Vi-n 1 Nhân duyên ở Kapilavatthu.
Vi-n 2-7. … (giống như đoạn số 2–7 kinh trên) …
Vi-n 8 —Nhưng ở đây, này Mahānāma, có người có lòng nhứt hướng sùng tín đức Phật: “Ðây là bậc Ứng Cúng … Phật, Thế Tôn” … đối với Pháp, đối với chúng Tăng, có trí tuệ hoan hỷ, có trí tuệ tốc hành, thành tựu giải thoát. Vị này sau khi đoạn diệt năm hạ phần kiết sử, chứng được Trung gian Bát-niết-bàn, chứng được Tổn hại Bát-niết-bàn, chứng được Vô hành Niết-bàn, chứng được Hữu hành Niết-bàn, chứng được Thượng lưu, sanh ở Sắc cứu cánh thiên. Người này, này Mahānāma, được giải thoát khỏi địa ngục … được giải thoát khỏi cõi dữ, ác thú, đọa xứ.
Vi-n 9 Ở đây, này Mahānāma, có người có lòng nhứt hướng sùng tín đức Phật: “Ðây là bậc Ứng Cúng … đối với Pháp … đối với chúng Tăng, không có trí huệ hoan hỷ, không có trí tuệ tốc hành, không có thành tựu giải thoát. Vị này sau khi đoạn diệt ba kiết sử, làm cho muội lược tham, sân, thành bậc Nhất Lai, chỉ một lần trở lui cõi đời này. Này Mahānāma, người này được giải thoát khỏi địa ngục … được giải thoát khỏi cõi dữ, ác thú, đọa xứ.
Vi-n 10 Ở đây, này Mahānāma, có người có lòng nhứt hướng sùng tín đức Phật: “Ðây là là bậc Ứng Cúng, … ” … đối với Pháp … đối với chúng Tăng, không có trí tuệ hoan hỷ, không có trí tuệ tốc hành, không có thành tựu giải thoát. Vị này sau khi đoạn diệt ba kiết sử, thành bậc Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ. Người này, này Mahānāma, được giải thoát khỏi địa ngục … được giải thoát khỏi cõi dữ, ác thú, đọa xứ.
Vi-n 11 Ở đây, này Mahānāma, có người không có lòng nhứt hướng sùng tín đức Phật: “Ðây là bậc Ứng Cúng, … Thế Tôn.” … đối với Pháp, đối với chúng Tăng, không có trí tuệ hoan hỷ, không có trí tuệ tốc hành, không có thành tựu giải thoát, nhưng có những pháp này: Tín căn, tấn căn, niệm căn, định căn, tuệ căn. Và những pháp do Như Lai tuyên bố được thiểu phần kham nhẫn, quán sát với trí tuệ. Người này, này Mahānāma, không có địa ngục … không có đi đến cõi dữ, ác thú, đọa xứ.
Vi-n 12 Ở đây, này Mahānāma, có người không có lòng nhứt hướng sùng tín đối với đức Phật … đối với Pháp, đối với Tăng, không có thành tựu giải thoát, nhưng có những pháp này: Tín căn, tấn căn, tuệ căn, chỉ có lòng tin, lòng ái mộ đối với Như Lai. Người này, này Mahānāma, không có đi đến địa ngục … không có đi đến cõi dữ, ác thú, đọa xứ.
Vi-n 13 Ví như, này Mahānāma, có đám ruộng xấu, đám đất xấu, các gốc cây chưa được phá hủy, các hột giống bị bể nát, bị hư thối, bị gió nắng làm cho hư hại, không thể nẩy mầm, không khéo cấy trồng, và trời không mưa lớn thích hợp; thời các hột giống ấy có thể lớn, tăng trưởng, lớn mạnh không?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
—Cũng vậy, này Mahānāma, ở đây, pháp giảng kém, trình bày kém, không đưa đến xuất ly, không đưa đến an tịnh, không được một vị Chánh Ðẳng Giác thuyết giảng. Ta nói rằng pháp này như ở đám ruộng xấu. Vị đệ tử ấy sống trong pháp ấy, thực hiện pháp và tùy pháp, chơn chánh thực hành, hành trì đúng pháp. Như vậy, Ta nói rằng, người này giống như hột giống xấu.
