaṁ samāpanno itipi, ariyo nibbedhikapañño itipi, amatadvāraṁ āhacca tiṭṭhati itipīti.
Katamā ca, bhikkhave, jāti …
katamo ca, bhikkhave, bhavo …
katamañca, bhikkhave, upādānaṁ …
katamā ca, bhikkhave, taṇhā …
katamā ca, bhikkhave, vedanā …
katamo ca, bhikkhave, phasso …
katamañca, bhikkhave, saḷāyatanaṁ …
katamañca, bhikkhave, nāmarūpaṁ …
katamañca, bhikkhave, viññāṇaṁ …
katame ca, bhikkhave, saṅkhārā?
Tayome, bhikkhave, saṅkhārā—
kāyasaṅkhāro, vacīsaṅkhāro, cittasaṅkhāroti.
Ime vuccanti, bhikkhave, saṅkhārā.
Avijjāsamudayā saṅkhārasamudayo;
avijjānirodhā saṅkhāranirodho;
ayameva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo saṅkhāranirodhagāminī paṭipadā, seyyathidaṁ—
sammādiṭṭhi …pe… sammāsamādhi.
Yato kho, bhikkhave, ariyasāvako evaṁ saṅkhāre pajānāti, evaṁ saṅkhārasamudayaṁ pajānāti, evaṁ saṅkhāranirodhaṁ pajānāti, evaṁ saṅkhāranirodhagāminiṁ paṭipadaṁ pajānāti, idamassa dhamme ñāṇaṁ.
So iminā dhammena diṭṭhena viditena akālikena pattena pariyogāḷhena atītānāgate nayaṁ neti.
Ye kho keci atītamaddhānaṁ samaṇā vā brāhmaṇā vā saṅkhāre abbhaññaṁsu, saṅkhārasamudayaṁ abbhaññaṁsu, saṅkhāranirodhaṁ abbhaññaṁsu, saṅkhāranirodhagāminiṁ paṭipadaṁ abbhaññaṁsu, sabbete evameva abbhaññaṁsu, seyyathāpāhaṁ etarahi.
Ye hipi keci anāgatamaddhānaṁ samaṇā vā brāhmaṇā vā saṅkhāre abhijānissanti, saṅkhārasamudayaṁ abhijānissanti, saṅkhāranirodhaṁ abhijānissanti, saṅkhāranirodhagāminiṁ paṭipadaṁ abhijānissanti, sabbete evameva abhijānissanti, seyyathāpāhaṁ etarahi.
Idamassa anvaye ñāṇaṁ.
Yato kho, bhikkhave, ariyasāvakassa imāni dve ñāṇāni parisuddhāni honti pariyodātāni—
dhamme ñāṇañca anvaye ñāṇañca.
Ayaṁ vuccati, bhikkhave, ariyasāvako diṭṭhisampanno itipi, dassanasampanno itipi, āgato imaṁ saddhammaṁ itipi, passati imaṁ saddhammaṁ itipi, sekkhena ñāṇena samannāgato itipi, sekkhāya vijjāya samannāgato itipi, dhammasotaṁ samāpanno itipi, ariyo nibbedhikapañño itipi, amatadvāraṁ āhacca tiṭṭhati itipī”ti.
Tatiyaṁ.
SC 1At Savatthī. “Bhikkhus, I will teach you forty-four cases of knowledge. Listen to that and attend closely, I will speak.”
SC 2“Yes, venerable sir,” those bhikkhus replied. The Blessed One said this:
SC 3“Bhikkhus, what are the forty-four cases of knowledge? sn.ii.57 Knowledge of aging-and-death, knowledge of its origin, knowledge of its cessation, knowledge of the way leading to its cessation. Knowledge of birth … Knowledge of existence … Knowledge of clinging … Knowledge of craving … Knowledge of feeling … Knowledge of contact … Knowledge of the six sense bases … Knowledge of name-and-form … Knowledge of consciousness … Knowledge of volitional formations, knowledge of their origin, knowledge of their cessation, knowledge of the way leading to their cessation. These, bhikkhus, are the forty-four cases of knowledge.
SC 4“And what, bhikkhus, is aging-and-death?… definition as in §2 … Thus this aging and this death are together called aging-and-death. With the arising of birth there is the arising of aging-and-death. With the cessation of birth there is the cessation of aging-and-death. This Noble Eightfold Path is the way leading to the cessation of aging-and-death; that is, right view … right concentration.