Vi-n 14 Ví như, này Mahānāma, một đám ruộng tốt, đất tốt, các gốc khéo phá hủy, các hột giống không bị bể nát, không bị hư thối, gió nắng không làm hư hại, có thể nẩy mầm, khéo cấy, khéo trồng và trời mưa lớn thích hợp. Như vậy, các hột giống ấy có lớn lên, có tăng trưởng, có lớn mạnh không?
—Thưa có, bạch Thế Tôn.
—Cũng vậy, này Mahānāma, ở đây, pháp được khéo giảng, khéo trình bày, đưa đến xuất ly, đưa đến an tịnh, được bậc Chánh Ðẳng Giác thuyết giảng, Ta nói pháp này như đám ruộng tốt. Vị đệ tử sống trong pháp ấy, thực hành theo pháp và tùy pháp, chơn chánh thực hành, hành trì đúng pháp. Như vậy, Ta nói rằng người này như hột giống tốt, huống nữa là họ Thích Sarakàni. Này Mahānāma, họ Thích Sarakàni, khi mạng chung, đã làm viên mãn học giới.
Kapilavatthunidānaṁ.
Tena kho pana samayena saraṇāni sakko kālaṅkato hoti.
So bhagavatā byākato:
“sotāpanno avinipātadhammo niyato sambodhiparāyaṇo”ti.
Tatra sudaṁ sambahulā sakkā saṅgamma samāgamma ujjhāyanti khīyanti vipācenti:
“acchariyaṁ vata bho, abbhutaṁ vata bho.
Ettha dāni ko na sotāpanno bhavissati.
Yatra hi nāma saraṇāni sakko kālaṅkato.
So bhagavatā byākato:
‘sotāpanno avinipātadhammo niyato sambodhiparāyaṇo’ti.
Saraṇāni sakko sikkhāya aparipūrakārī ahosī”ti.
Atha kho mahānāmo sakko yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho mahānāmo sakko bhagavantaṁ etadavoca:
“Idha, bhante, saraṇāni sakko kālaṅkato.
So bhagavatā byākato:
‘sotāpanno avinipātadhammo niyato sambodhiparāyaṇo’ti.
Tatra sudaṁ, bhante, sambahulā sakkā saṅgamma samāgamma ujjhāyanti khīyanti vipācenti:
‘acchariyaṁ vata bho, abbhutaṁ vata bho.
Ettha dāni ko na sotāpanno bhavissati.
Yatra hi nāma saraṇāni sakko kālaṅkato.
So bhagavatā byākato—
sotāpanno avinipātadhammo niyato sambodhiparāyaṇoti.
Saraṇāni sakko sikkhāya aparipūrakārī ahosī’”ti.
“Yo so, mahānāma, dīgharattaṁ upāsako buddhaṁ saraṇaṁ gato dhammaṁ saraṇaṁ gato saṅghaṁ saraṇaṁ gato, so kathaṁ vinipātaṁ gaccheyya.
Yañhi taṁ, mahānāma, sammā vadamāno vadeyya:
‘dīgharattaṁ upāsako buddhaṁ saraṇaṁ gato dhammaṁ saraṇaṁ gato saṅghaṁ saraṇaṁ gato’, saraṇāniṁ sakkaṁ sammā vadamāno vadeyya.
Saraṇāni, mahānāma, sakko dīgharattaṁ upāsako buddhaṁ saraṇaṁ gato dhammaṁ saraṇaṁ gato saṅghaṁ saraṇaṁ gato, so kathaṁ vinipātaṁ gaccheyya.
Idha, mahānāma, ekacco puggalo buddhe ekantagato hoti abhippasanno—
itipi so bhagavā …pe… satthā devamanussānaṁ buddho bhagavāti.