SC 5“When, bhikkhus, a noble disciple thus understands aging-and-death, its origin, sn.ii.58 its cessation, and the way leading to its cessation, this is his knowledge of the principle. By means of this principle that is seen, understood, immediately attained, fathomed, he applies the method to the past and to the future thus: ‘Whatever ascetics and brahmins in the past directly knew aging-and-death, its origin, its cessation, and the way leading to its cessation, all these directly knew it in the very same way that I do now. Whatever ascetics and brahmins in the future will directly know aging-and-death, its origin, its cessation, and the way leading to its cessation, all these will directly know it in the very same way that I do now.’ This is his knowledge of entailment.
SC 6“When, bhikkhus, a noble disciple has purified and cleansed these two kinds of knowledge—knowledge of the principle and knowledge of entailment—he is then called a noble disciple who is accomplished in view, accomplished in vision, who has arrived at this true Dhamma, who sees this true Dhamma, who possesses a trainee’s knowledge, a trainee’s true knowledge, who has entered the stream of the Dhamma, a noble one with penetrative wisdom, one who stands squarely before the door to the Deathless.
SC 7“And what, bhikkhus, is birth?… What are the volitional formations? … definitions as in §2 sn.ii.59 … This Noble Eightfold Path is the way leading to the cessation of volitional formations; that is, right view … right concentration.
SC 8“When, bhikkhus, a noble disciple thus understands volitional formations, their origin, their cessation, and the way leading to their cessation, this is his knowledge of the principle. By means of this principle that is seen, understood, immediately attained, fathomed, he applies the method to the past and to the future…. This is his knowledge of entailment.
SC 9“When, bhikkhus, a noble disciple has purified and cleansed these two kinds of knowledge—knowledge of the principle and knowledge of entailment—he is then called a noble disciple who is accomplished in view … one who stands squarely before the door to the Deathless.”
Vi-n 1 Ở Sāvatthī.
Vi-n 2 —Này các Tỷ-kheo. Ta sẽ thuyết về bốn mươi bốn căn bản của trí cho các ông. Hãy nghe và khéo suy nghiệm, Ta sẽ nói.
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.
Vi-n 3 Thế Tôn nói như sau:
—Và này các Tỷ-kheo, thế nào là bốn mươi bốn căn bản của trí?
Vi-n 4 Già chết trí, già chết tập trí, già chết diệt trí, trí về con đường đưa đến già chết diệt.
Vi-n 5 Sanh trí, sanh tập trí, sanh diệt trí, trí về con đường đưa đến sanh diệt.
Vi-n 6 Hữu trí, hữu tập trí, hữu diệt trí, trí về con đường đưa đến hữu diệt.
Vi-n 7 Thủ trí, thủ tập trí, thủ diệt trí, trí về con đường đưa đến thủ diệt.
Vi-n 8 Ái trí, ái tập trí, ái diệt trí, trí về con đường đưa đến ái diệt.
Vi-n 9 Thọ trí, thọ tập trí, thọ diệt trí, trí về con đường đưa đến thọ diệt.
Vi-n 10 Xúc trí…
Vi-n 11 Sáu xứ trí…
Vi-n 12 Danh sắc trí…
Vi-n 13 Thức trí…
Vi-n 14 Hành trí, hành tập trí, hành diệt trí, trí về con đường đưa đến hành diệt.
Này các Tỷ-kheo, đây gọi là bốn mươi bốn căn bản của trí.
Vi-n 15 Này các Tỷ-kheo, thế nào là già chết? Cái gì thuộc về chúng sanh này hay chúng sanh khác, thuộc bộ loại chúng sanh này hay bộ loại chúng sanh khác, bị già yếu, suy nhược, răng rụng, tóc bạc, da nhăn, tuổi thọ đồi bại, các căn chín muồi; đây gọi là già. Cái gì thuộc chúng sanh này hay chúng sanh khác, thuộc bộ loại chúng sanh này hay thuộc bộ loại chúng sanh khác, bị hoại diệt, hủy hoại, tiêu mất, tử vong, các uẩn tàn lụn, thân thể hoại diệt, vất bỏ; đây gọi là chết. Như vậy là già, đây là chết. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là già chết.
Vi-n 16 Do sanh tập khởi nên già chết tập khởi. Do sanh diệt nên già chết diệt. Ðây là Thánh đạo tám ngành đưa đến già chết diệt; tức là chánh tri kiến… chánh định.