Dhamme …pe…
saṅghe …pe…
hāsapañño javanapañño vimuttiyā ca samannāgato.
So āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharati.
Ayampi kho, mahānāma, puggalo parimutto nirayā parimutto tiracchānayoniyā parimutto pettivisayā parimutto apāyaduggativinipātā.
Idha pana, mahānāma, ekacco puggalo buddhe ekantagato hoti abhippasanno—
itipi so bhagavā …pe… satthā devamanussānaṁ buddho bhagavāti.
Dhamme …pe…
saṅghe …pe…
hāsapañño javanapañño na ca vimuttiyā samannāgato.
So pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā antarāparinibbāyī hoti, upahaccaparinibbāyī hoti, asaṅkhāraparinibbāyī hoti, sasaṅkhāraparinibbāyī hoti, uddhaṁsoto hoti akaniṭṭhagāmī.
Ayampi kho, mahānāma, puggalo parimutto nirayā parimutto tiracchānayoniyā parimutto pettivisayā parimutto apāyaduggativinipātā.
Idha pana, mahānāma, ekacco puggalo buddhe ekantagato hoti abhippasanno—
itipi so bhagavā …pe… satthā devamanussānaṁ buddho bhagavāti.
Dhamme …pe…
saṅghe …pe…
na hāsapañño na javanapañño na ca vimuttiyā samannāgato.
So tiṇṇaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā rāgadosamohānaṁ tanuttā sakadāgāmī hoti, sakideva imaṁ lokaṁ āgantvā dukkhassantaṁ karoti.
Ayampi kho, mahānāma, puggalo parimutto nirayā parimutto tiracchānayoniyā parimutto pettivisayā parimutto apāyaduggativinipātā.
Idha pana, mahānāma, ekacco puggalo buddhe ekantagato hoti abhippasanno—
itipi so bhagavā …pe… satthā devamanussānaṁ buddho bhagavāti.
Dhamme …pe…
saṅghe …pe…
na hāsapañño na javanapañño na ca vimuttiyā samannāgato.
So tiṇṇaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā sotāpanno hoti avinipātadhammo niyato sambodhiparāyaṇo.
Ayampi kho, mahānāma, puggalo parimutto nirayā parimutto tiracchānayoniyā parimutto pettivisayā parimutto apāyaduggativinipātā.
Idha pana, mahānāma, ekacco puggalo na heva kho buddhe ekantagato hoti abhippasanno …pe…
na dhamme …pe…
na saṅghe …pe…
na hāsapañño na javanapañño na ca vimuttiyā samannāgato;
api cassa ime dhammā honti—
saddhindriyaṁ …pe… paññindriyaṁ.
Tathāgatappaveditā cassa dhammā paññāya mattaso nijjhānaṁ khamanti.
Ayampi kho, mahānāma, puggalo agantā nirayaṁ agantā tiracchānayoniṁ agantā pettivisayaṁ agantā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ.
Idha pana, mahānāma, ekacco puggalo na heva kho buddhe ekantagato hoti abhippasanno …
na dhamme …pe…
na saṅghe …pe…
na hāsapañño na javanapañño na ca vimuttiyā samannāgato;
api cassa ime dhammā honti—
saddhindriyaṁ …pe… paññindriyaṁ.
Tathāgate cassa saddhāmattaṁ hoti pemamattaṁ.
Ayampi kho, mahānāma, puggalo agantā nirayaṁ agantā tiracchānayoniṁ agantā pettivisayaṁ agantā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ.
Seyyathāpi, mahānāma, dukkhettaṁ dubbhūmaṁ avihatakhāṇukaṁ, bījāni cassu khaṇḍāni pūtīni vātātapahatāni asārādāni asukhasayitāni, devo ca na sammā dhāraṁ anuppaveccheyya.
Api nu tāni bījāni vuddhiṁ virūḷhiṁ vepullaṁ āpajjeyyun”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Evameva kho, mahānāma, idha dhammo durakkhāto hoti duppavedito aniyyāniko anupasamasaṁvattaniko asammāsambuddhappavedito—
idamahaṁ dukkhettasmiṁ vadāmi.
Tasmiñca dhamme sāvako viharati dhammānudhammappaṭipanno sāmīcippaṭipanno anudhammacārī—
idamahaṁ dubbījasmiṁ vadāmi.
Seyyathāpi, mahānāma, sukhettaṁ subhūmaṁ suvihatakhāṇukaṁ, bījāni cassu akhaṇḍāni apūtīni avātātapahatāni sārādāni sukhasayitāni;
devo ca sammā dhāraṁ anuppaveccheyya.
Api nu tāni bījāni vuddhiṁ virūḷhiṁ vepullaṁ āpajjeyyun”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Evameva kho, mahānāma, idha dhammo svākkhāto hoti suppavedito niyyāniko upasamasaṁvattaniko sammāsambuddhappavedito—
idamahaṁ sukhettasmiṁ vadāmi.
Tasmiñca dhamme sāvako viharati dhammānudhammappaṭipanno sāmīcippaṭipanno anudhammacārī—
idamahaṁ subījasmiṁ vadāmi.
Kimaṅgaṁ pana saraṇāniṁ sakkaṁ.
Saraṇāni, mahānāma, sakko maraṇakāle sikkhāya paripūrakārī ahosī”ti.
Pañcamaṁ.
At Kapilavatthu.
Now at that time Sarakāni the Sakyan had passed away.
The Buddha declared that he was
a stream-enterer, not liable to be reborn in the underworld, destined for awakening.
At that, several Sakyans came together complaining, grumbling, and objecting,
“Oh lord, how incredible, how amazing!
Who can’t become a stream-enterer these days?
For the Buddha even declared Sarakāni to be a stream-enterer after he passed away.
Sarakāni didn’t fulfill the training.”
Then Mahānāma the Sakyan went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and told him what had happened. The Buddha said:
“Mahānāma, when a lay follower has for a long time gone for refuge to the Buddha, the teaching, and the Saṅgha, how could they go to the underworld?
And if anyone should rightly be said to
have for a long time gone for refuge to the Buddha, the teaching, and the Saṅgha, it’s Sarakāni the Sakyan.
Sarakāni the Sakyan has for a long time gone for refuge to the Buddha, the teaching, and the Saṅgha.
Take a certain individual who is sure and devoted to the Buddha …
the teaching …
the Saṅgha …
They have laughing wisdom and swift wisdom, and are endowed with freedom.
They realize the undefiled freedom of heart and freedom by wisdom in this very life. And they live having realized it with their own insight due to the ending of defilements.
This individual is exempt from hell, the animal realm, and the ghost realm. They’re exempt from places of loss, bad places, the underworld.
Take another individual who is sure and devoted to the Buddha …
the teaching …
the Saṅgha …
They have laughing wisdom and swift wisdom, but are not endowed with freedom.
With the ending of the five lower fetters, they’re extinguished between one life and the next … they’re extinguished upon landing … they’re extinguished without extra effort … they’re extinguished with extra effort … they head upstream, going to the Akaniṭṭha realm.
This individual, too, is exempt from hell, the animal realm, and the ghost realm. They’re exempt from places of loss, bad places, the underworld.
Take another individual who is sure and devoted to the Buddha …
the teaching …
the Saṅgha …
But they don’t have laughing wisdom or swift wisdom, nor are they endowed with freedom.
With the ending of three fetters, and the weakening of greed, hate, and delusion, they’re a once-returner. They come back to this world once only, then make an end of suffering.
This individual, too, is exempt from hell, the animal realm, and the ghost realm. They’re exempt from places of loss, bad places, the underworld.
Take another individual who is sure and devoted to the Buddha …
the teaching …
the Saṅgha …
But they don’t have laughing wisdom or swift wisdom, nor are they endowed with freedom.