Vi-n 17 Này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử biết già chết như vậy, biết già chết tập khởi như vậy, biết già chết diệt như vậy, biết con đường đưa đến già chết diệt như vậy.
Vi-n 18 Ðây là pháp trí của vị ấy. Vị ấy với pháp này được thấy, được biết, được quả tức thời, được đạt đến, được thể nhập (pariyogāḷhena) hướng dẫn thái độ (nayaṁ) của mình đối với quá khứ và tương lai.
Vi-n 19 Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong quá khứ đã hiểu rõ già chết, đã hiểu rõ già chết tập khởi, đã hiểu rõ già chết diệt, đã hiểu rõ con đường đưa đến già chết diệt, tất cả những vị ấy đều hiểu biết như vậy, như vậy; như hiện nay Ta vậy.
Vi-n 20 Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong tương lai sẽ hiểu rõ (abhijānissanti) già chết, sẽ hiểu rõ già chết tập khởi, sẽ hiểu rõ già chết diệt, sẽ hiểu rõ con đường đưa đến già chết diệt, tất cả những vị ấy sẽ hiểu biết như vậy, như vậy; như hiện nay Ta vậy. Ðây tức là tùy trí (anvaye ñāṇaṁ) của vị ấy.
Vi-n 21 Này các Tỷ-kheo, vì rằng vị Thánh đệ tử được thanh tịnh và thuần tịnh hai loại trí, pháp trí và tùy trí; này các Tỷ-kheo, vị ấy được gọi là Thánh đệ tử đạt tri kiến, (diṭṭhisampanno) đạt kiến, đã đi đến diệu pháp này, đã thấy diệu pháp này, đã đầy đủ hữu học trí, đã đầy đủ hữu học minh, đã nhập được pháp lưu, là bậc Thánh minh đạt tuệ (nibbedhikapañño), đã đứng gõ vào cửa bất tử.
Vi-n 22 Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sanh?…
Vi-n 23 Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hữu?…
Vi-n 24 Và này các Tỷ-kheo, thế nào là thủ?…
Vi-n 25 Và này các Tỷ-kheo, thế nào là ái?…
Vi-n 26 Và này các Tỷ-kheo, thế nào là thọ?…
Vi-n 27 Và này các Tỷ-kheo, thế nào là xúc?…
Vi-n 28 Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sáu xứ?…
Vi-n 29 Và này các Tỷ-kheo, thế nào là danh sắc?…
Vi-n 30 Và này các Tỷ-kheo, thế nào là thức?…
Vi-n 31 Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hành? Có ba hành này, này các Tỷ-kheo, thân hành, khẩu hành, ý hành. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là hành.
Vi-n 32 Do vô minh tập khởi, hành tập khởi. Do vô minh diệt, hành diệt. Ðây là Thánh đạo tám ngành, con đường đưa đến hành diệt; tức là chánh tri kiến… chánh định.
Vi-n 33 Vì rằng này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử biết hành như vậy, biết hành tập khởi như vậy, biết hành diệt như vậy, biết con đường đưa đến hành diệt như vậy. Ðây là pháp trí của vị ấy, vị ấy với pháp này được thấy, được biết, được quả tức thời, được đạt đến, được thể nhập, hướng dẫn thái độ (nayaṁ) của mình đối với quá khứ, tương lai.
Vi-n 34 Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong quá khứ đã hiểu rõ các hành, đã hiểu rõ hành tập khởi, đã hiểu rõ hành diệt, đã hiểu rõ con đường đưa đến hành diệt; tất cả những vị ấy đều hiểu biết như vậy, như vậy; như hiện nay Ta vậy.
Vi-n 35 Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong tương lai sẽ hiểu rõ các hành, sẽ hiểu rõ hành tập khởi, sẽ hiểu rõ hành diệt, sẽ hiểu rõ con đường đưa đến hành diệt, tất cả những vị ấy sẽ hiểu biết như vậy; như vậy, như hiện nay Ta vậy. Ðây tức là tùy trí của vị ấy.