With the ending of three fetters they’re a stream-enterer, not liable to be reborn in the underworld, destined for awakening.
This individual, too, is exempt from hell, the animal realm, and the ghost realm. They’re exempt from places of loss, bad places, the underworld.
Take another individual who isn’t sure or devoted to the Buddha …
the teaching …
the Saṅgha …
They don’t have laughing wisdom or swift wisdom, nor are they endowed with freedom.
Still, they have these qualities:
the faculties of faith, energy, mindfulness, immersion, and wisdom.
And they accept the teachings proclaimed by the Realized One after deliberating them with a degree of wisdom.
This individual, too, doesn’t go to hell, the animal realm, and the ghost realm. They don’t go to places of loss, bad places, the underworld.
Take another individual who isn’t sure or devoted to the Buddha …
the teaching …
the Saṅgha …
They don’t have laughing wisdom or swift wisdom, nor are they endowed with freedom.
Still, they have these qualities:
the faculties of faith, energy, mindfulness, immersion, and wisdom.
And they have a degree of faith and love for the Buddha.
This individual, too, doesn’t go to hell, the animal realm, and the ghost realm. They don’t go to places of loss, bad places, the underworld.
Suppose there was a barren field, a barren ground, with uncleared stumps. And you had seeds that were broken, spoiled, weather-damaged, infertile, and ill kept. And the heavens didn’t provide enough rain.
Would those seeds grow, increase, and mature?”
“No, sir.”
“In the same way, take a teaching that’s badly explained and badly propounded, not emancipating, not leading to peace, proclaimed by someone who is not a fully awakened Buddha.
This is what I call a barren field.
A disciple remains in such a teaching, practicing in line with that teaching, practicing it properly, living in line with that teaching.
This is what I call a bad seed.
Suppose there was a fertile field, a fertile ground, well-cleared of stumps. And you had seeds that were intact, unspoiled, not weather-damaged, fertile, and well-kept. And there’s plenty of rainfall.
Would those seeds grow, increase, and mature?”
“Yes, sir.”
“In the same way, take a teaching that’s well explained and well propounded, emancipating, leading to peace, proclaimed by someone who is a fully awakened Buddha.
This is what I call a fertile field.
A disciple remains in such a teaching, practicing in line with that teaching, practicing it properly, living in line with that teaching.
This is what I call a good seed.
Why can’t this apply to Sarakāni?
Mahānāma, Sarakāni the Sakyan fulfilled the training at the time of his death.”
Vi-n 1 Nhân duyên ở Kapilavatthu.
Vi-n 2-7. … (giống như đoạn số 2–7 kinh trên) …
Vi-n 8 —Nhưng ở đây, này Mahānāma, có người có lòng nhứt hướng sùng tín đức Phật: “Ðây là bậc Ứng Cúng … Phật, Thế Tôn” … đối với Pháp, đối với chúng Tăng, có trí tuệ hoan hỷ, có trí tuệ tốc hành, thành tựu giải thoát. Vị này sau khi đoạn diệt năm hạ phần kiết sử, chứng được Trung gian Bát-niết-bàn, chứng được Tổn hại Bát-niết-bàn, chứng được Vô hành Niết-bàn, chứng được Hữu hành Niết-bàn, chứng được Thượng lưu, sanh ở Sắc cứu cánh thiên. Người này, này Mahānāma, được giải thoát khỏi địa ngục … được giải thoát khỏi cõi dữ, ác thú, đọa xứ.
Vi-n 9 Ở đây, này Mahānāma, có người có lòng nhứt hướng sùng tín đức Phật: “Ðây là bậc Ứng Cúng … đối với Pháp … đối với chúng Tăng, không có trí huệ hoan hỷ, không có trí tuệ tốc hành, không có thành tựu giải thoát. Vị này sau khi đoạn diệt ba kiết sử, làm cho muội lược tham, sân, thành bậc Nhất Lai, chỉ một lần trở lui cõi đời này. Này Mahānāma, người này được giải thoát khỏi địa ngục … được giải thoát khỏi cõi dữ, ác thú, đọa xứ.
Vi-n 10 Ở đây, này Mahānāma, có người có lòng nhứt hướng sùng tín đức Phật: “Ðây là là bậc Ứng Cúng, … ” … đối với Pháp … đối với chúng Tăng, không có trí tuệ hoan hỷ, không có trí tuệ tốc hành, không có thành tựu giải thoát. Vị này sau khi đoạn diệt ba kiết sử, thành bậc Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ. Người này, này Mahānāma, được giải thoát khỏi địa ngục … được giải thoát khỏi cõi dữ, ác thú, đọa xứ.
Vi-n 11 Ở đây, này Mahānāma, có người không có lòng nhứt hướng sùng tín đức Phật: “Ðây là bậc Ứng Cúng, … Thế Tôn.” … đối với Pháp, đối với chúng Tăng, không có trí tuệ hoan hỷ, không có trí tuệ tốc hành, không có thành tựu giải thoát, nhưng có những pháp này: Tín căn, tấn căn, niệm căn, định căn, tuệ căn. Và những pháp do Như Lai tuyên bố được thiểu phần kham nhẫn, quán sát với trí tuệ. Người này, này Mahānāma, không có địa ngục … không có đi đến cõi dữ, ác thú, đọa xứ.
Vi-n 12 Ở đây, này Mahānāma, có người không có lòng nhứt hướng sùng tín đối với đức Phật … đối với Pháp, đối với Tăng, không có thành tựu giải thoát, nhưng có những pháp này: Tín căn, tấn căn, tuệ căn, chỉ có lòng tin, lòng ái mộ đối với Như Lai. Người này, này Mahānāma, không có đi đến địa ngục … không có đi đến cõi dữ, ác thú, đọa xứ.
Vi-n 13 Ví như, này Mahānāma, có đám ruộng xấu, đám đất xấu, các gốc cây chưa được phá hủy, các hột giống bị bể nát, bị hư thối, bị gió nắng làm cho hư hại, không thể nẩy mầm, không khéo cấy trồng, và trời không mưa lớn thích hợp; thời các hột giống ấy có thể lớn, tăng trưởng, lớn mạnh không?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
—Cũng vậy, này Mahānāma, ở đây, pháp giảng kém, trình bày kém, không đưa đến xuất ly, không đưa đến an tịnh, không được một vị Chánh Ðẳng Giác thuyết giảng. Ta nói rằng pháp này như ở đám ruộng xấu. Vị đệ tử ấy sống trong pháp ấy, thực hiện pháp và tùy pháp, chơn chánh thực hành, hành trì đúng pháp. Như vậy, Ta nói rằng, người này giống như hột giống xấu.
Vi-n 14 Ví như, này Mahānāma, một đám ruộng tốt, đất tốt, các gốc khéo phá hủy, các hột giống không bị bể nát, không bị hư thối, gió nắng không làm hư hại, có thể nẩy mầm, khéo cấy, khéo trồng và trời mưa lớn thích hợp. Như vậy, các hột giống ấy có lớn lên, có tăng trưởng, có lớn mạnh không?
—Thưa có, bạch Thế Tôn.
—Cũng vậy, này Mahānāma, ở đây, pháp được khéo giảng, khéo trình bày, đưa đến xuất ly, đưa đến an tịnh, được bậc Chánh Ðẳng Giác thuyết giảng, Ta nói pháp này như đám ruộng tốt. Vị đệ tử sống trong pháp ấy, thực hành theo pháp và tùy pháp, chơn chánh thực hành, hành trì đúng pháp. Như vậy, Ta nói rằng người này như hột giống tốt, huống nữa là họ Thích Sarakàni. Này Mahānāma, họ Thích Sarakàni, khi mạng chung, đã làm viên mãn học giới.
Kapilavatthunidānaṁ.
Tena kho pana samayena saraṇāni sakko kālaṅkato hoti.