Vi-n 36 Này các Tỷ-kheo, vì rằng vị Thánh đệ tử được thanh tịnh, thuần tịnh hai loại trí, pháp trí và tùy trí; này các Tỷ-kheo, vị ấy được gọi là vị Thánh đệ tử đạt tri kiến, đạt kiến, đã đi đến diệu pháp này, thấy diệu pháp này, đầy đủ hữu học trí, đã đầy đủ hữu học minh, đã nhập được pháp lưu, là bậc Thánh minh đạt tuệ, đã đứng gõ vào cửa bất tử.
Sāvatthiyaṁ …
“Catucattārīsaṁ vo, bhikkhave, ñāṇavatthūni desessāmi,
taṁ suṇātha, sādhukaṁ manasi karotha, bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ.
Bhagavā etadavoca:
“Katamāni, bhikkhave, catucattārīsaṁ ñāṇavatthūni?
Jarāmaraṇe ñāṇaṁ, jarāmaraṇasamudaye ñāṇaṁ, jarāmaraṇanirodhe ñāṇaṁ, jarāmaraṇanirodhagāminiyā paṭipadāya ñāṇaṁ;
jātiyā ñāṇaṁ, jātisamudaye ñāṇaṁ, jātinirodhe ñāṇaṁ, jātinirodhagāminiyā paṭipadāya ñāṇaṁ;
bhave ñāṇaṁ, bhavasamudaye ñāṇaṁ, bhavanirodhe ñāṇaṁ, bhavanirodhagāminiyā paṭipadāya ñāṇaṁ;
upādāne ñāṇaṁ, upādānasamudaye ñāṇaṁ, upādānanirodhe ñāṇaṁ, upādānanirodhagāminiyā paṭipadāya ñāṇaṁ;
taṇhāya ñāṇaṁ, taṇhāsamudaye ñāṇaṁ, taṇhānirodhe ñāṇaṁ, taṇhānirodhagāminiyā paṭipadāya ñāṇaṁ;
vedanāya ñāṇaṁ, vedanāsamudaye ñāṇaṁ, vedanānirodhe ñāṇaṁ, vedanānirodhagāminiyā paṭipadāya ñāṇaṁ;
phasse ñāṇaṁ …pe…
saḷāyatane ñāṇaṁ …
nāmarūpe ñāṇaṁ …
viññāṇe ñāṇaṁ …
saṅkhāresu ñāṇaṁ, saṅkhārasamudaye ñāṇaṁ, saṅkhāranirodhe ñāṇaṁ, saṅkhāranirodhagāminiyā paṭipadāya ñāṇaṁ.
Imāni vuccanti, bhikkhave, catucattārīsaṁ ñāṇavatthūni.
Katamañca, bhikkhave, jarāmaraṇaṁ?
Yā tesaṁ tesaṁ sattānaṁ tamhi tamhi sattanikāye jarā jīraṇatā khaṇḍiccaṁ pāliccaṁ valittacatā āyuno saṁhāni indriyānaṁ paripāko,
ayaṁ vuccati jarā.
Yā tesaṁ tesaṁ sattānaṁ tamhā tamhā sattanikāyā cuti cavanatā bhedo antaradhānaṁ maccu maraṇaṁ kālakiriyā khandhānaṁ bhedo kaḷevarassa nikkhepo.
Idaṁ vuccati maraṇaṁ.
Iti ayañca jarā, idañca maraṇaṁ;
idaṁ vuccati, bhikkhave, jarāmaraṇaṁ.
Jātisamudayā jarāmaraṇasamudayo;
jātinirodhā jarāmaraṇanirodho;
ayameva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo jarāmaraṇanirodhagāminī paṭipadā, seyyathidaṁ—
sammādiṭṭhi …pe… sammāsamādhi.
Yato kho, bhikkhave, ariyasāvako evaṁ jarāmaraṇaṁ pajānāti, evaṁ jarāmaraṇasamudayaṁ pajānāti, evaṁ jarāmaraṇanirodhaṁ pajānāti, evaṁ jarāmaraṇanirodhagāminiṁ paṭipadaṁ pajānāti, idamassa dhamme ñāṇaṁ.
So iminā dhammena diṭṭhena viditena akālikena pattena pariyogāḷhena atītānāgate nayaṁ neti.
Ye kho keci atītamaddhānaṁ samaṇā vā brāhmaṇā vā jarāmaraṇaṁ abbhaññaṁsu, jarāmaraṇasamudayaṁ abbhaññaṁsu, jarāmaraṇanirodhaṁ abbhaññaṁsu, jarāmaraṇanirodhagāminiṁ paṭipadaṁ abbhaññaṁsu, sabbete evameva abbhaññaṁsu, seyyathāpāhaṁ etarahi.