So bhagavatā byākato:
“sotāpanno avinipātadhammo niyato sambodhiparāyaṇo”ti.
Tatra sudaṁ sambahulā sakkā saṅgamma samāgamma ujjhāyanti khīyanti vipācenti:
“acchariyaṁ vata bho, abbhutaṁ vata bho.
Ettha dāni ko na sotāpanno bhavissati.
Yatra hi nāma saraṇāni sakko kālaṅkato.
So bhagavatā byākato:
‘sotāpanno avinipātadhammo niyato sambodhiparāyaṇo’ti.
Saraṇāni sakko sikkhāya aparipūrakārī ahosī”ti.
Atha kho mahānāmo sakko yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho mahānāmo sakko bhagavantaṁ etadavoca:
“Idha, bhante, saraṇāni sakko kālaṅkato.
So bhagavatā byākato:
‘sotāpanno avinipātadhammo niyato sambodhiparāyaṇo’ti.
Tatra sudaṁ, bhante, sambahulā sakkā saṅgamma samāgamma ujjhāyanti khīyanti vipācenti:
‘acchariyaṁ vata bho, abbhutaṁ vata bho.
Ettha dāni ko na sotāpanno bhavissati.
Yatra hi nāma saraṇāni sakko kālaṅkato.
So bhagavatā byākato—
sotāpanno avinipātadhammo niyato sambodhiparāyaṇoti.
Saraṇāni sakko sikkhāya aparipūrakārī ahosī’”ti.
“Yo so, mahānāma, dīgharattaṁ upāsako buddhaṁ saraṇaṁ gato dhammaṁ saraṇaṁ gato saṅghaṁ saraṇaṁ gato, so kathaṁ vinipātaṁ gaccheyya.
Yañhi taṁ, mahānāma, sammā vadamāno vadeyya:
‘dīgharattaṁ upāsako buddhaṁ saraṇaṁ gato dhammaṁ saraṇaṁ gato saṅghaṁ saraṇaṁ gato’, saraṇāniṁ sakkaṁ sammā vadamāno vadeyya.
Saraṇāni, mahānāma, sakko dīgharattaṁ upāsako buddhaṁ saraṇaṁ gato dhammaṁ saraṇaṁ gato saṅghaṁ saraṇaṁ gato, so kathaṁ vinipātaṁ gaccheyya.
Idha, mahānāma, ekacco puggalo buddhe ekantagato hoti abhippasanno—
itipi so bhagavā …pe… satthā devamanussānaṁ buddho bhagavāti.
Dhamme …pe…
saṅghe …pe…
hāsapañño javanapañño vimuttiyā ca samannāgato.
So āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharati.
Ayampi kho, mahānāma, puggalo parimutto nirayā parimutto tiracchānayoniyā parimutto pettivisayā parimutto apāyaduggativinipātā.
Idha pana, mahānāma, ekacco puggalo buddhe ekantagato hoti abhippasanno—
itipi so bhagavā …pe… satthā devamanussānaṁ buddho bhagavāti.
Dhamme …pe…
saṅghe …pe…
hāsapañño javanapañño na ca vimuttiyā samannāgato.
So pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā antarāparinibbāyī hoti, upahaccaparinibbāyī hoti, asaṅkhāraparinibbāyī hoti, sasaṅkhāraparinibbāyī hoti, uddhaṁsoto hoti akaniṭṭhagāmī.
Ayampi kho, mahānāma, puggalo parimutto nirayā parimutto tiracchānayoniyā parimutto pettivisayā parimutto apāyaduggativinipātā.
Idha pana, mahānāma, ekacco puggalo buddhe ekantagato hoti abhippasanno—
itipi so bhagavā …pe… satthā devamanussānaṁ buddho bhagavāti.
Dhamme …pe…
saṅghe …pe…
na hāsapañño na javanapañño na ca vimuttiyā samannāgato.
So tiṇṇaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā rāgadosamohānaṁ tanuttā sakadāgāmī hoti, sakideva imaṁ lokaṁ āgantvā dukkhassantaṁ karoti.
Ayampi kho, mahānāma, puggalo parimutto nirayā parimutto tiracchānayoniyā parimutto pettivisayā parimutto apāyaduggativinipātā.
Idha pana, mahānāma, ekacco puggalo buddhe ekantagato hoti abhippasanno—
itipi so bhagavā …pe… satthā devamanussānaṁ buddho bhagavāti.
Dhamme …pe…
saṅghe …pe…
na hāsapañño na javanapañño na ca vimuttiyā samannāgato.
So tiṇṇaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā sotāpanno hoti avinipātadhammo niyato sambodhiparāyaṇo.
Ayampi kho, mahānāma, puggalo parimutto nirayā parimutto tiracchānayoniyā parimutto pettivisayā parimutto apāyaduggativinipātā.
Idha pana, mahānāma, ekacco puggalo na heva kho buddhe ekantagato hoti abhippasanno …pe…
na dhamme …pe…
na saṅghe …pe…
na hāsapañño na javanapañño na ca vimuttiyā samannāgato;
api cassa ime dhammā honti—
saddhindriyaṁ …pe… paññindriyaṁ.
Tathāgatappaveditā cassa dhammā paññāya mattaso nijjhānaṁ khamanti.
Ayampi kho, mahānāma, puggalo agantā nirayaṁ agantā tiracchānayoniṁ agantā pettivisayaṁ agantā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ.
Idha pana, mahānāma, ekacco puggalo na heva kho buddhe ekantagato hoti abhippasanno …
na dhamme …pe…
na saṅghe …pe…
na hāsapañño na javanapañño na ca vimuttiyā samannāgato;
api cassa ime dhammā honti—
saddhindriyaṁ …pe… paññindriyaṁ.
Tathāgate cassa saddhāmattaṁ hoti pemamattaṁ.
Ayampi kho, mahānāma, puggalo agantā nirayaṁ agantā tiracchānayoniṁ agantā pettivisayaṁ agantā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ.
Seyyathāpi, mahānāma, dukkhettaṁ dubbhūmaṁ avihatakhāṇukaṁ, bījāni cassu khaṇḍāni pūtīni vātātapahatāni asārādāni asukhasayitāni, devo ca na sammā dhāraṁ anuppaveccheyya.
Api nu tāni bījāni vuddhiṁ virūḷhiṁ vepullaṁ āpajjeyyun”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Evameva kho, mahānāma, idha dhammo durakkhāto hoti duppavedito aniyyāniko anupasamasaṁvattaniko asammāsambuddhappavedito—
idamahaṁ dukkhettasmiṁ vadāmi.
Tasmiñca dhamme sāvako viharati dhammānudhammappaṭipanno sāmīcippaṭipanno anudhammacārī—
idamahaṁ dubbījasmiṁ vadāmi.
Seyyathāpi, mahānāma, sukhettaṁ subhūmaṁ suvihatakhāṇukaṁ, bījāni cassu akhaṇḍāni apūtīni avātātapahatāni sārādāni sukhasayitāni;
devo ca sammā dhāraṁ anuppaveccheyya.
Api nu tāni bījāni vuddhiṁ virūḷhiṁ vepullaṁ āpajjeyyun”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Evameva kho, mahānāma, idha dhammo svākkhāto hoti suppavedito niyyāniko upasamasaṁvattaniko sammāsambuddhappavedito—
idamahaṁ sukhettasmiṁ vadāmi.
Tasmiñca dhamme sāvako viharati dhammānudhammappaṭipanno sāmīcippaṭipanno anudhammacārī—
idamahaṁ subījasmiṁ vadāmi.
Kimaṅgaṁ pana saraṇāniṁ sakkaṁ.
Saraṇāni, mahānāma, sakko maraṇakāle sikkhāya paripūrakārī ahosī”ti.
Pañcamaṁ.