Yepi hi keci anāgatamaddhānaṁ samaṇā vā brāhmaṇā vā jarāmaraṇaṁ abhijānissanti, jarāmaraṇasamudayaṁ abhijānissanti, jarāmaraṇanirodhaṁ abhijānissanti, jarāmaraṇanirodhagāminiṁ paṭipadaṁ abhijānissanti, sabbete evameva abhijānissanti, seyyathāpāhaṁ etarahīti.
Idamassa anvaye ñāṇaṁ.
Yato kho, bhikkhave, ariyasāvakassa imāni dve ñāṇāni parisuddhāni honti pariyodātāni—
dhamme ñāṇañca anvaye ñāṇañca.
Ayaṁ vuccati, bhikkhave, ariyasāvako diṭṭhisampanno itipi, dassanasampanno itipi, āgato imaṁ saddhammaṁ itipi, passati imaṁ saddhammaṁ itipi, sekkhena ñāṇena samannāgato itipi, sekkhāya vijjāya samannāgato itipi, dhammasotaṁ samāpanno itipi, ariyo nibbedhikapañño itipi, amatadvāraṁ āhacca tiṭṭhati itipīti.
Katamā ca, bhikkhave, jāti …
katamo ca, bhikkhave, bhavo …
katamañca, bhikkhave, upādānaṁ …
katamā ca, bhikkhave, taṇhā …
katamā ca, bhikkhave, vedanā …
katamo ca, bhikkhave, phasso …
katamañca, bhikkhave, saḷāyatanaṁ …
katamañca, bhikkhave, nāmarūpaṁ …
katamañca, bhikkhave, viññāṇaṁ …
katame ca, bhikkhave, saṅkhārā?
Tayome, bhikkhave, saṅkhārā—
kāyasaṅkhāro, vacīsaṅkhāro, cittasaṅkhāroti.
Ime vuccanti, bhikkhave, saṅkhārā.
Avijjāsamudayā saṅkhārasamudayo;
avijjānirodhā saṅkhāranirodho;
ayameva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo saṅkhāranirodhagāminī paṭipadā, seyyathidaṁ—
sammādiṭṭhi …pe… sammāsamādhi.
Yato kho, bhikkhave, ariyasāvako evaṁ saṅkhāre pajānāti, evaṁ saṅkhārasamudayaṁ pajānāti, evaṁ saṅkhāranirodhaṁ pajānāti, evaṁ saṅkhāranirodhagāminiṁ paṭipadaṁ pajānāti, idamassa dhamme ñāṇaṁ.
So iminā dhammena diṭṭhena viditena akālikena pattena pariyogāḷhena atītānāgate nayaṁ neti.
Ye kho keci atītamaddhānaṁ samaṇā vā brāhmaṇā vā saṅkhāre abbhaññaṁsu, saṅkhārasamudayaṁ abbhaññaṁsu, saṅkhāranirodhaṁ abbhaññaṁsu, saṅkhāranirodhagāminiṁ paṭipadaṁ abbhaññaṁsu, sabbete evameva abbhaññaṁsu, seyyathāpāhaṁ etarahi.
Ye hipi keci anāgatamaddhānaṁ samaṇā vā brāhmaṇā vā saṅkhāre abhijānissanti, saṅkhārasamudayaṁ abhijānissanti, saṅkhāranirodhaṁ abhijānissanti, saṅkhāranirodhagāminiṁ paṭipadaṁ abhijānissanti, sabbete evameva abhijānissanti, seyyathāpāhaṁ etarahi.
Idamassa anvaye ñāṇaṁ.
Yato kho, bhikkhave, ariyasāvakassa imāni dve ñāṇāni parisuddhāni honti pariyodātāni—
dhamme ñāṇañca anvaye ñāṇañca.
Ayaṁ vuccati, bhikkhave, ariyasāvako diṭṭhisampanno itipi, dassanasampanno itipi, āgato imaṁ saddhammaṁ itipi, passati imaṁ saddhammaṁ itipi, sekkhena ñāṇena samannāgato itipi, sekkhāya vijjāya samannāgato itipi, dhammasotaṁ samāpanno itipi, ariyo nibbedhikapañño itipi, amatadvāraṁ āhacca tiṭṭhati itipī”ti.
Tatiyaṁ.